1 - Bước qua năm 1970, những cuộc xâm nhập của SOG ( đơn vị chuyên về hành quân Biệt-kích ) bằng trực thăng gặp nhiều khó khăn, hay phải nói...xưa như trái đất!  Yếu tố bất ngờ, nhanh chóng thực hiện xâm nhập bằng trực thăng không còn được kết quả như trước, khi mà địch quân đã có những biện pháp chống lại. Đơn vị chống Biệt-kích của Bắc-việt càng ngày càng tỏ ra hoạt động hữu hiệu, nguy hiểm và thành công. Ý tưởng xâm nhập ban đêm đang được nói đến nhưng các trực thăng không được an toàn khi đáp. Chỉ còn cách nhẩy dù xuống mục tiêu. Nhưng nó đòi hỏi phải có những nhân lực hảo hạng.
          -Chỉ huy trưởng mới của SOG lúc này là Đại-tá John Sadler. Ông ta là người rất am hiểu về kỹ thuật nhầy dù và Skydiving ( dù cánh dơi lướt gió ) Thuật ngữ quân sự gọi là HALO ( High Altitude Low Opening ) Nhẩy dù ở độ cao 10.000 bộ ( 3.050 mét ) Đề rơi tự do, khi còn cách mặt đất khoảng 1.000 hay 2.000 bộ ( 305- 610 mét ) rồi mở dù lái đến mục tiêu. Quân đội Việt nam Cộng hòa chỉ có một số ít, thường là Huấn luyện viên Nhảy dù biết cách nhẩy loại này mà người ta gọi là Nhảy-dù điều khiển.
           -Giữa năm 1970 Đại-tá Sadler ra lệnh thành lập Toán HALO đầu tiên tại CCN. Toán Virginia (Toán Mỹ, người Thượng) được chọn gồm có ba Biệt kích người Mỹ, hai người Thượng và một sĩ quan Lôi-hổ Nha kỹ thuật...Toán lấy tên là Florida...được đưa sang Liên đoàn Biệt kích số 1 của Quân đội Mỹ đóng tại Okinawa (Nhật bản) để bí mật huấn luyện. Chương trình huấn luyện Toán HALO bắt đầu lên khung. Tại trại CCN, song song với phần đông là các Toán Mỹ...có tám Toán Việt-nam tại trại do những cán bộ Nha-kỹ-thuật chỉ huy và phối hợp trong chương trình OP 35 của SOG (hành quân Biệt-kích đặc trách đường mòn Hồ chí minh) Được lệnh tuyển chọn và thành lập Toán Dù điều khiển (HALO) đầu tiên thụ huấn tại Trung tâm huấn luyện Biệt-kích Long-thành gồm có một Sĩ quan Lôi-hổ và năm Biệt-kích quân (SCU) Special Commando Unit được người Mỹ chuyển giao cho Nha-kỹ-thuật chỉ huy. Rất tiếc trong khóa học người Sĩ quan thiệt mạng vì dù không bung. Chương trình bị trở ngại vì thiếu người chỉ huy dù rằng năm Biệt kích quân cũng đã xong khóa học.
              -Chiến cuộc có những bất lợi do sự rút quân của quân đội Mỹ. Quân đội Việt-nam-cộng-hòa không đủ sức trám vào những khoảng trống chiến thuật được người Mỹ chuyển giao. Trong khi quân Bắc-việt ồ ạt xâm nhập và phát triển hệ thống đường tiếp tế, xây dựng thêm các căn cứ chiến lược dọc theo biên giới Việt, Lào...trước sự bỏ ngỏ của Không-quân Mỹ.  Lúc này...SOG phải chiến đấu trong đơn độc. Mọi trợ cấp bị cắt dần dần...ngoài những gì hiện đang có. Đứng trước những khó khăn hiện tại thêm vào quân đối phương biết cách đề phòng và bố trí lực lượng đối phó đã đem lại cho SOG những trở ngại lớn lao kèm theo tốn thất đáng kể về nhân mạng. Đầu năm 1971. Trại được đổi tên mới ... Lực lượng đặc nhiêm 1 (TASK FORCE 1) thay cho tên cũ ...Sở chỉ huy Bắc (CCN)  Cùng với lệnh các Toán thám sát Mỹ không được phép xâm nhập qua Lào, Căm-bốt. Chỉ được hoạt động trong nội địa Việt-nam. Đúng ý của chương trình " Việt-nam hóa chiến tranh" tiết kiệm xương máu lính Mỹ!  Để duy trì hoạt động ngoại biên, SOG đã xử dụng các Toán Lôi-hổ Nha-kỹ-thuật vào những mục tiêu tại Lào, Căm-bốt. Đó cũng chính là sự hãnh diện cho đơn vị Biệt-kích trên chiến trường theo đúng nghĩa.
            - Chiếc C47 của hãng vận chuyển Air America từ Đà-nẵng đưa chúng tôi lên Kontum. Vừa xuống phi trường tôi mừng rỡ vì người đón chúng tôi lại là Đại-úy Đại đội trưởng (A Company- Hatchet Force) trước kia ở CCN mà tôi, lúc ấy là Thông dịch cho ông. Tây-nguyên mùa này nắng nóng cuối Hè. Xe Jeep chở chúng tôi vừa ra khỏi tỉnh lỵ. Những đám mây đen lốm đốm dần trôi, chẳng tạo được cơn mưa trong cái nóng hầm hập của thời tiết gần trưa. Ba chúng tôi nằm trong số người đã huấn luyện Nhẩy-dù điều khiển (HALO) được lệnh lên Kontum (TASK FORCE 2) trước kia là CCC...phối hợp công tác. Lần đầu tiên lên đây tôi rất ngạc nhiên vì con quốc lộ dẫn vào tỉnh lỵ như bổ đôi căn cứ Biệt-kích...giống một nút chặn vững vàng bảo vệ cửa ngõ ra vào Tỉnh. Sau ba ngày thực tập chiến thuật và nhẩy hai sô dù đêm. Toán HALO phối hợp đã sẵn sàng gồm ba người Mỹ, ba người Việt-nam. Toán trưởng là Đại-úy cùng hai Trung-sĩ Toán phó. Lực lượng đặc biệt Mỹ. Mọi đồ đoàn đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Toán lên xe lúc trời vừa tối để ra phi trường. Cơn gió mát lạnh từ dòng sông Dak Bla hiếm hoi thổi tung chiếc khăn ngụy trang trên cổ lên mặt làm tôi có cảm giác xa lạ mênh mông trước những gì sắp xẩy ra.

 Phi cơ của Air America (Long Tiếng)

2- Phần đồ đoàn cuối cùng...chiếc ba lô đã được gài vào vị trí dưới cái dù bụng...cây Car 15 thắt bên hông. Con người trở nên nặng nề, dệnh dạng đi ra phía sau đuôi phi cơ...chiếc MC 130 (Blackbird) Dưới ánh đèn sáng từng cặp mắt sau tấm kính trong bộ phận mũ che chắn đầu mặt, kiểm soát lẫn cho nhau. Vị sĩ quan nhiệm vụ thả Toán được lệnh trong chiếc mũ bay ra hiệu cho Toán sẵn sàng...còn hai phút nữa. Cửa phi cơ đã mở. Gió mạnh hồng hộc thổi vào nhưng tôi không cảm thấy lạnh như lúc cửa còn đóng. Đèn xanh đã được bật lên kèm theo tiếng hô của viên sĩ quan thả Toán. Chúng tôi đi vào không trung.

          -Phản ứng tự nhiên tôi nhanh chóng lấy được thế bay. Đưa mắt nhìn xuống đã thấy đốm sáng lân tinh trên lưng người Trưởng Toán...đang chếch về mé trái. Lồng ngực bỗng trì nặng và tôi biết là mình đang trong đám mây. Xoãi tay trái xa thêm, tôi điều khiển thân mình vùn vụt bay theo điểm sáng lân tinh nhưng không xa quá tay để bảo đảm thân mình không bị lật hoặc chúi đầu! Trời đêm tối đen ngòm trừ ánh sáng đốm nhỏ lân tinh phía dưới. Nhìn đồng hồ cao độ tôi chuẩn bị nghe tiếng báo động trong hai tai...âm thanh tiếng reng nổi lên. Gồng hai tay, cụp dần vào hai vai...tay phải đã chạm chốt mở dù, tôi giật ra trong lúc toàn thân theo cái đầu chúi lao xuống...Tích tắc con người như được giữ lại rồi êm đềm tung lên trong lòng sung sướng vì dù đã mở và đưa mắt tìm hai dây lái. Nhìn đồng hồ đeo tay để xác định thời gian và đưa mắt tìm ánh sáng của Toán trưởng...lần này ở phía phải. Kéo dây lái căn hướng gió. Tôi cụp cánh dù dây lái tay phải bay theo điểm lân tinh khi mờ khi tỏ bên dưới. Đống hồ đeo tay đã chỉ gần hai phút tính từ lúc dù mở. Tôi tập trung chuẩn bị đáp đất. Hai tay kéo cụp dù, gống hai chân chụm bằng nhau tôi chờ đợi cú va chạm đầu tiên để bung dù nhằm làm giảm sức rơi. Nhìn bên dưới đêm đen như đen thêm và rồi soạt soạt...tôi vội bung dù hai tay co lại che chắn đầu. Thân mình va chạm vào cành cây, tai cũng đã nghe tiếng cây gẫy. Tiếng phịch vang lên rồi toàn thân ngã ngồi trên đất. Một cái gì đó làm đau nhói ở vai trái...nhìn đồng hồ đã ba giờ, năm phút sáng. Việc đầu tiên tháo cây Car 15 bên hông và vẫn nằm yên nghe ngóng động tĩnh. Loài chim ăn đêm kêu réo cùng tiếng côn trùng nỉ non xa vắng. Qua khoảng trống trên tầng cây bầu trời đầy sao . Tôi lần tháo chiếc ba lô, cái dù bụng và những đai dù chính. Một ý tưởng ngộ nghĩnh...tôi như một chiến binh mới vừa xâm nhập bằng trực thăng xuống mục tiêu! Công việc trước mắt kéo cái dù xuống cũng may nó không mắc dính trên cây và tìm cách chôn dấu. Gió đưa cái lạnh bất chợt với cơn thèm một điếu thuốc rạo rực. Tôi chặc lưỡi trùm cái dù nhẩy qua đầu tự thưởng cho mình một điếu thuốc...cơn thèm đã cho cảm giác tuyệt vời và quên đời một chốc. Thoải mái xong...bắt đầu đào đất bằng dao găm đi rừng để phi tang cái dù trong tiếng gà gáy dồn dập báo hiệu trời sắp sáng. Rắc lên vài vốc lá khô, tự mãn xoa tay cùng ánh sáng mờ mờ thấy cả làn sương bay bay. Tôi lấy ra chiếc máy...bật mở để tìm Toán trưởng. Đây rồi theo mũi tên chỉ và khoảng cách hiện lên 250 mét. Tôi theo máy di chuyển. Rừng cây chồi non nhưng chằng chịt dây leo cản trở. Bóng của một cây cổ thụ mờ trong sương sớm nhưng chẳng phải là hướng trong máy dò. Những giọt sương trên lá thấm dần trên khăn ngụy trang và hai vai. Khoảng cách trong máy được kéo xuống còn 150 mét. Một vài tiếng súng nổ về hướng Nam cách không mấy xa. Địch đi săn...tiếng bắn không phải là truyền tin hay báo hiệu gì đó, đúng hơn là hạ gục một con thú!  Con trăng  mỏng dính xuất hiện từ lúc nào bên cạnh một ngôi sao sáng long lanh lấp lánh. Đàn chim ăn đêm tham ăn về muộn kêu réo hay nói chuyện với nhau vang vang đáp xuống tàng cây cổ thụ phía sau. Tôi chợt rùng mình trong cảm giác lẻ loi hay bởi cơn gió lạnh đang mơn man trên gương mặt đẫm sương. Tiếng của đàn chim đêm vẫn gơị mở hình ảnh quái dị, ma chơi...thần hồn nát thần vía!  Xua tan những vẩn vơ tôi nhìn vào máy. Con số 80, còn 60 mét nữa...số 20 trong máy là con số ấn định của Trưởng-toán để dừng lại.  Giữ cái "máy mẹ" Toán trưởng biết hết mọi khoảng cách và hướng đến của những "máy con" Ông ta chỉ việc ngồi cố định một chỗ để tiếp nhận dần Toán viên của mình. Khoảng cách 20 mét được ấn định để trao đổi mật khẩu nhằm tránh là quân địch. Nhìn vào máy, tôi qua khỏi bụi lau ngồi chờ đợi... "Juliet" tôi vội đáp ngay mật khẩu "Romeo" Rồi tiếng "vào đi" của Toán trưởng ở phía trước.

 Căn cứ Air America (CIA)

  3- Nét mặt hớn hở và câu nói "vào đi" lần này của Đại-úy Toán trưởng đã kết thúc tốt đẹp, thành công chuyến xâm nhập khi người Toán viên cuối cùng tụ tập. Nắng cũng đã nhấp nhô trên đỉnh núi. Rừng cây thưa toàn chối non quá đầu người. Toán viên nhiệm vụ đi đầu (Point man) đang căn lại địa bàn chuẩn bị. Toán theo đội hình định sẵn bắt đầu di chuyển. Tiếng chim trên cành cây cao líu lo bên hông và đàn vắt đã xuất hiện dưới lá cây mục. Đại úy đi hàng thứ hai, trước tôi ra lệnh dừng lại khi nghe tiếng Covey đang đến. Toán phó người Mỹ đi đoạn hậu đang cầm chiếc gương chiếu lấy ánh sáng sẵn sàng ra hiệu cho máy bay (Covey) cạnh người xạ thủ M79 (Biệt kích quân người Việt) và sau tôi Toán phó người Mỹ phụ trách truyền tin (Radio man) đang liên lạc...Covey ở trên đầu có lẽ đã nhận xong vị trí Toán bằng gương chiếu và Đại úy đang ghi chép tọa độ Toán do Covey thông báo. Khác với xâm nhập bằng trực thăng bãi thả đã được ấn định chính xác cho thuyết trình hành quân. Nhưng với bằng dù sự chêch lệch tọa độ buộc phải có và xác định lại tọa độ là điều cần thiết. Toán tiếp tục di chuyển. Covey cũng đã ra khỏi vùng. Nắng chan hòa và tầng mây trắng phau như càng lúc càng cao! Khu rừng trước mặt xanh mờ sương lam đầy bí ẩn nhưng bên này khu rừng lau trổ cờ trong gió bạc một mầu nghiêng ngả nhảy múa cùng nắng vàng chan chứa! Không gian yên ả trừ lũ chim trên tàn cây cao đứng lẻ loi bên cạnh tảng đá nổi lên như lưng Trâu. Người đi đầu mồ hôi nhỏ giọt rất vất vả vì cây dây leo. Thi thoảng Đại úy cũng phải thay thế dẫn đường. Đàn vắt dưới chân lau nhau ngửi mồi nhưng chẳng làm gì được vì chúng tôi toàn thân kín bưng trừ ra khuôn mặt nhưng đầy thuốc trừ muỗi. Tôi bỗng tiếc cho bộ Dù nhẩy...đúng là đánh giặc theo kiểu nhà giầu cũng khác!
             -Rừng cây cao, tối hun hút. Tôi như đi vào đường hầm gió lùa và lạnh lẽo. Nửa ngày chúng tôi đánh vật với khu rừng chồi chằng chịt những dây leo. Vạt rừng lau bên cạnh dễ đi nhưng không phải là hướng di chuyển vào mục tiêu. Tiếng kêu của thú rừng vòng vọng và đàn khỉ chí chóe trên cành như lạ lẫm nhìn chúng tôi. Bữa ăn quá trưa cũng đã xong. Đại úy căn lại bản đồ để lấy hướng đi. Ngồi bên cạnh, tôi nghe ông nói...còn khoảng năm cây số nữa!  Mục tiêu con đường có đường dây điện thoại mà một Toán thám sát đã báo cáo. Nhiệm vụ chúng tôi tiếp cận con đường tìm đường dây điện thoại để đặt máy thu mọi cuộc điện đàm và bắt tù binh nếu có thể. Trung sĩ truyền tin ngồi sau. Tôi nhìn và phì cười khi anh ta cố mò trong mông, lôi ra con vắt căng đầy máu trên tay. Cái mẹo mà khi còn ở Trung đội Thượng (Hatchet Force) trước khi vào rừng cứ kín đáo xoay lưng rồi ngắt bất cứ chiếc lá nào...nhai trong miệng cho nát rồi vất đi...có thể tránh được lũ vắt tấn công...nhưng theo tôi đã thực hiện nhiều chuyến...có hiệu quả đấy, trừ những con vắt tham, đói ăn điếc không sợ súng. Cách tốt nhất vẫn là áo quần kín bưng, tay và mặt luôn bôi thuốc trừ muỗi. Covey vừa bay ngang rồi biến mất như nhắc Toán...có tao đây! Chúng tôi đang xuống một con dốc thoải nhưng trước mắt là dẫy đồi cao. Thế đất như người ta gấp một tờ giấy. Mặt trời chiếu nghiêng, ánh nắng lung linh trên tàn cây, âm thanh xào xạc lắm khi rít lên cùng gió và gió chỉ đi qua không xuống được chỗ chúng tôi. Một tiếng súng nổ rất gần rồi liên tiếp hai phát như bắn vào Toán. Tôi sững người nhìn quanh...không có ai trúng đạn nhưng tự nhiên ngồi thụp cả xuống. Tiếng hú cất lên và giờ đây tôi đã xác định được vị trí tiếng súng. Có một tiếng hú ở xa hơn đáp lại. Tất cả đều nằm mé tay mặt của hướng di chuyển...cách chúng tôi chỉ khoảng hai, ba mươi mét.  "hú...heo rừng...đến đây, gánh về...hú hú" Toán ngồi yên chờ đợi diễn tiến. Nhìn quanh tôi đã thấy tự động từ lúc nào mỗi người chọn một gốc cây sẵn sàng. Thời gian qua đi, rừng trở lại thanh vắng. Toán di chuyển đang qua cái đồi nhìn xuống khe trải dài hun hút. Tiếng của con chim đất lạnh lùng kêu khắc khoải như muốn dẫn chúng tôi vào sâu...nhưng thật ma quái!  Ánh nắng đã khuất, qua khoảng trống bầu trời có tí ửng hồng trên tầng mây. Địa thế khác lạ với những cụm tre to lớn theo gió vặn mình răng rắc và ngọn ngả ngớn trên cao. Bên những bụi chuối có buồng chín còn một nửa bu đầy ong ruồi chưa biết thế nào là đêm tối. Đường dễ đi nhưng ẩm. Cây vừa đủ để che chắn hành tung. Toán dừng lại dựa lưng vào tảng đá chuẩn bị cho bữa cơm chiều rồi tìm chỗ ngủ đêm.

4-Choàng tỉnh trong mơ màng giấc ngủ. Tự nhiên tôi nhìn đồng hồ...tám giờ tối. Đã có tiếng cụ cựa trở mình của đồng đội. Động cơ xe lớn dần và gấp gáp như thử sức! Nó đang ở hướng Tây đúng hướng mục tiêu của chúng tôi. Tiếng người lao xao cùng tiếng động cơ náo động. Bản giao hưởng đêm rừng thêm mới với tiếng động cơ âm trầm cùng láo nháo tiếng người vang vang và quanh quanh côn trùng nỉ non lan xa hòa điệu. Một công trường khởi động hay đoàn xe thức giấc chuyển mình? Phải đợi thôi!  Mọi người chắc cũng như tôi đều thức dậy và lắng xem hoặc đang ước lượng khoảng cách? Một tiếng thú kêu rống như xé toạc không gian tiếp theo là giọng gầm gừ như đối nhau càng lúc càng to rồi thét vang...bỗng chốc mất hút trong đêm. Tiếng của đoàn xe đi xa để lại lao xao tiếng người như dần xa vắng. Nghĩ trong bụng, đoán chỉ là trạm vận chuyển. Đêm cháy dần như ngọn nến, tôi cố nhớ đến bầu trời xanh ngắt và sâu thẳm mênh mông...mênh mông...để dỗ dành lại giấc ngủ.
          -Có một thứ gì đang đi tới...tiếng động cây lá và bước chân nhịp nhàng quanh tiếng gà gáy vang. Trời đã sáng nhưng chưa rõ hẳn trong làn sương mù giăng găng, giơ tay lên mặt là chạm phải nhất là ở hàng mi. Mẩu C4 đang nấu nước cháy hết tạm ngừng. Một con chim lợn xà xuống thấp kêu thét một tiếng nghe rờn rợn. Nhìn những gương mặt căng thẳng tay lăm lăm trên cò súng trong thế ngồi dã chiến. Tôi bỗng phân định ra cái sự gì đó đang đến quyết không phải là địch quân!  Nhưng toàn thân cũng nóng lên theo từng bước chân căng thẳng. Thời gian như doãi ra rồi ngừng lại cùng một sự yên lặng chợt đến thật khó hiểu...Tiếng khịt khịt vang lên nhanh chóng đánh tan bầu khí căng thẳng cùng mọi cái thở phào nhẹ nhõm. Rồi từ bụi cây một con heo đen xì cái đầu đưa qua đưa về ngẩng lên nhìn chúng tôi. Nó đứng đó như khách xa lạ một lúc nhìn ngổ ngáo rồi tẽ ngang đi mất.  Mẹ kiếp...sáng sớm đã dợt hộp!  Cơn gió nhẹ bay cùng làn sương nổi hột làm cơn thèm cà phê chợt đến. Ngọn lửa C4 đang làm sôi ca nước...việc cấn thiết cho cái bao tử trong một ngày...đổ nước nóng vào hai bịch gạo sấy  và nhâm nhi cà phê cùng thưởng thức điếu thuốc lá...thổi khói vào chiếc áo đi mưa để sát đất. Rừng yên lặng chỉ còn tiếng chim. Sương mù tự nhiên kéo đi đâu thật lẹ, chỉ còn những mảng mỏng luẩn quẩn bên vạt cây lá từng giọt đếm trên đất. Hai người Biệt kích Việt vừa gỡ xong mìn phòng thủ. Toán di chuyển.
           -Con đường chắn ngang. Tôi được lệnh theo Đại-úy lên thám sát. Đường nhỏ hẹp có dấu bánh xe đạp đi lõm hai bên nhưng bên này sâu hơn. Chứng tỏ địch vận chuyển thồ hàng từ hướng Đông sang Tây rồi lại dắt xe đi bộ trở về. Tôi được lệnh vượt qua đường sau khi đã lấy ít lá cây rụng lấp bên trên tạo thành một lối đi tránh để lại dấu vết. Toán phó, người cuối cùng vừa sang đang ngồi xóa dấu và gài lại trái mìn M14 chống theo dõi. Tiếng Covey ì ì đang lên vùng. Một mảng trời trong xanh bên cạnh khoảng mây trắng đùn từ dưới lên cao. Mặt trời đứng khựng trên tàn cây như cố xuyên thủng lớp sương mù đang muốn thoát khỏi sức hút của đất và cây rừng. Toán dừng lại bên một gốc cổ thụ có những dây leo to như cổ đùi rũ xuống. Đàn khỉ thấy người đang dáo dác trên cành và to nhỏ gì đó. Người Mỹ truyền tin liên lạc Covey...đọc mật mã chuyển bức điện. Sự cô đơn của rừng đầy kỳ bí và lạnh lùng! Toán tiếp tục di chuyển để lại đàn vắt như tiếc rẻ con mồi...lồm ngồm dưới lớp lá rụng dầy. Một mùi hương hoa thoang thoảng, tôi bất chợt nhìn lên tàn cây. Mầu hoa tím nhạt đua lay trong gió dịu hiền bên lá xanh phơn phớt...hoa gấp bội lần lá! Đại úy mới vừa trượt chân, tôi phải ghìm người lại, đơn giản là chúng tôi đang xuống con dốc. Nắng ở trên cao nhưng không thể xuyên rừng xuống được đất. Buổi sáng đi qua thật lẹ...tôi đã cảm thấy đói bụng. Những bước chân khám phá cũng đã mỏi...dù sao cũng cần phải tiếp thêm năng lượng. Đại úy quay lại nhìn tôi rồi nhìn đồng hồ tay chỉ vào bụng, ý muốn hỏi có mệt, đói không? Tôi cười đưa tay ra hiệu...Ông và tôi sức vóc không bằng nhau! Nhưng dù sao tôi biết chắc rằng cũng phải qua khỏi con dốc trước mặt...chỗ nghỉ quân phải có địa thế tác chiến tốt. Luồng gió từ khe sâu giống như hơi thở của rừng luôn lạnh lẽo, âm u và huyền bí! Một tiếng súng nổ ở hướng Tây...địch đang báo hiệu gì đó hay là một mệnh lệnh trong khu vực? Nó đã quá quen với những cuộc hành quân Biệt-kích nhất là khi địch biết chắc có Biệt-kích trong vùng, lúc đó tiếng súng bắn để nghi binh hay tạo một cái bẫy dụ chờ Toán vào vùng phục kích do họ chọn lựa. Tiếng của một con chim lạ kêu trong sâu nghe âm vang thật rền rĩ, cô đơn.
5- Bữa cơm chiều, ăn xong là di chuyển ngay. Trời nhá nhem , sự yên tĩnh đến đáng sợ của rừng luôn làm căng thẳng thần kinh! Buổi chiều qua đi với hai lần vượt qua loại đường gùi xuyên rừng và con suối cạn róc rách từ kẽ đá...nó chỉ đổ nước ra suối lớn vào mùa mưa. Bóng tối đến thật nhanh cùng đàn muỗi thét vang bên tai, tức tối vì mùi thuốc bôi trừ muỗi. Bóng đêm đã ngự trị nhưng Toán vẫn lần mò chưa tìm được một gốc cây ưng ý hay một địa thế có những tảng đá để ẩn mình. Tiếng của loài chim ăn đêm như thúc dục đến não lòng, kinh dị. Cơn gió lạnh chợt đến như xé lòng, buốt giá bủa vây. Toán dừng lại khi bước chân tôi đứng trẹo đi vì hai cục đá cao thấp. Gốc cây lớn ngay trước mặt đã được chọn và chỉ trong tích tắc mọi người đã yên vị cùng lúc người Toán phó và người dẫn đường (point man) gài xong hai trái mìn phòng thủ...ở ngay đường vừa di chuyển...cùng hướng vào mục tiêu.  Tôi ấm dần lên trong cái áo đi mưa, dựa người thoải mái vào ba lô và dây đạn khoác hờ vào hai vai rồi cởi khóa dây đạn trước bụng...Khi cần thiết...nhổm người dậy là mọi thứ đã sẵn nơi vai, chỉ việc gài chốt dây đạn là xong. Hướng thoát hiểm được ấn định luôn là phía trước...đường vào mục tiêu. Trong trường hợp đụng địch tại nơi ngủ đêm, sẽ có tiếng hô ra lệnh của Toán trưởng và hướng trái mìn Claymore của người đi đầu nổ tung...Đó là con đường máu thoát hiểm...Tôi đi dần vào giấc ngủ...lơ mơ trong điệp khúc đêm rừng gió rét.
             - Vừa mở mắt thức giấc. Tôi liền tạ ơn Chúa ban sự bình an trong đêm. Sương trên cành nhỏ giọt từng giọt xuống chiếc áo mưa. Nó lộp bộp nhiều hơn khi làn gió thổi trên cao. Sương mù giăng khắp và gà gáy dồn dập. Núi rừng vẫn một mực yên lặng và hình như tiếng chim trong gió khe khẽ lẩn khuất bên trên cùng tiếng côn trùng rời rạc, mệt mỏi với chức năng về đêm?!  Trời sáng dần, ngọn gió làm sương mù bay, tôi như ngủ trong cỗ màn tuyn trắng đục khi còn ở nhà chưa đi lính. Đại úy đang nấu nước sôi chuẩn bị cho cái bụng trong ngày. Mùi thuốc nổ C4 dùng nấu nước có mùi thơm thơm khi đốt lửa nhưng nó lại tạo khói khét lẹt lúc được kích hoạt nổ. Toán được phép mang theo những bánh thuốc nổ C4 dùng vào việc nấu nướng và khi hữu sự chúng tôi có thể gộp những bánh thuốc nổ C4 xài dở dang, tạo thành bánh lớn bởi độ dẻo của nó và gắn ngòi nổ đốn ngã bất cứ cây cao nào cản trở cho bãi đáp khi bất ngờ triệt xuất Toán. Điều quan trọng là phải tạo một lỗ sâu bằng cách ấn mạnh cây viết chì mà Toán trưởng vẫn dùng để ghi chép vào bánh thuốc C4 để cho ngòi nổ ở trung tâm, bảo đảm cho hiệu quả. Công việc của buổi sáng cứ tuần tự...sau màn vệ sinh cá nhân...Toán bắt đầu di chuyển.

            - Nắng trên cao và gió mang cái mùi ngai ngái của loại cây mọc trong khu vực. Có lá như lá me, chiều cao chỉ bốn mét, tàn xòe rộng, quả rũ xuống như giàn đậu đũa. Mọc sát cạnh nhau an phận dưới những tàn cây cổ thụ cao lớn che trời. Một chùm lan rừng tím xậm vụt lên từ cành lá, đùa giỡn cùng nắng ban mai. Có một con ong vừa vụt bay, nhanh chóng mất tích. Tiếng chim líu lo và đàn khỉ the thé đùa giỡn chuyền cành! Bên gốc cây Đại úy liên lạc với Covey...Ông mới chuyển xong bức điện và có vẻ như đang chờ sự gì đó? Toán lại lên đường sau tiếng Covey nhỏ dần đi bao vùng khác. Di chuyển dần lên cao, địa thế dốc trì nặng đôi chân. Bầu không khí thay đổi hẳn, mát rượi và thơm lừng hương hoa. Trên cao cả một vạt rừng hoa tím...mầu tím hồng nhạt từ cây rắc những bông hoa trên đất, theo cơn gió nhẹ bay bay cả vào người chúng tôi như mừng người chiến thắng! Ai có tâm hồn mà chẳng rạo rực trước cảnh này? Người dẫn đường đã lên tới đỉnh dốc. Mảnh trời xanh lấp ló bên trên tầng cây và bên dưới chen cùng những gốc cây tảng đá đen xì rải rác lồm ngồm như đàn rùa biển lên bờ. Đại úy ra lệnh nghỉ và ăn trưa. Gió từ dưới lũng thốc lên vút tận tầng cây rào rào lao xao. Toán phó đang hút thuốc lá, thở khói thuốc vào ngực áo mình, cạnh người xạ thủ M79 nhai cơm. Đại úy bận bịu với tấm bản đồ và cái địa bàn...căn, đo xác định lại phương hướng. Mùi ruốc thịt ba lát đậm đà sao nước mắm ngon nhai với cơm sấy trong miệng làm tôi nhớ về ký ức khi xưa còn bé...Cứ mỗi lần Mẹ làm ruốc thịt heo y như rằng tôi căn để ăn vụng, nhai không biết chán...Miếng ăn vụng tôi nghiệm ra rằng ở những nơi kín đáo ăn miếng càng nhỏ nhai càng khoái, càng khích thích tợn!  Tiếng Covey vừa bay ngang loãng dần về hướng Đông có lẽ nó lên đường về lại nơi xuất phát đổi tua cho chiếc khác bao vùng. Tôi cố gắng chống lại giấc ngủ trưa quen thuộc và thấy đời như là sự gì bất công tràn lan!   
                                          
  6- Tiếng cười đùa vang vọng xé tan sự yên lặng kỳ bí của rừng. Gió mạnh từ lũng liên tục thổi lên rồi luẩn quẩn làm đôi lúc giọng trong trẻo nhỏ nhẹ, đôi khi khanh khách vụt cao. Mọi người đưa mắt nhìn nhau và tôi đã thấy cái nhíu mày trên trán Đại úy. Tôi biết ông đang quyết định một việc gí đó? Vì nếu di chuyển ngay theo hướng vào mục tiêu, Toán sẽ bỏ lại sau lưng tiếng cười đùa của địch bên hông...chẳng phiền toái gì cả!  Y như tôi linh cảm. Đại úy đến bên Toán phó và họ thảo luận gì đó? Giờ thì cũng như mọi người tôi có thể ước lượng khoảng cách đến địch chỉ vài chục mét. Trở về Đại úy ra lệnh thám sát khu vực và tôi thông báo cho hai Toán viên biết. Người đi đầu đã đứng lên. Toán cứ theo hướng có tiếng người đi tới. Cây rừng tương đối dễ di chuyển. Sự che chắn tốt và chúng tôi cẩn trọng lần bước. Con Sóc đuôi dài leo vụt lên cây đến nửa chừng dừng lại nhìn chúng tôi. Tiếng người mỗi lúc một gần rồi đột nhiên tắt hẳn? Ánh nắng ngang tầm mắt nhưng lúc này bị tàn cây che chắn. Tiếng ì ì của Covey ở một nơi xa hướng Nam cho chúng tôi thêm tin tưởng. Toán dừng lại Đại úy ngoắc tay gọi tôi và cùng lên phía trước. Một con suối trước mặt cùng mắt tôi chạm ngay vào dẫy nhà sàn nằm nép bên suối ở sườn dốc. Một khoảng ánh nắng chiếu rọi tấy rõ con nước lao đi trong đá chắc chắn là không sâu. Nhìn gần, dưới dốc những trái su su ngồn ngộn trên dây leo cùng những luống khoai môn  bên hàng ớt đỏ rực. Toán cảnh yên lặng như ma quái, đến nước dưới suối cũng câm lặng!? Tiếng của một con chim đất rúc lên nghe như kêu mời và một, hai, ba, bốn rồi năm người từ nhà sàn vừa đi ra. Nhìn kỹ ba dân quân và hai bộ đội. Không trang bị súng nhưng người bộ đội đi thứ hai quấn băng xanh mầu lợt trên đầu. Có tiếng gọi từ phía bên kia con suối nhưng chẳng hiểu nói gì? chỉ thấy cả năm người sắn quần lội qua. Nắng chiều tỏa ánh sáng chiếu chói lọi xuyên cành lá và chúng tôi phát hiện thêm những làn khói tỏa không muốn rời mái nhà. Một tên bộ đội bất chợt từ trong ra ngoài sân, cây súng chỉ thiên nổ một phát rồi lại tất tưởi trở vào. Tất cả mọi sự việc hẳn không qua được cái ống nhòm của Đại úy. Ông có vẻ say mê, rồi thình lình ra lệnh rút quân, di chuyển theo hướng vào mục tiêu. Ánh sáng ửng chiếu khắp trên vùng trời đằng Tây cứ như vầng than hồng lóe trong đêm. Người đi đầu phải luồn lách để tránh những cây dây leo trong một địa thế xuống dốc luôn phải hãm đôi chân. Trên một cành cây thấp ngước nhìn loài chim xâu bé tí thoăn thoắt nhẩy tìm mồi như chả biết thế nào đã gần đêm. Đại úy ra lệnh ngừng lại, chả gì cũng đã quá bữa cơm chiều. Đàn muỗi tự nhiên xô lại vây quanh cùng tiếng kêu của một loài chim lạ nghe đơn côi và khắc khoải. Cơm ăn vừa xong cũng là lúc bóng đêm vừa đến. Điếu thuốc lá cuối cùng trong ngày được phép, tất cả được thở sâu vào ngực áo. Lệnh qui định, nơi ngủ đêm cấm hút thuốc lá cho đến sáng ngày hôm sau. Toán di chuyển tìm chỗ ngủ đêm và hình như có tiếng ầm ì nơi xa vọng lại. Chân bước nhưng tai dóng lên để nghe...quả đúng vậy! Nó xen lẫn với điệp khúc đêm rừng quanh quanh và rõ nhất đanh nhất có một loài giống như tiếng Ve kêu mùa không biết mỏi với mầu Phượng rực nắng nhưng ở đây "tiếng Ve...?" trong đêm. Động cơ xe, giờ tôi có thể nói như vậy và xác định được càng lúc càng đến gần. Cơn gió làm lao xao cây lá. Những bước chân giữa đêm rừng đầy kinh dị, sợ hãi vây quanh...chân tuy bước mà lòng cứ mãi về phía sau chỉ sợ bị "vồ..." Dù rằng tôi biết chắc còn ba đồng đội đang đi theo. Một mùi hương hoa thoảng trong đêm nhưng không gây được sự thích thú kèm theo cái lành lạnh. Đại úy đi trước tôi đang ho vào vạt áo, có lẽ ông bị dị ứng "làn gió lạ" Một bóng đen to lớn án phía trước che dần bầu trời sao. Chúng tôi như bước vào con đường hầm gió lạnh và tối om. Gió ào mạnh bên trên rồi dịu đi chạm lá tựa tiếng réo rắt phong cầm lúc trầm lúc bổng. Tôi vướng vào một dây leo và chân chạm rễ cây suýt ngã. Đại úy ra lệnh nghỉ đêm và tiếng động cơ xe bỗng đứt quãng vuột biến. Tôi nghe Đại úy nói với Toán phó chỉ gài một trái mìn Claymore.                     đường thoát hiểm vẫn là hướng vào mục tiêu. Gốc cây cổ thụ và những rễ bạnh nổi lên như ôm lấy chúng tôi. Tiếng kêu của con tắc kè tận trên cao chậm rãi từng tiếng chắc nịch giống như nắm đấm dội vào lồng ngực gây tưng tức hay có thể tầng cây dầy che lấp không gian thoáng đãng và sương mù tuy chẳng thấy nhưng cũng hình dung qua cái lạnh mơn man trên mặt, phơn phớt ẩm hơi.

 
  7- Buổi sáng thức dậy, công việc tuần tự  cứ như mọi ngày hành quân. Covey lấy xong bức điện rồi di ngay. Sương mù cũng tan biến để lại giọt mưa trên lá. Người đi đầu bỗng dừng lại, tay ra hiệu con đường phía trước. Ánh nắng chói lọi lọt qua tầng cây làm hai vai người đi đầu tỏa khói và tôi thấy Đại úy đang quan sát con đường. Theo lệ thường tôi lên để yểm trợ...vẫn là loại đường gùi để vận chuyển, nhìn những dấu chân in trên đường, chứng tỏ địch di chuyển thường xuyên nhưng hẳn nhiên chưa phải là con đường có đường dây điện thoại mà nhiệm vụ Toán phải tìm. Sáng nay khi chấm bản đồ Đại úy nói rằng chỉ còn khoảng hơn một cây số sẽ chạm mục tiêu. Chúng tôi băng qua đường sau khi Đại úy chụp vài pô ảnh. Địa thế khu rừng chồi rất ít cây to nhưng Toán đang đi vào bóng mát cùng tiếng chim lanh chanh trên cành cao. Một mảng mây trắng bấu chặt lấy bìa rừng trước mặt cùng ngọn gió làm lạnh hai vai và chắc chắn sẽ khô dần đi cái khăn ngụy trang. Tạm nghỉ chốc lát rồi lại lên đường. Hai con chim thật lớn tự đâu bay đến một con đứng quạt cánh trên tàn cây nhưng không đậu xuống còn một con bay vòng trên cất tiếng kêu la như vai trò của một huấn luyện viên!  Đại úy nhắc tôi "đi đi..." cũng vừa lúc súng nổ ở phía sau rất gần và tiếng đáp trả phía bên hông nghe đanh, nhọn như không cùng một loại súng. Khu vực bỗng trở nên đáng sợ. Tôi cảm thấy nhiều mũi tên đang bắn tới và cái lạnh chợt đến đang tỏa từ sống lưng đến gần mông. Đại úy ra lệnh dừng lại. Phía trước khe dốc lên cao trông như bức tranh với đụn mây trắng tinh khôi cuồn cuộn cùng bầu trời xanh thẳm. Tiếng hú từ xa vang vọng mà chỉ có thể là tiếng người cùng tạo cho rừng một thoáng kỳ quái, thâm trầm đến lạnh lùng. Giọng hú đáp trả hai lần nghe vọng dội âm thanh như đi từ Nam lên Bắc...Tôi tưởng tượng đến có một trận đồ đang vây hãm...giữa thanh thiên bạch nhật!  Chúng tôi đến gần sự hoạt động nơi địch đóng quân. Đại úy chỉ hướng cho người đi đầu và ra lệnh xuất phát. Nắng đã gần trên đỉnh đầu và làm khô mọi thứ ướt bởi sương sớm. Toán đang đi vào bìa rừng với cây cao bóng rợp. Vẻ âm u vắng lặng chào đón...nhìn, ai mà chẳng chột dạ?! Tôi theo thói quen xoay người ngắt một lá cây tiện nơi tay bỏ vào miệng nhai để chống vắt. Nụ cười của người Toán phó (radio man) đi sau nhìn tôi tinh quái và thoáng ngạc nhiên, dù rằng việc này tôi cũng đã giải thích lúc cùng thực tập. Rừng cây tương đối dễ di chuyển vừa đủ để che chắn. Những tảng đá chen nhau như đua cùng cây nhưng an phận bởi loài cây mọc từ trong đá xanh biếc nhưng thấp xỉn phát triển theo sức sống ở những đường kẽ và trũng cùng  loại rêu xanh đậm bấu chặt. Chúng tôi ăn trưa ở gốc cây có những tảng đá rải rác vừa đủ để che đầu người ngồi. Ánh nắng chiếu rọi, giống những hạt kim cương thi thoảng hiện trên những khuôn mặt và điệp khúc rừng cứ mãi trôi theo thời gian bất tận! Tiếng ào ạt phía bên hông làm những cây chồi non nghiêng hẳn một vạt trước ngọn gió quẩn quanh quanh...rồi chạy đuổi về phía sau. Đại úy ăn xong ông lại căn hướng đi...Ông ta có vẻ sốt ruột, nóng lòng vì nhiệm vụ hoặc bởi những ước lượng đường di chuyển bị sai trật. Nhưng tôi nghĩ là không thể!  Lệnh di chuyển ngay đúng ra là phải có chừng một tiếng nghỉ ngơi. Nhưng cả Toán không ai tỏ vẻ uể oải ngược lại hăng hái tiến bước. Tôi cười nhìn lại đàn vắt cố công bò đến ngổn ngang...chúng cứ ngóc lên cao đưa cái vòi qua lại dò con mồi...tôi ngộ nghĩnh vẫy tay chào...chào lũ mày, Vắt.  Ánh sáng vẫn rọi trên khuôn mặt Đại úy vụt biến mất...nhìn lên hai con chim rất to vừa đậu vào tàng cây cất tiếng kêu như gọi con trong tổ? Ngọn gió quẩn hình như quay lại đẩy chúng tôi vào sâu. 
            -Người đi đầu dừng lại ra hiệu có con đường. Đại úy nhìn tôi như ra lệnh cùng lên thám sát. Phía sau Toán đã ở vào vị trí chiến đấu dàn hàng yểm trợ hai bên và mặt sau. Ngồi xuống mép đường bụi rậm quan sát. Đường cơ giới, dấu bánh xe và vết chân dấu giầy trên đường...nhưng không thấy dây điện thoại. Đại úy nét mặt đang suy tính, con đường này rất đúng  trong báo cáo. Tôi cũng biết như vậy và nghĩ là dây điện thoại chỉ có ở bên kia đường? Đại úy khoắt tay ra hiệu vượt qua...Vẫn là người phải sang trước để lập chốt yểm trợ...Men theo những đốm lá cây rụng tôi nhanh chóng vượt qua sáu... bẩy mét con đường thật êm ái và chân vướng ngay vào sợi dây điện thoại. Lập xong đầu cầu, quan sát hai mé đường tôi ra hiệu cho Toán di chuyển. Vẫn con gió quẩn lúc này thổi ào trên đường bốc lên những chiếc lá bay bay.
  8- Đại úy cũng vừa sang đường, tôi chỉ cho ông dây điện thoại. Nét vui mừng rõ trên mặt, ông buông một câu "tuyệt vời" và ngay lập tức ra lệnh di chuyển dọc theo con đường để chọn địa thế. Toán đã đến được một nơi cay chồi mọc cùng dây leo chằng chịt bên dưới, có những tảng đá rải rác...Một địa thế tác chiến tốt và quan sát cũng như ẩn nấp chả chê vào đâu được. Nắng đã siên ngang...chiều đi thật mau...cũng nhanh như chúng tôi vào vị trí. Đại úy và radio man nằm ở trung tâm để ghi âm. Tôi và người đi đầu (point man) hai đầu tả hữu còn Toán phó và người xạ thủ M79 án ngữ mé sau lưng. Hai trái mìn phòng thủ được gài hai đầu do tôi và Point man giữ. Lệnh cho hướng đào thoát là chốt phía sau của Toán phó. Con đường vẫn im lìm vắng lặng. Mé tay trái gió vừa bốc lên những chiếc lá trên đường tung cao rồi xoay tròn chạy ra xa. Dựa lưng vào tảng đá, tôi trong một bụi rậm bắt đầu tạo những khoảng trống nhỏ để tiện quan sát trên đường nhất là lỗ hổng để nhìn được vị trí đặt mìn phòng thủ. Đại úy đến bên tôi từ phía sau như là để kiểm soát và thông báo máy ghi âm của người Toán phó radio man đã hoạt động. Mặt trời đã lặn và bắt đầu cho đêm rừng. Miếng cơm nhai trong miệng bữa nay sao ngon lạ! Trời mây trắng nhưng phía Bắc cơn đen che hẳn nửa bầu trời. Con đường đi xuống lũng sâu quẹo hẳn vào núi cao. Bìa rừng cây cao rậm che chắn cho con đường lại là ranh giới giữa rừng già và rừng chồi non. Bóng tối đem bản giao hưởng rừng đêm cùng sương mù chen lấn. Gió bắt đầu lạnh thêm thổi từ trong sâu. Trong chiếc áo đi mưa tôi chợt rùng mình về sự lẻ loi, cô đơn...dù rằng chắc chắn cách đây chỉ khoảng mười mét là đồng đội! Tiếng của loài chim ăn đêm nghe não lòng gợi nét quỉ ma, chông chênh giữa thực và mộng...Bất chợt nghe từ thẳm sâu ký ức một khoảng trời học đường...ngày ấy những bài học làm người, bài học cuộc đời trước khi bước ra một sân chơi lớn: đời người. Mầu hoa Phượng đỏ như lửa ấy cứ rực mỗi Hè. Tàn mùa Phượng đã nghe mùa Thu gõ tiếng trống trường...lăn dọc thời trẻ con hoang dại. Lăn dọc những vui buồn không tuổi, không tên. Để bước vào những mùa thi...Lần cuối, năm ấy mình không qua nổi kỳ thi, sẽ là ngã rẽ cuộc đời! Trò chơi lớn bắt đầu...Xua đi những ý nghĩ, tôi tập trung vào giấc ngủ. Đưa mình lên bầu trời xanh thăm thẳm, cứ thế xa tít rồi xa tít và tôi ở trong vùng cao xa ấy.
          -Đêm qua đi, trời lại sáng và tôi thức giấc lúc còn tối có lẽ  cái chân bị tê vì thế ngủ ngồi quái ác. Tiếng côn trùng nghe đã có phần rời rạc chỉ lũ gà là xung. Biết bao chuyến hành quân và ở bất cứ rừng núi nào tôi chỉ nghe tiếng gà chứ chưa bao giờ thấy chúng! Sự ẩn mặt của lũ gà rừng tôi chưa thể lý giải được? Ánh mờ mờ của sáng sớm làm tôi nhận rõ hơn phía trước mặt thung lũng chạy xa trong biển xanh ngàn cây. Xa hơn núi cao chắn lối và bên này con đường đang đi xuống sâu vào rừng. Cơn thèm cà phê ghê gớm làm tôi phải nấu nước thôi. Mùi chất nổ C4 bị đốt tự nhiên sộc vào mũi...không biết có phải của tôi...ô hay chắc chắn rồi! Hay thêm quanh đây đồng đội cũng đang nấu và tôi liền nghe tiếng "tắc kè" mật hiệu qui định...tiếng một rời rạc là liên lạc với nhau còn nhanh gấp gáp là báo động...Tôi liến đáp lại, Đại úy xuất hiện. Nhìn quanh ông yên tâm, xong lại biến. Đổi lại thế ngồi và thưởng thức ca cà phê cùng khói thuốc ém chặt say say. Gió nhẹ bay bay sương sớm thấy cả hột li ti rồi  nhẹ nhàng rơi. Trời đã sáng, mây trên cao xa...cao hơn một ánh sao to lấp lánh chưa chịu nhường mặt trời mà tôi đoán cũng sắp lên khỏi núi hướng Đông. Tiếng chim trên cành cây cao càng rõ hơn náo động dần không khí...Ngày của rừng thật sự bắt đầu và tôi nghe tiếng súng nổ ở về hướng Tây.
           -Một mình lẻ loi, ngồi buồn chết đi được. Hai viên kẹo "cao su" trong khẩu phần ăn nhai lọt thỏm vẻ còn thèm thuồng không đã.Nghe bên vị trí của Đại úy vẫn một mực im lìm nhưng chắc chắn ít ra họ đã thu âm được hai cuốn băng. Ánh mặt trời chói lọi xuyên cành lá tức khắc đang đẩy lùi lớp sương mai mà giờ hình như đã tan biến. Có thể nó chạy trốn trước khi mặt trời đến! Tôi bỗng nhìn về hướng dốc con đường và mắt vừa chạm hai người đang dắt xe đạp đi lên. Tôi...miệng trong loa tay kêu "tắc kè" liên tục rồi nghe tiếng "tắc kè" đáp lại. Mật hiệu đã được nhận và chờ đợi cho sự sẵn sàng.


            9-Hai tên địch dần đi lên, chỉ một tên có mang súng, cây AK đeo trước ngực. Cả hai trang phục chính qui chính hiệu...nón cối, giầy vải, áo quần kaki xanh, lưng thắt dây da nâu loại Trung quốc. Tên đi sau mang cặp da bên hông ,không súng.  Vì đường lên dốc nên cả hai dắt xe đạp, loại Trung quốc, mầu đen, hai thắng tay liền với ghi đông lái. Tôi dõi theo từ bước đi họ lên, giờ thì có thể nhìn rõ mặt...tên mang súng còn rất trẻ có thể nói là con nít! Còn tên kia, mặt dầy dặn, khoảng ngoài ba mươi. Đếm từng bước chân có lúc chậm vì lên dốc vả lại còn phải dắt xe. Tôi cố chấn tĩnh...doãi tay gồng mạnh như để lấy lại sức và cái của chết người càng lúc càng gần cùng thời gian nóng lên và như ngừng trôi nhưng nhích dần. Một giọng hót mượt mà, thanh cảnh của một con chim trên cây giúp tôi phần nào thoát cơn căng thẳng đang lên và hai tên địch bất ngờ rẽ vào lề đường bên kia có tảng đá cao rồi dựng xe. Động tác rất nhanh hắn tháo cây súng khỏi cổ dự vào xe đạp rối tất tưởi đi đến bụi rậm gần đó...biến mất. Tên mang cặp vào sâu một tí thản nhiên thò tay móc "..." đứng đái nét mặt vẻ thoải mái, tay đu đưa rồi chợt rùng mình nghiêng hẳn người quay đi ra. Hình như có gió to nổi lên phía giữa con dốc, lá cây bay tung về bên kia đường và bóng rợp đen của đám mây dần dần từ sau lưng hướng Nam trôi từ từ lên hướng Bắc. Tên bộ đội con nít cũng vừa đi ra. Rất tự nhiên như đã quen thói lấy cái túi vải sau xe đạp, ngồi xòa xuống cục đá thấp tay kia móc ra hai nắm cơm, đưa cho tên kia một...thản nhiên cắn ăn một cách lạnh lùng! Trò chơi ú tim lại theo từng miếng nhai, thoáng chốc đã hết nửa nắm cơm. Khoảng cách vào quãng mười mét nhưng tôi thấy rõ còn hơn khi đi xem kịch diễn trên sân khấu. Sự hồi hộp căng thẳng cứ dần được đẩy lên có thể đã chạm vào được ánh nắng. Tôi bỗng nhiên tự trách sao lại chọn đầu dốc, nhưng đó là việc của Đại úy...về mặt chiến thuật rất có lợi cho tác chiến, nhưng tâm lý đã lên dốc là phải nghỉ ngơi?!  Giờ đây chắc mọi người cũng có ý nghĩ như tôi trước tình thế này. Vừa ăn xong tên con nít vơ lấy cây súng, tưởng đeo vào người nhưng không hắn chĩa lên trời nổ một phát xong nói " Đi đi anh...để trưa về còn kịp cơm..."  Họ dắt xe ra đường tự dưng mắt tên bộ đội mang cặp da cứ nhìn chăm chăm vào bụi cây tôi ẩn nấp và một vẻ trù trừ gì đó hiện trên gương mặt hắn...khuôn mặt vừa đi qua vùng ánh sáng chiếu trực diện chói sáng từ tàn cây. Tôi thấy nhột nơi sống lưng và tâm trí tập trung ngay vào cò súng. Vẻ lanh chanh, tên con nít lên yên xe trước, gồng chân, cong người đạp lấy đà...còn tên đeo cặp, thênh thếch trên bi đan xe, một chân đẩy dăm bước, lên xe theo kiểu Pháp. Qua chỗ tôi, mắt hắn không hiểu sao cứ mãi chằm chặp nhìn như say mê? Đàn chim trên cao bỗng kêu réo loạn xạ. Nhìn lên có vài con bay tuá ra và hai con đuổi đánh nhau bay xà xuống đúng vào lúc bóng hai tên bộ đội mất hút bỏ lại sau ánh tia chớp phản chiếu phát ra từ hai chiếc xe đạp.  Không gian trở lại yên ả, tĩnh mịch. Chim trên cành cũng im tiếng sau màn báo động. Tai tôi nghe tiếng Covey ở một nơi xa vọng lại. Làn gió hơi lạnh mơn man trên da mặt và tôi nghe ám hiệu "tắc kè..." chậm rãi. Vội đáp lại và Đại úy xuất hiện đang ngồi xổm đi vào bụi rậm với câu hỏi đầu tiên "ổn chứ..." Dáng điệu nóng lòng ông hỏi tôi có nghe hai tên địch nói gì với nhau. Tôi dịch lại và xác định họ chỉ nói với nhau có một câu " Đi đi anh...để trưa về còn kịp cơm..."  Nghe xong nét mặt của ông trở nên đăm chiêu suy nghĩ nhíu mày. Hai cặp mắt nâu nâu như chớp sáng. Tôi hiểu ngay ra rằng vai trò của người Thông dịch trong lúc này thật cần thiết!  Đại úy dặn dò một vài việc chiến thuật rồi theo thói quen lấy ra thanh kẹo "cao su" vừa nhai vừa đi khỏi. Một con sóc chạy trên đường, đến chỗ có ánh nắng dừng lại dương mắt nhìn quanh như muốn sưởi ấm. Lại một tiếng súng địch nổ ở hướng Tây chẳng bao xa. Hai bịch gạo sấy giờ thì no đủ...đã thành cơm. Tôi bắt đầu nhai phần cơm buổi sáng và nghĩ đến nhiệm vụ của Toán...Bắt tù binh. Trong thực tập, Toán phó là chuyên gia bắt tù binh. Ông ta có quyền quyết định ra tay hay không trong giây phút chót. Theo lệ thường địch quân vẫn cử người đi kiểm soát đường dây điện thoại và nhiệm vụ thu âm vẫn đi đôi với bắt tù binh. Khi được mật hiệu Toán phó chỉ việc dời chỗ ẩn nấp từ phía sau đi lên phía trái hay phải tùy theo hướng địch, phối hợp với Toán viên đã có sẵn để hành động. Nhưng việc quan trong vẫn là địa thế...có bãi đáp hay không? Thực tại Toán chúng tôi từ ngày qua đã phải luôn tránh những khoảng trống... còn mọi việc khác dĩ nhiên nằm trong kế hoạch...đều phải sẵn sàng tại căn cứ xuất phát.


 10- Nắng chếch ngang mặt. Đồng hồ đã chỉ mười giờ. Buổi sáng qua đi thật mau với vài lần phải trở mình để thoải mái cho thế ngồi, tránh tê chân. Không gian tĩnh lặng nhưng thi thoảng tiếng con chim đất kêu lên như thương nhớ!  "tắc kè..." tôi vội đáp lại mật hiệu rồi tức thời Đại úy xuất hiện. Vẫn câu hỏi đầu môi "ổn chứ..." Rồi ông ra lệnh bắt tù binh sau khi hỏi tôi " Anh có nghĩ rằng hai tên địch lúc sáng sẽ trở về vào lúc trưa..." Tôi không chút ngần ngừ đáp lại "chắc chắn rồi...tự miệng họ nói ra mà." Ông đưa cho tôi thanh kẹo rồi rút lui. Tình huống hiện tại người Toán phó phải đến chỗ của Toán viên đi đầu để xem xét địa thế và đón lõng hai tên địch. Phần tôi chỉ lo căn coi phía đường trách nhiệm và sau cùng là tháo trái mìn phòng thủ. Mọi việc chắc đã lên kế hoạch và sự bàn định giữa Đại úy và Toán phó hiển nhiên cũng đã xong trước khi đến tôi. Có giọng hú ở về cuối dốc và tiếng đáp lại hơi xa. Tôi căng mắt chờ đợi nhưng vắng lặng tút đến phần đường chìm vào rừng cây. Ánh nắng như phân chia con đường thành từng khúc có nơi loang lỗ chói chan, chỗ tối hù nhưng dài hơn, thấy cả cái lạnh lẽo âm u. Thời gian nhích dần và dĩ nhiên người trong cuộc cũng chuẩn bị mang tâm trạng căng thẳng. Tôi nhìn lại đồng hồ...nó nhích mãi mà chưa qua con số mười một!  Vùng lên, chửi đổng một tiếng  trong bụng "đồ con rùa..." Tôi bò ra dịch dần đám dây leo để có thể mở rộng tấm nhìn về phía tay phải, nơi có thể sắp diễn ra cảnh sôi động chết người chỉ cách chỗ tôi khoảng chưa tới ba mươi mét. Vị trí mới không có tảng đá nhưng khi tác chiến tôi có thể thụt lui ẩn nấp một cách dễ dàng. Trên cây cao, tiếng của những con chim Mẹ dẫn mồi cho đàn con khi dồn dập lúc đứt khúc...nghe chanh chách!  Covey đang ở hướng Nam tiếng xa hẳn chúng tôi nhưng vọng lại có lúc rõ theo vòng bay. Nó đã được thông báo tình hình...chắc chắn là như thế và cái mắt xích trong cỗ máy chiến tranh đang hoạt động. Tôi sửa lại thế ngồi vì thấy tức nơi hông hay có phải tại mới ăn trưa...ăn quá sớm.  Thời gian cháy dần nhưng chậm. Sự căng thẳng theo nhịp kim đồng hồ được đẩy dần lên...đang ở con số mười một giờ ba mươi lăm. Rừng núi im như chết. Gió biến đi đâu mất làm gia tăng cái nóng trong người. Con tim tôi bỗng chỗi dậy khi đàn chim bất chợt kêu thé lên tiếng liên hồi. Tôi sửa lại thế ngồi mắt đăm đăm phía đường về của địch và thoảng nghe có tiếng người. Mọi sự chuẩn bị vào cuộc...cuộc chơi sinh tử!  Hai bánh xe đạp đang lao tới nhưng chưa thấy phần trên bởi bụi rậm án ngữ. Đột nhiên như một cánh đại bàng quái dị...tiếp sau là bóng cao lớn của Toán phó xuất hiện. Tức khắc hai thân người đổ nhào trên đường còn hai xe đạp văng xa. Đại úy và người truyền tin (radio man) chia nhau khống chế hai tên địch chưa kịp hoàn hồn bò dậy với nét mặt ngạc nhiên thất thần. Toán viên xạ thủ M79 cũng vừa xong nhiệm vụ thắt khăn vào miệng và bịt mắt tù binh...đã bị còng tay bằng chiếc còng nylon. Tôi vội gỡ mìn phòng thủ. Toán phó vừa phi tang đi hai chiếc xe đạp và hai mũ cối vào bụi rậm...trông thật oai bởi đeo hai súng và chiếc cặp da. Người đi đầu gỡ mìn vừa xong chuẩn bị di chuyển.  Mọi việc diễn tiến thuần thục như khi thực tập!  Bình tâm, khúc phim được điễn ngay trong đầu khi đang di chuyển. Hết sức nhanh chóng và thật đơn giản...Sự tấn công đầy kinh ngạc bằng chiếc áo lạnh đi rừng quả thật như một cánh đại bàng quất thẳng vào hai tên địch cùng một lúc. Tôi chứng kiến tận mắt như người đi xem kịch ngồi ở ghế hạng nhất. Cái khó khăn ở đây chính là lực tấn công...Toán phó hiển nhiên phải xoay chiếc áo, quật thật đúng lúc và đầy sức mạnh mới có thể đánh chính xác vào phía sau địch quân...không phải một mà cả hai...trong tình trạng đón đầu địch. Thật tài tình và nghề nghiệp...hai con mồi đều ngã về phía trước vừa vặn lọt vào tay của Đại úy và Radio man lao ra chờ sẵn. Tất cả đều được diễn ra trong thời gian cực nhanh...bằng những cái nháy mắt...rồi tức khắc Toán biến vào khu rừng chồi bên cạnh. Covey ở trên đầu từ lúc nào và Đại úy cũng đã đổi balo để trực tiếp giữ liên lạc. Một tiếng súng nổ ở hướng Tây. Tên bộ đội đi trước đứng khựng lại vẻ chần chừ nhưng khi mũi súng chĩa vào lưng, hắn mới chịu bước tới. Toán phó vừa đi vừa chiếu gương cho Covey. Đại úy bỗng ra lệnh đổi hướng , theo hướng Bắc...Covey đã chỉ điểm bãi đáp. Tôi và người Radio man rất bận với hai tù binh. Toán đã thoát ra khỏi vạt cây chồi đến một vùng cỏ tranh mịn óng vàng và hai chiếc A1 trên bầu trời đang đến theo cái dõi mắt của Đại úy. Ông ta ra lệnh trải tấm panel hồng đỏ và luôn chỉ điểm mục tiêu. Một rocket khói được Covey phóng ra và rồi loạt bom chùm từ A1 vãi tới tấp vào đúng khu rừng già có con đường. Tiếng súng địch từ dưới đất vang dội cùng tiếng người nghe lao xao hò hét...nhưng chưa thấy phòng không. Loạt bom napalm bùng lên khói lửa chạy dài cả vài trăm mét. Đại úy ra lệnh tôi và radio man mỗi người phụ trách một tù binh thoát trên chiếc trực thăng đầu tiên. Trên bầu trời hướng Đông những đốm trực thăng lớn dần và hai Cobra thế nào cũng đến trước. Tôi rút ra bình sịt gây mê...bằng cách sịt thẳng vào mặt mũi hai tên tù binh đang ngồi. Chiếc A1 xả loạt đại bác...tiếng nổ lan tràn từ trên lẫn bên dưới cùng với khói và lửa. Đoàn trực thăng nhanh chóng nhập cuộc. Sáu trực thăng thuộc phi đoàn 20 Air Commando biệt hiệu Green Hornets thuộc không quân Mỹ. Hai Huey gunship đang vòng trên bãi đáp và một chiếc xả loạt đại bác 20 ly dọn bãi. Đại úy ra dấu chuẩn bị...Toán viên đi đầu sẵn sàng phụ tôi khiêng tên tù binh lên trực thăng. Chiếc Gunship vừa vụt lên với hàng loạt tiếng đạn 40 ly nổ dài và sau nó chiếc Huey đang xuống bãi, cặp kè cùng chiếc Gunship theo yểm trợ. Toán phó radio man bồng tên tù binh đợi sẵn, cùng tôi cũng sẵn sàng. 
           - Trên đường về căn cứ, người sĩ quan rước Toán khui chai sâm banh. Tôi thấy rõ nút chai bắn vút ra ngoài cửa trực thăng. Bên dưới sàn hai tên tù binh vẫn còn bất tỉnh dù rằng đã được cột chặt vào trực thăng theo nguyên tắc. Một điếu thuốc hút tự do sao mà sướng thế! Nhất là hòa cùng sâm banh uống ngụm to chất ngất. Nghe trong cái mũ bay...người sĩ quan rước Toán nói " Bên kia...Đại úy cũng đang uống mừng."  Và theo tay chỉ...Nắng vàng chiều rực rỡ trên phông nền xanh cây lá.

Biệt Kích Nguyễn Văn Hải


Sợ / Chuyện Biệt Kích


Phước Long mới được tái chiếm lại. Ngày ấy ,Trung Tá Mã Sanh Nhơn là tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng. Trại B-34 LLĐB/HK lúc ấy chưa có LLĐB/VN . 
Thời gian ở đây trôi qua chậm chạp, lượn lờ và nhàm chán. Trừ một số nhân viên nhà bếp, giúp việc người Việt còn lại toàn là người Mỹ. Cuộc sống an nhàn nhưng vô vị không hứng thú. Nửa năm ở đây thế là đủ, tôi muốn thay đổi.

Lên gặp Trg/tá Joseph E Roy , tôi xin chuyển đến toán A.341 Bù Đốp. Nghe nói ở trại A đời sống sôi động hơn (lương cũng cao hơn)

Yêu cầu được chấp thuận, cắp theo cây guitar, tôi lên chopper vù đến Bù Đốp đất đỏ .

Mừng vui được gặp lại nhau, tôi được Đ/úy Hannawald trưởng trại cho tôi chọn lựa, hoặc quanh quẩn ở trại làm việc với ông, hoặc đi theo đại đội hành quân. Tôi xin đi hành quân  thay vì ở trại.  và tôi sẽ được phân bổ khi đại đội đi hành quân về.

Ông nói đại đội A thiếu thông ngôn, có lẽ tôi sẽ làm việc với đại đội Nùng này.

Tôi chờ đợi những mới lạ và sống động. Đại đội còn đang hành quân, chưa về. Tôi tha thẩn quanh trai, tìm hiểu, truyện trò và ngắm nhìn lung tung.

Trong trại, anh em biệt kích phần đông là Nùng, một ít người Kinh và còn lại là người Thượng (Montagnard). Tôi mến người Thượng. Họ chân chất và thật thà. Họ không sõi tiếng Kinh. Điều này sẽ rất tồi tệ khi có chuyện, lúc ấy tôi sẽ không làm tốt công việc của mình.  Chưa chính thức nhận nhiệm vụ rõ ràng với đại đội thì điều tôi lo sợ đã xảy ra…

Chạng vạng tối hôm sau, ngoài sân bắn , lúc thử súng, một hạ sĩ quan người Mỹ còn rất trẻ (không biết tên) đã để đạn lạc trúng một thanh niên Thượng khi đi ngang qua sân bắn. Viên đạn vô tình đã cướp đi một mạng người.

Biết chuyện sẽ không hay, Đ/úy Hannawald cho gọi gấp một Cessna, bốc ngay người lính Mỹ trẻ về B-34 Phước Long, chờ phương tiện đưa đi Nha Trang.

Ông chuẩn bị việc chia buồn, tạ lỗi cũng như đền bù cho gia đình người xấu số. Nhưng mọi việc không như ông nghĩ.


Khi chiếc Cessna khuất bóng sau rừng cao su, đất đỏ còn mù mịt cuối airfield, một số đông người trong buôn làng túa ra tụ tập trước doanh trại. Những ngọn đuốc bập bùng ánh lửa, những thân người đen nhãy mồ hôi chạy rầm rập, những khuôn mặt đầy kích động đang ra sức hò hét, trên tay họ là cung, tên . nỏ, rựa, dao cồng, chiêng, phèng, mõ đua nhau khua gõ rầm trời, họ cho thấy họ sẵn sàng sống chết mạng đổi mạng.

Trai được đặt trong tình trạng báo động, bạo loạn có thể xảy ra vì trong trại cũng có nhiều biệt kích người Thượng.. Mọi việc khó lường..

Ngột ngạt ..Căng thẳng .. dễ sợ  . .

Ông Hannawald lịnh cho tôi theo và chỉ được đi tay không.

Ông bước ra với cử chỉ thân thiện khi người thân của người xấu số được dẫn tới.

Chắp tay trước ngực, ông chào theo cung cách người Việt.

Trước mặt ông, một bà cụ người Thượng gày gò móm mém, lưng còng đang vật vã, khóc lóc lu loa, nước mắt nước mũi ràn rụa, tay chân khoa múa loạn xạ.

Tiếng khóc thương của người Thượng thật não lòng, khó diễn tả nếu không phải là một nhà văn.

Thật tiếc vì tôi không làm được việc đó. Nó như tiếng rú, tiếng gọi, trầm bổng, ỉ ôi, dai dẳng, khằng khặc , nghe não nuột và bi ai làm sao !

Ông Hannawald muốn biết tương quan giữa bà cụ và người xấu số. Tôi chậm rãi hỏi bà và hy vọng bà hiểu. Đáp lại, bà cụ chỉ khóc và rú từng chập trong sự kích động của đám đông người dân trong buôn làng

Ông Đ/úy giục giã hỏi tôi những lời kể lể của bà cụ. Nào tôi có hiểu gì?

Lời thúc giục của ông cộng với tiếng hò hét vang dậy của đám đông khiến tôi hoảng.

Tôi cố gắng hiểu cụ và cuối cùng biết rằng nạn nhân là cháu của cụ. Bố mẹ nó chết hết rồi.. Đau đớn quá ! Bà cụ chỉ còn mình nó …

Mỗi lân ông Hannawald hỏi tôi là tiếng hò hét lại to hơn, sự kích động được đẩy lên cao hơn. Đám người vây quanh chúng tôi nhưng ông không nao núng hoặc sợ sệt.

 Sự tự tin của người sĩ quan LLĐB được hun đúc ở Fort Bragg của ông đã giúp tôi bình tĩnh trở lại. Cả tôi và ông đều đổ mồ hôi. Ông tháo mồ hôi vì hơi nóng của lửa đuốc, của hơi người. Tôi đổ mồ hôi vì nóng và vì sợ hãi.

Cái sợ này khác hẳn với cái sợ trước lằn tên mũi đạn. Xông trận, sống chết có số. Hơn nữa, lằn ranh địch ta rõ nét. Đối mặt, ta chậm bóp cò ta tiêu. Mi chậm bóp cò mi ngủm.

Vậy thôi ! Nhưng, giờ này ở đây… trước mặt tôi không phải quân thù. Tôi đang ở phía  người bị lên án. Chúng tôi có thể lãnh một loạt cung tên, một loạt vết rựa, dao và đủ thứ giận dữ man dại đổ lên đầu, lên người.  Trong khi, chúng tôi lại không có vũ khí trên tay để chống trả. Nhưng nếu có , chắc gì tôi dám xả súng vào đám người người dân vô tội kia ? Nếu tôi chết trong hoàn cảnh này thì đau quá ! Chẳng fair tý nào

Vòng người xiết chặt hơn, tôi có thể cảm nhận qua cái nóng của đuốc, của mồ hôi người, mùi da khét nắng lẫn hơi thở dồn dập, giận dữ, xô đẩy của đám đông. Không khí ngột ngạt. Bà cụ bỗng  ngã qụy xuống đất ngất xỉu vì mệt và ngộp thở. Tiếng hò hét to hơn, tiếng cồng chiêng điên loạn om trời cùng tiếng dậm chân thình thịch, tôi nghĩ chắc chết vì sẽ có bạo động nếu không biết kềm chế ..

Nhưng, mọi việc dường như chựng lại ..tất cả im bẵng khi ông Hannawald quỳ một chân xuống đỡ lấy bà cụ. Rút mu soa từ trong túi, ông lau nước mắt, chùi nước mũi dãi cho bà cụ.  Đám đông dõi nhìn việc làm của ông, lẳng lặng ẵm bà cụ lên tay, ông chầm chậm đưa bà vào trại, hướng về phía trạm xá .

Ông Hannawald rất nhỏ con so với người Mỹ bình thường. Ông chỉ cao khoảng hơn thước sáu một tý. Chân thấp chân cao có lẽ do bị thương .

Hình ảnh người Đ/úy Mỹ nhỏ con, khập khiễng ẵm một bà cụ Thượng trên tay, lặng lẽ bước qua cổng trai khi người lính gác cổng đứng nghiêm chào thật xúc động. Không còn sự kích động nào, tiếng hò hét nay chỉ còn tiếng xì xào từ đám đông. Sự xúc động đều giống nhau nơi con người. Vài người người thân của bà cụ theo sau ông Hannawald đi vào Dispensary.

Ông Hannawald muốn bà cụ  được chăm sóc thật tốt. Cái TÂM của ông được thể hiện rất rõ. Anh em biệt kích thẳng người  khi ông bồng bà cụ bước qua.

Bên ngoài cổng trại, đám đông tản mạn ra về. Tôi tạm thở phào…

Những y tá người Kinh hiểu tiếng Thượng, họ giúp tôi giải thích cho ông. Ộng gật gù lắng nghe vẻ xúc động ..

Việc mai tang được tiến hành theo nghi thức của buôn làng với sự trợ giúp của trại.

Gia đình người xấu số được bồi thường.

Hành động của ông Hannawald phần nào hóa giải phẫn uất của buôn làng. Họ đã tha thứ .

Ông đứng ra nhận trách nhiệm cho thuộc cấp và tỏ ra hối tiếc về việc không hay.

Nếu không phải là ông, tôi nghĩ  mọi việc chắc chắn sẽ rất tồi tệ.

Mọi việc trở lại bình thường

Phần tôi,  tôi vẫn sợ.. Tôi SỢ lắm. Sẽ còn nhiều việc xảy ra vì ngôn ngữ bất đồng và điều đó sẽ khiến tôi không làm tốt công việc của mình. Suy nghĩ cạn cùng, viện cớ người nhà đau, tôi xin về phép . Được chấp thuận, bỏ lại cả cây đàn guitar, tôi gói ghém đồ lên chiếc C-123 chuồn thẳng. Tôi quay về B-34 và ở lỳ không dám về Bù Đốp nữa.

Bái bai Bù Đốp !!!   Bái bai Bye  A-341  !!! Tính ra , tôi ở Bù Đốp mới chỉ  mấy ngày.

Khi biết tôi không quay lại, ông Hannawald đã “Phắc” và “Cà chua” om sòm ! Sau đó , nghe nói ông đã tử trận trong một cuộc hành quân không xa trại lắm và ông được vinh thăng Thiếu tá.

Ít giòng viết về ông thay nén nhang tưởng nhớ đến người quân nhân Hoa Kỳ nhân hậu vì Tư Do của đất nước Việt Nam tôi , ông đã hy sinh.

Nghiêng mình kính cẩn vĩnh biệt Thiếu Tá HANNAWALD  C.O Det A-341

 Trước khi về làm C.O của  Bù Đốp, ông Hannawald là X.O của B-34 Phước Long. Thời gian này ông còn là Đại úy và tôi cũng đã được làm việc dưới quyền ông

Tôi trở lại trại B-34  sống cuộc sống nhàm chán, buồn tẻ..

                                                                                        

Saigon 15 tháng tám 2013

DSCĐ Đinh Đỗ Chung
Dược Sư Cao Đẳng
Dân Sự Chiến Đấu

Để mỹ miều hơn ta gọi : Biệt Kích Quân hoặc Sờ Cu (SCU=SpecialCommando Unit)


Nói và Hứa. / Nguyễn Cao Vỹ



Người đưng trước microphone Tr/Úy HY râu, người đang khom khom (không phải ngồi) là Tr/Úy Nguyễn Cao Vỹ


 Chỉ một lời nói hoặc một lời hứa đôi khi cũng làm ta nhớ  đến ai đó.
 Tôi muốn nhắc đến Trung Úy Nguyễn cao Vỹ và Đại Úy Đoàn kim Tuấn.
 Tôi là một Dân Sự Chiến Đấu (CIDG) và là thông ngôn (interprete) Tiếng Tây đọc nghe giống như “anh nói phét”. Tôi làm việc cho Trung Tá Snell (người da màu, cao nghệu) CO của FOB#1 Phú Bài.

 Công việc văn phòng rất nhàn nhã nhưng bị bó chân quanh quẩn lâu ngày trong trại khiến tôi ngán ngẩm, tôi xin qua làm việc cho Chỉ huy trưởng Tiền Doanh 1 lúc ấy là Đại Úy Đoàn kim Tuấn (Tuấn con) .
 Là người miền Nam, ông ăn nói từ tốn, thích dùng câu chữ bóng bảy dạy đời.
 Dáng người mảnh dẻ, đi đứng khoan thai, ông thích hợp trên bục giảng. Thật khó tin khi nghe ông từ TĐ 1/ SĐ Dù phái qua.
 Những ngày Chủ Nhật, ông thường ra Huế chơi.
 Tôi được ông tin cẩn nhưng không được ông ưa.
 Có lẽ vì tôi có họ hàng xa với Trung úy Phạm văn Hy (Hy râu) Chỉ huy Phó của ông.
 Ông ghét Hy râu vì là “thằng bắc kỳ”. Tôi bị lây. 
 Là một Đại úy trẻ, đẹp trai nên nhiều em mê nhưng ông là người chung thủy với vợ. 
 Ông quen cô Thu, người đẹp ngõ Nam Long (cầu Bạch Hổ đi thẳng qua).
 Cô để tóc thề, nhỏ nhắn , chúm chím luôn miệng “anh Tuẩn..anh Tuẩn”.. chân nhảy chim sáo mỗi khi  ông đến . Một hôm ông ngủ lại nhà cô, trên giường chỉ có hai người. Sáng dậy, cô vẫn nhí nhảnh. Qua nét thơ ngây, tôi biết …ông yêu nàng như yêu một bức tranh đẹp. Chính ông cũng thú nhận như vậy. Platonique !
 Còn một tháng nữa là Tết Mậu Thân.
 Nhớ bạn bè, tôi lên gặp ông và xin đặt cọc được về phép Tết 07 ngày. Ông nói : “Được , tôi hứa với chú !” Lòng vui rộn rã  tôi viết thư báo tin cho bạn bè : Tết này tao sẽ về.
 Ôi  Saigon, dancing Tự Do với các em Minh Sơn, Thu Hương, Thanh Thúy “tàu”, Thu “lai”.. Olympia với Kiều Chinh, Bích Ly . Mỹ Phụng với các em Trang, Thủy và cả đám bạn bè Quý lỏi, Triển, Tuấn hô, Chính đang chờ đợi. 
 Còn mươi ngày là Tết. Tôi chỉnh tề, chắc mẩm, lên gặp ông Tuấn để lấy phép. Thật không ngờ, tôi bị ông từ chối một cách lạnh lùng: “Không đi đâu cả, ở lại trại !” Một chén nước lạnh hắt vào mặt .
 Cảm xúc khó diễn tả, nghẹn ngào, uất ức, ngỡ ngàng. 
 Vâng, thưa  Đại Úy ! Nghèn nghẹn trong cổ , tôi nghiêm chào và thất vọng ra về. 
 Những cây mai (trồng dọc bên Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa) có hoa lác đác nở. Tôi kéo cao cổ áo Field Jacket cho bớt lạnh, rút điếu Pall Mall ra đốt. Bật quẹt Zippo đến mấy lần mà cũng không cháy…gió cuối Đông quái ác cả với tôi. Vò nát điếu thuốc, tôi về phòng buông mình xuống giường chán nản.
 Chỉ ít ngày nữa là giỗ ông Táo…
 Tôi nghĩ đến lời hứa của ông Tuấn. Tại sao ông làm vậy ? Hay ông giận vì có lần đến thăm nhà ông, gặp vợ ông tôi buột miệng: Chào chị Thu …
 Không lẽ ?? 
 ……………………………………………………………………………………
 Tết Mậu Thân , Tiền Doanh 1 Phú Bài.

 Ầm …ầm ..ầm …Chíu chíu..Ùng Oàng…
 Việt Cộng pháo kích lung tung, vô tội vạ, bừa bãi không có mục tiêu rõ rệt !
 Toàn trại được lệnh bỏ sam, ra ngoài vành đai tuyến phòng thủ.
 Đêm đó, trại lãnh mấy quả nhưng chưa biết chỗ nào. Hỏa châu đầy trời, đại bác ì ầm, súng nhỏ ròn nổ gần xa. 
 Đang nằm căng mắt nhìn qua lỗ châu mai trong hầm trú ẩn tôi nghe lao xao và có tiếng gọi: Chung đâu ? George đâu ?
 (George là tên mà người Mỹ gọi tôi khi cần giúp.) Tiếng gọi vẫn ý ới xen lẫn tiếng súng đại liên nổ ròn xa xa và tiếng ì ầm của pháo binh ta và hỏa tiển địch rơi vãi. Nhìn về phía Huế, những ánh lửa chớp sáng liên hồi.
 Nhìn ra, tôi thấy Trung Úy Vỹ, Toán trưởng toán đặc biệt Lê Lợi (tất cả toán viên đều là ARVN, không có BKQ, đi công tác toàn xử dụng AK47) đang cùng đi với Trung Tá Snell. Tôi trèo lên, nghiêm chào . Hỏa châu lốp bốp nở sáng trên trời,  tôi thấy ông Snell lêu nghêu, đen bóng tương phản với ông Vỹ nhỏ con, trắng trẻo trông rất thư sinh mà tôi mắc cười.
 Phong phanh trong chiếc áo nhái (áo lót của QĐ Hoa Kỳ) màu rêu,vai choàng khẩu AK47, ông Vỹ ngắn gọn : “ Cả hai ông Trưởng, Phó đều đi phép và kẹt lại Saigon, tôi là sĩ quan VN cao cấp nhất còn lại, Trung Tá Snell lên kế hoạch cho trại, do đó tôi cần thông dịch viên.” 
 Tôi không gần ông Vỹ nhiều như các ông Tuấn, Hy. Ngày ông về trại, tôi nhớ ông đã gặp chuyện với ông Hy. Ông ở bên BĐQ chuyển qua, đến trình diện ông Tuấn. Hôm ấy có mặt ông Hy. Ngỡ là đồng cấp Trung Úy, ông Vỹ sôi nổi anh anh tôi tôi với ông HY (thật ra ông Vỹ chỉ muốn chân tình, mộc mạc với đồng cấp . Ong Vỹ có tính cách chân chất,  mộc mạc đáng quý của người Nam bộ ) Nhưng ông Hy  nghiêm mặt thẳng thừng: Trung Úy phải gọi tôi là Trung Úy và dạ, thưa cho đúng mực vì tôi là Trung Úy Chỉ Huy Phó ..hiểu chưa ? . Ông Vỹ choáng váng, sượng sùng : Vâng, thưa Trung Úy ! 
 Quả thật, ông Hy quá đáng. Cũ hù mới . Ông Tuấn hòa dịu nhẹ nhàng : Thôi đi ! Tôi bảo thôi đấy…
 Từ hôm ấy tôi đâm ghét ông Hy và mến ông Vỹ. Ông vui vẻ, thẳng thắn chẳng khác  ông Trung Úy Lê Minh (Minh đen) vậy. Nghe ông Vỹ kể chuyện, bất cứ chuyện gì cũng thấy sôi nổi, ngay cả chuyện cái áo lạnh màu xanh, trắng mà người nhà của ông từ Canada gửi qua, ông cũng sôi nổi về những kỷ niệm với người gửi chứ đừng nói chi đến chuyện ông kể lại những chuyến đụng độ trong rừng. Ông hào phóng với nụ cười , do đó mọi người đều mến ông nhất là khi ông cười có thấp thoáng chiếc răng niền vàng. Tôi thấy lạ với ông Trung Úy BĐQ trắng trẻo, roi roi người có dáng thư sinh mà lại nhập qua đơn vị Lôi Hổ này. Tôi thầm nghĩ , ở nhà chắc công tử này ẻo lả lắm. Tôi lầm !!! Lầm to !
 Vói tay lấy cây CAR15 , tôi bước ra theo ông Snell và ông Vỹ. Cao lêu nghêu nhưng nhanh nhẹn, ông Snell nhảy qua những giao thông hào dễ dàng. Nhỏ gọn như thư sinh nhưng ông Vỹ chẳng thua kém, ông cũng phóng qua hào, băng băng trên nóc những hầm trú ẩn. Còn tôi chậm rãi theo sau. Đến những nơi thấy không vừa ý, ông Snell trao đổi với ông Vỹ… tôi dịch lại và ông Vỹ ôn tồn nhưng sắc nét với anh em BKQ: “ Trần thấp và mỏng quá, các anh phải đắp thêm bao cát “.. Các anh nên thế này… thế khác.. Có lúc ông Vỹ dừng lại truyện trò với các anh em BKQ sau đó bước nhanh theo Trung Tá Snell và đề nghị cấp thêm nhu cầu mà anh em BKQ muốn. Tôi cảm mến vị sĩ quan trẻ này. Những ngày này ông lăng xăng khắp nơi trong doanh trại, tìm hiểu, dặn dò . Vì cắm trại 100%, không mua được đồ tươi sống, phải ăn toàn đồ hộp  nên ông cẩn thận dặn dò Trung sĩ Tốn, người phụ trách nhà ăn của Toán nên thế này, phải thế khác. Tôi phát mệt với sự chu đáo của ông . Vì mọi nhận định của ông tôi đều phải dịch lại với ông Snell và ngược lại. Tôi cũng không được nghỉ nhiều.. Mệt chẳng kém
 Những ngày Tết không có Tết này, Phú Bài lạnh cóng. Đang co ro trong hầm với chiếc Poncho linen màu hoa dù, mắt căng ra qua màn đêm bỗng nghe tiếng gọi: Chung đâu ? George đâu ? Tiếng ông Vỹ từ xa. Nản quá, lại có chuyện nữa.. Tôi miễn cưỡng: Thưa Trung úy, tôi đây… Tiếng hỏa châu lốp bốp nổ trên trời, qua ánh sáng nhá nhem tôi thấy Trung úy Vỹ sôi nổi: Lẹ lên !..Chung , có chuyện cần xong lần này tôi thưởng cho cậu.. tôi nghĩ đến lời hứa của ông Tuấn , tôi hỏi lại:  Có quà ư ? Trung úy hứa nhé ? ra Huế ngủ đò hén? Ông nghiêm mặt : Tôi chỉ nói sẽ thưởng, nhưng tôi không hứa . Đi mau theo tôi… Đến nơi, té ra chẳng có gì quan trọng.. vài anh em BKQ ở đại đội trấn gần cổng trại vì quá lạnh, họ tháo phá những tấm lát giường để đốt sưởi ấm, HSQ an ninh trưc trại người Mỹ không hiểu nên có chuyện. Trung úy Vỹ kịp đến và tôi giúp ông giải thích. 
 Ông Vỹ luôn lăng xăng đây đó giải quyết việc trong trại những ngày vắng Chỉ huy trưởng, thiếu Chỉ huy phó. Lời ông nói, việc ông làm ông đều được ông thực hiện trọn vẹn. Tôi quý ông Vỹ và nhanh chóng quên chuyện ông đã nói gì ..


  Mấy ngày sau, ông Hy từ Sàigòn ra . Ông Hy cho đào một hầm CP (command post) đặt máy truyền tin để báo cáo về Sở Liên Lạc. Hạ sỹ Thương và một HSQ nữa (không nhớ tên) hằng đêm ngồi quay máy truyền tin đầu bò. Lúc ấy, ông Hy, ông Vỹ, Trung sỹ Vang, Trung sỹ Phồn và tôi cùng chơi Phé sát phạt nhau. Ngoài kia , đêm đen lạnh giá..trong hầm chúng tôi vẫn ồn ào tố Phé nhau. Ông Hy có cái máy AKAI cầm đi chuộc lại mấy lần trong đêm. Tình chiến hữu luôn đằm thắm… ông Vỹ lâu lâu bỏ ra ngoài đi vòng quanh trại thăm hỏi, truyện trò, phì phèo thuốc lá cùng anh em BKQ. 
 Mấy ngày sau ông Tuấn mới từ Saigon ra.
 Chẳng có gì lớn lao sau đó, trừ một việc khiến tôi buồn. Tất cả các sam trong trại đều nguyên vẹn trừ sam của các Toán cháy đen vì trúng hỏa tiễn của VC. Không còn gì ngoài nên xi măng và những tấm tôn xạm khói. Tôi nhớ như in về những lá thư, những bức ảnh của Vân, người tôi yêu, lần cuối cùng đọc xong tôi cất trong ngăn kéo trên cùng của bàn làm việc. Giờ đây trên nền hoang tàn, chẳng tăm tích gì còn lại. 
 ………………………………………………………………………………

 Mọi việc dần trở lại bình thường khi VC bị đánh lui, Huế được tái chiếm. Người vui vì được trở về nhà, người buồn khóc thương cho người thân bị VC sát hại. Nhưng Huế tang thương quá, Huế điêu tàn đến buốt ruột. Bao nhiêu gia đình bị mất mát người thân. Cửa nhà nát tan. Nhà thờ, đình chùa cũng thế. Đạn bom đã cướp đi mọi thứ.  Huế điêu tàn. Trong trai có nhiều nhân viên dân chính bị VC lại tận nhà sát hại. Hình như gia đình bên vợ của Đại úy Tống hồ Huấn cũng không tránh khỏi. Tất cả chỉ biết ngậm ngùi xẻ chia, nhìn nhau ái ngại. Biết nói gì !
 Một hôm, Trung úy Vỹ từ Saigon ra, gọi tôi đến và nói: Quà của Chung đây ! Ngạc nhiên đến ngớ người. Tôi nhìn tờ giấy dàu vàng cuộn tròn và cái hộp vuông bé xíu như hộp quẹt. Ông nhắc: Mở ra đi ! Tôi nhíu mày chầm chậm mở tờ giấy: Anh Dũng Bội Tinh ngôi sao đồng. Tên họ đầy đủ của tôi.. bên tay kia là cái hộp nhỏ đựng mề đai . “ Tôi có làm gì xứng đáng ?” “Có đấy” Tôi nhận quà từ tay ông Vỹ lòng nhiều cảm xúc. 
 Tôi thấy ngượng nhưng không thể nào từ chối ông Vỹ. Tôi rất trang trọng nhưng không bao giờ đeo mề đay ấy. Trong thẳm sâu, tôi thấy ngượng nhưng tôi hiểu ông Vỹ muốn gửi gấm gì ở tôi. Tôi nhớ lại lới ông: Tôi nói chứ tôi không hứa .
 Chuyện nọ lại xọ chuyện kia. Lời ông Tuấn hứa và lời ông Vỹ nói.
 Cám ơn Đại úy Tuấn và cám ơn Trung úy Vỹ.
 Nếu ông Tuấn không hứa thì lời nói của ông Vỹ cũng chả có ý nghĩa là bao.
 Nếu ông Tuấn giữ lời hứa thì tôi không có dịp để hiểu biết về ông Vỹ.
 Lời hứa của người ngồi bàn giấy
 Lời nói của người xông trận


 Tiền Doanh một chuyển trại về CCN/Đà nẵng. Chiến đoàn trưởng Trung Tá Nguyễn Tuấn Minh. Trại nằm dưới chân núi Non Nước, sát bờ biển .
 Tôi làm việc dịch thuật huy chương dưới quyền Đại úy Trần lưu Huân sau lên Thiếu Tá. Ông Hy lên Đại úy và làm bên Ủy Ban Hỗn Hợp Quân Sự Bốn Bên 
 Ông Vỹ lên Đại úy và làm bên phòng Hành Quân ở TOC nhà đen. Ông Tuấn về Sở lên Thiếu Tá
 Tôi và ông Vỹ vẫn thăm hỏi nhau, có lần uống bia nữa. Thi thảng thôi !
 Ong Hy ở xa về có tặng tôi một bê rê đỏ hiệu Plein Ciel (mũ đúc của Pháp).
 Một tối, đang hát hò trong đám có cả ông Hy, bỗng nghe tin ông Vỹ bay Covey, máy bay  trúng đạn địch rơi tan xác. 
 Căn phòng bỗng lặng. Mọi người nhìn nhau không nói.
 Ông Hy buông cuốn tập nhạc sững sờ. Tôi ngưng đàn, cổ họng khô đắng.
 Chúng tôi ai nấy về sam của mình. Lòng trĩu nặng tôi ngoái nhìn ông Hy. Có giọt nước long lanh nơi khóe mắt của ông râu. Ai bảo Lôi Hổ không biết khóc ? Sóng biển vỗ bờ nghe như tiếng gào..



 “Tôi nói chứ tôi không hứa”…Nhớ lại lời ông Vỹ .
 Hai động từ Nói và Hứa không liên quan với nhau nhưng với tôi chúng mang nhiều cảm xúc mỗi khi phải dùng tới.
 Nguyện xin linh hồn cố Thiếu Tá NGUYỄN CAO VỸ yên ả trên cõi vĩnh hằng.

 Ở bên VN này, mỗi khi đi ngang qua Sở cũ, tấm bảng viết Trại NGUYỄN CAO VỸ không còn nữa, nhưng chúng tôi những người biết anh thì không bao giờ quên anh được. 

 Lần đầu tiên kể về một chuyện trong đời Lôi Hổ .