ĐỜI KỴ BINH-Chiến Lê


Đã từ lâu rồi tôi muốn viết chuyện đời Kỵ Binh của tôi, chỉ hơn một năm đội chiếc mũ đen, chịu đựng nổi gian khổ của một Sĩ Quan còn quá trẻ với tuổi đời và trách nhiệm quá lớn của một Chi Đội Trưỡng.

Cuộc đời Kỵ Binh có nhiều nổi đau hơn là chiến công hiển hách, không huy chương, không hào quang ngụy trá tô điểm cho cuộc đời binh nghiệp ngắn ngủi của tôi. Tôi mản khóa 56 SQCBTG cuối tháng 3/1974, sau một tuần lể ngắn ngủi về thăm nhà rồi vào Sài Gòn trên chuyến bay của hảng HKVN mà mẹ tôi đã bán chiếc nhẩn cưới để tôi có tiền mua vé, vì đường bộ vào Sài Gòn rất nguy hiểm trong lúc đó, VC hay chận xe đò thu thuế, bắt thanh niên trẻ tuổi vào rừng hay lính VNCH đi phép xui xẻo gặp tụi nó.

Tôi về Biên Hòa trình diện BCH Lữ Đoàn III KB, cũng con đường quen thuộc mà tôi đã đi qua trong những ngày đi phép về Sài Gòn, khi còn thụ huấn tại trường Thiết Giáp Long Thành, mà bây giờ thì khác hẳn nhau, tôi sẻ nhận một nhiệm vụ mới, một trách nhiệm nặng nề của một cấp chỉ huy chỉ hơn 21 tuổi đời, trong hoang tàn đổ vở của cuộc chiến do kẻ thù cùng chủng tộc từ phương Bắc. Tôi sinh ra và lớn lên bên dòng sông Vu Gia hiền hòa, thuộc quận Đại Lộc, tỉnh Quãng Nam, con lớn trong một gia đình có 6 trai, 2 gái, ba tôi là HSQ Pháo Binh của SĐI BB, khóa 8/62 HSQ ĐB, tôi khóa 8/72 SQTB cũng chung trường Đồng Đế cách nhau 10 năm.


Tôi chọn về LĐIII mặc dù tôi đậu thứ sáu và mỗi nhóm 5 người tôi là người đầu tiên của nhóm thứ hai, tuy nhiên vì chuyện tình cảm ngu ngơ của ngày mới lớn, tôi đã làm trái lời mong ước của mẹ tôi là muốn tôi chọn đơn vị về vùng I CT cho gần nhà. Ngày đứng trước mặt Đ/Tá Trần Văn Thoàn Tư lịnh phó LĐIII XK nhận lảnh đơn vị về Thiết Đoàn 18 tôi nhớ mẹ tôi muốn rơi nước mắt khi biết từ đây sẻ còn có dịp gặp lại mẹ tôi không.


Tôi và Thông cùng dân Đồng Đế nó khóa 10/72 được bổ nhiệm về Chi Đoàn 2/18, hai đứa mang hành trang qua BCH CĐ 2/18, được ông Th/ Sĩ thường vụ cho hai giường bố bỏ đồ và đợi sáng mai xe GMC chở lên Tân Uyên Biên Hòa chi đoàn đang đi ủi rừng ở đó, hai thằng ghé CLB của TĐ ăn cơm tối uống cà phê ngồi nói chuyện đời cho đến khuya, chuẩn bị cho ngày mai không biết cuộc sống sẻ về đâu trong cuộc chiến, mà sống chết trong đường tơ kẻ tóc.

Chiếc xe GMC chở tôi và Thông rời phố Tân Uyên, rẻ qua con đường đất đỏ trực chỉ về phía Tây hai bên là rừng chồi, tôi nhớ quê tôi phía Tây Mỹ Đông, cũng rừng chồi bên nay Hà Nha gần quận Thường Đức, có sim rừng màu tím ngọt lịm, tôi nhớ bài thơ màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu Loan nhưng tôi không có vợ, tôi không lo sợ chiếc bình hoa ngày cưới trở thành chiếc bình nhang, tôi không nghe tiếng người con gái trong thơ mà chỉ nghe tiếng đạn nổ và khói mịt mù trước mặt, anh tài xế bảo chúng tôi lội bộ vào khi chi đoàn bố trí trên đường rút quân ra trong nhiệm vụ ủi rừng, Thông về chi đội 2, tôi chi đội 4 súng cối 81 ly.

Chi đoàn trực chỉ về Phú Chánh phía Tây trại cùi Bến Sắn, dưởng quân và lục soát khu vực nầy được vài hôm thì Chi đoàn di chuyển lên Trảng Bàng, tôi thích viết văn, làm thơ dù chẳng có hay ho gì, mỗi lần dừng quân hỏi tài xế Hùng ở đó có gì nổi tiếng, tôi sẻ làm thơ chép vào trong nhật ký, nó bảo tôi viết cho tập san Vó Câu Biên Trấn của LĐIII XK, nghe chuyện Tha La xóm đạo tôi ao ước qua đó nhưng CĐ vào Khiêm Hanh và Trị Tâm giải tỏa áp lực địch trên đồn Chà Rầy và Bò Cạp nên không có thì giờ làm thơ, tại trận đánh đồn Chà Rầy đi với 1 trung đội Trinh Sát SĐ 25 BB tôi mới thấy cái nguy hiểm của trận mạc, xác chết bó trong poncho bỏ lên trực thăng và binh sỉ bị thương rên rỉ chờ tản thương, cảnh tượng rất buồn, tôi không biết gia đình của họ sẻ ra sao khi nhận được xác chồng con đem về mai táng, tôi có nhiều đêm không ngũ được, nổi lo sợ nào về trong giấc mơ làm tôi thao thức, không có em gái hậu phương choàng vòng hoa chiến thắng, chỉ có người cô phụ quấn khăn tang trong nước mắt tủi buồn, chiến tranh là vậy đó không biết bao giờ đến phiên mình, nếu tôi có mệnh hệ nào mẹ tôi sẻ ra sao, sẻ không còn những ngày đợi mong con nhưng sẻ có nhiều đêm dài trong nước mắt.

Giửa tháng 4/74 CĐ đóng quân tại Lò Chén bên xa lộ Đại Hàn, tỉnh Bình Dương, nữa đêm di chuyển lên Gò Dầu Thượng vượt biên giới vào Kampuchia để giải vây căn cứ Đức Huệ, CSBV tấn công bằng hỏa tiển 122 ly lúc chi đội tôi đi bên hông phải của đội hình chử U, CĐ quay hướng về bên phải thanh toán mục tiêu và phá hủy toàn bộ hỏa tiển đặt nơi nầy, tôi xuống các địa đạo và hầm hố của CSBV lục lọi hy vọng tìm được cái gì đó làm kỹ niệm, tôi thấy một túi xách loang lổ với vết máu, mở ra tìm thấy cuốn vở nhàu nát, vàng úa của loại giấy rẻ tiền, trong đó lá thư của một anh bộ đội viết gởi cho mẹ được nửa chừng, anh hứa sẻ cố gắng trên con đường đấu tranh chống Mỹ Ngụy để mẹ anh có thêm khẩu phần mua đường làm bánh trong ngày Tết đến, tôi nghe lòng chùng xuống, không biết bây giờ anh chết rồi mẹ anh có mua được thêm đường làm bánh không, hai kẻ không cùng chiến tuyến có cùng nổi lo cho mẹ, dù sao nổi lo của tôi cũng đở hơn, tôi lo không có tôi về ăn Tết, ăn bánh tráng cuốn với thịt ba rọi xông khói, tẩm chút mắm với đường, mà mẹ tôi thường làm trong dịp Tết, chắc mẹ tôi sẻ buồn, sẻ khóc.

Tôi đã khóc trên đường vượt biên giới về phía Việt Nam tôi khóc cho bà mẹ không có con về ăn bánh Tết, tôi khóc cho mẹ tôi khi nghe bản nhạc Xuân nầy con không về, mẹ tôi thường nói trong thư gỡi cho tôi, Tết con không về mẹ ăn mải không ngon, mẹ sẻ sống đến cuối đời canh cánh một nổi buồn nhớ con, tôi nghe mắt cay cay và môi mặn chút gì khi chi đoàn dừng quân taị QL 1 Gò Dầu Hạ dưỡng quân và bổ sung đạn dược.

Đầu tháng 5 năm 1974, sau cuộc hành quân vào Kampuchia để giải vây căn cứ Đức Huệ , nằm trong quận Đức Hòa thuộc tỉnh Hậu Nghỉa, do Tiểu Đoàn 83 Biệt Động Quân biên phòng trấn giữ, chi đoàn 2/18 Thiết Kỵ có nhiệm vụ giữ an ninh trên quốc lộ 22 từ Bình Dương về Củ Chi,Trảng Bàng và Gò dầu Hạ, cho đến giữa tháng 5 năm 1974 khi chi đoàn nhận lịnh di chuyển về Bến Cát, một quận lỵ nằm trên đường về Lai Khê, cách Bình Dương hơn 10 cây số dọc theo quốc lộ 13, một con đường đã đi vào trong chiến sữ với địa danh An Lộc, mà những tháng ngày còn lặn lội ở quân trường Đồng Đế, Nha Trang ,tôi chỉ nghe tên mà không có lúc nào hình dung trong đầu óc, là có một ngày nào đó tôi sẻ trực tiếp tham chiến tại vùng nầy, mục đích của cuộc hành quân là yểm trợ cho Sư Đoàn 18 Bộ Binh tái chiếm An Điền và căn cứ 82 đã bị sư đoàn 9 Cộng Sản Bắc Việt tấn công và tràn ngập trong 2 ngày 16 và 17 tháng 5 năm 1974.Chi đội trưởng chi đội 4 là Chuẩn Úy Nùng ông Nội về hậu cứ trị bịnh, nên tôi tạm thời chỉ huy chi đội 4 trong cuộc hành quân nầy, đây là cái nhìn hạn hẹp của của một sĩ quan chi đội trưởng vừa ra trường không đầy 3 tháng, trong một trận đánh dữ dội mà tổn thất của hai bên lên đến cả ngàn người.

Chi Đoàn 2/18 TK dưới quyền chỉ huy của chi đoàn trưởng Đại Úy Trần văn Làm vào quận Bến Cát ngày 17 tháng 5 cùng với Tiểu Đoàn 64 Biệt Động Quân tùng thiết , trong lúc các toán trinh sát của SĐ 18 BB đi vào bố trí bên nầy bờ sông Thị Thính và chờ lịnh vượt sông , CSBV bắt đầu pháo kích vào quận lỵ bằng đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly và 107 ly suốt ngày, nên những người dân ở đây đã di tản về một vùng bình yên nào đó.

Ngày 25 tháng 5 chi đoàn di chuyển đến bờ sông Thị Thính để yểm trợ cho Lực lượng BĐQ và trinh sát SĐ18 BB tái chiếm An Điền,một chi đội chiến xa M48 của TĐ 22 CX,chi đội 1 chiến xa M41 của Th/Úy Lân án ngử tại đầu cầu, bên hông có chi đội 2 thiết vận xa M113 của Th/Úy Dạ và chi đội 3 M113 của Th/Úy Viên , chi đội 4 của tôi chỉ huy còn có 3 xe M113, trang bị súng cối 81 ly nằm trên đường tỉnh lộ 14 ,cách sông Thị Thính chừng 500 thước, từ đây nhìn qua bên kia cầu là môt đoạn đường khoảng 100 thước hai bên là sình lầy, xác của 2 chiếc xe tăng T 54 bị bắn hư hại bởi một đơn vị bạn vẩn còn nằm bên phải của đoạn đường nầy. Đạn pháo của địch vẩn tiếp tục rơi vào bên nầy sông và thỉnh thoảng một vài trái hỏa tiển AT-3 từ bên kia sông bắn qua nhưng không gây một thiệt hại nào đáng kể, bên kia sông địch quân di chuyển vủ khí, đạn dược và đào công sự phòng thủ đợi chờ.


Từ đây cho đến cuối tháng 5 năm 1974 ,TĐ 64 BĐQ và trinh sát SĐ 18 đã lấy lại một phần phía đông của làng An Điền, nhưng cầu sông Thị Tính và đường vào An Điền không đủ khả năng an toàn để Chi đoàn 2/18 TK vào yểm trợ cho các đơn vị bạn. Ngày 1 tháng 6 Trung Đoàn 52, SĐ 18 BB băng qua cầu Thị Thính vào An Điền, chi đoàn nằm bên nầy bờ sông Thị Thính xử dụng đại liên 50, đại bác trên chiến xa M 48 và M 41 để yểm trợ cho cuộc tấn công, Chuẩn Úy Trần văn Đình cùng khóa 8/72 SQTB Đồng Đế với tôi là trung đội trưởng trinh sát của SĐ 18 BB đã tử trận ngày hôm đó, trong thời gian nầy Công Binh chiến đấu đã tu bổ cầu và đường vào An Điền, ngày 4 và 5 tháng 6 với sự hổ trợ của Trung Đoàn 48, SĐ 18 BB và BĐQ đã tái chiếm An Điền và mở đầu cho cuộc tấn công của Chiến Đoàn 318 Xung Kích trên đường về căn cứ 82.

Chiều ngày 6 tháng 6 năm 1974, chi đoàn vượt qua cầu Thị Thính, tôi lội bộ trên đoạn đường vào làng để chỉ dẩn chi đội 4 vượt qua một bải lầy thì Cộng quân bắt đầu pháo kích trên đường vào An Điền, tôi phải nhảy vào trong một chiến xa T54 cộng quân còn bỏ lại trên đường để tránh pháo, Trung sỉ Phước, một trưởng xa trong chi đội 4 và 2 người lính BĐQ bị thương nặng, xe tôi bị gảy cây antena nên tôi xử dụng xe của TS Phước để xử dụng máy truyền tin và hướng dẫn chi đội 4 vào An Điền khi trời vừa sụp tối, trong cơn mưa đầu mùa tháng 6 của miền Nam. Chung quanh làng An Điền hàng chục xác chết CSBV rải rác trên đường ,một số nằm trên bờ ruộng và một phần lớn chôn vùi trong giao thông hào kiên cố, mà cộng quân đã che đậy với những tấm lưới đan bằng cây chồi và phủ đầy với 5, 6 tất đất, những xác chết CSBV đã để lại sau hơn hai tuần lể giao tranh nên mùi hôi thối rất khó chịu, đêm đó CS tấn công phòng tuyến của SĐ 18 BB và tiếp tục pháo kích vào An Điền, trong xe ngoài tôi ra chỉ còn có Hùng tài xế và Thạch là một tân binh mới về đơn vị làm xạ thủ đại liên, cả ba đứa tôi thay phiên canh gác đợi chờ sáng mai vào giải tỏa căn cứ 82.

Tờ mờ sáng ngày 7 tháng 6 chi đoàn di chuyển ra khỏi làng An Điền về hướng Bắc , đội hình di chuyển với chi đội 1 và 2 đi hàng ngang ,đi hàng dọc hông bên trái là chi đội 3 và hông bên phải là chi đội 4 của tôi chỉ còn hai xe liên lạc bằng máy truyền tin, xe còn lại chạy theo sau và tôi ra dấu hiệu bằng tay . Chi Đoàn tiến vào khoảng 200 thước thì đụng độ chốt đầu tiên của CSBV, hàng cây chồi và cỏ ở đây cao hơn một thước nên khó nhìn rỏ địch quân ở đâu, trận đánh kéo dài suốt ngày, dưới cơn mưa pháo của tất cả các loại từ đại bác 130 ly, hỏa tiển 107ly, 122 ly, súng cối 82 và 61 ly của cộng quân, chi đoàn di chuyển rất chậm, một số binh sỉ BĐQ và thiết kỵ tử thương trong khi địch bỏ lại nhiều xác chết trong các hầm hố xây dựng rất kiên cố, tối đến chi đoàn vòng lại bố trí phòng thủ, nửa đêm đặc công CS xâm nhập vào vòng đai và cuộc chiến tiếp diển, tôi nghe máy truyền tin, nhận tọa độ và bắn súng cối yểm trợ trước phòng tuyến của thiết giáp và BĐQ, mổi lần nghe tiếng động phía trước đầu xe thì tôi ném vài trái lựu đạn đề phòng đặc công tấn công.

Sáng hôm sau trước khi di chuyển vào mục tiêu, Hùng tài xế lấy C4 [thuốc nổ trong mìn Claymore] nấu ca nước nóng đổ vào bịch gạo sấy, ba đứa tôi chia nhau ăn với ba miếng khô cá sặc bằng hai ngón tay và cả ba đứa uống chung một ca nước lạnh, rồi sẳn sàng vào trận địa để tiếp tục thêm một ngày máu lữa, ngày nào cũng vậy sau những miếng cơm sấy với cá khô, súng đạn sẳn sàng khai hỏa khi vào mục tiêu, xông pha trong tiếng đạn thù, để đêm về trong giấc ngủ không yên nghe đạn pháo rơi đầy trên chiến lũy, chi đoàn tiến quân còn cách căn cứ 82 một cây số thì CS phản công dữ dội, tử thủ trong hầm với B40, B41 , 82ly không giật với pháo binh yểm trợ từ Lai Khê và phía bắc căn cứ 82, ban đêm địch xữ dụng đại liên 12 ly 7 từ những chiến xa T 54 và PT 76 đã bị hư hại bởi pháo binh hay phi cơ oanh kích trước đây, bắn vào khi đơn vị phòng thủ ban đêm, mổi ngày chi đoàn tấn công chiếm được 50 đến 100 thước, ban đêm lùi lại 50 thước để vào vị trí phòng thủ và ngày hôm sau lại tiếp tục tấn công, chi đoàn cầm chân tại chổ cho đến 13 tháng 6 thì Chiến Đoàn 315 Xung Kích vào tiếp viện. Chi Đoàn di chuyển qua khỏi An Điền, vượt cầu Thị Thính về giử an ninh trên quốc 13, bổ sung quân số và đạn dược đồng thời bảo vệ các căn cứ pháo binh của Tiểu khu Bình Dương và SĐ 18 BB, yểm trợ các đơn vị bạn còn tiếp tục trên đường về giải tỏa căn cứ 82.

Ngày 20 tháng 6 năm 1974 chi đoàn di chuyển về tỉnh lộ 1A trên đường đi Phú Giáo , ngày hôm sau tôi nhận lịnh về Lử Đoàn III Kỵ binh, khi về đến Biên Hòa mới biết tin tôi được thuyên chuyển về Chi Đoàn 2/15 TK, ngày 22 tháng 6 tôi trở lại An Điền trình diện tại bộ chỉ huy Thiết Đoàn 15,nằm tại phía đông nam làng An Điền. Ngày hôm sau CĐ 2/15 TK rời An Điền thay thế bởi CĐ 2/18 TK và mấy ngày sau tôi được tin Đ/Úy Trần văn Làm tử trận trên đường về căn cứ 82.

Đầu tháng 10 năm 1974, khi CĐ 2/15 TK hành quân trên QL 20 về Định Quán, Phương Lâm, tôi nghe tin SĐ 5 BB đã tái chiếm và treo cờ vàng ba sọc đỏ trên căn cứ 82, tôi rất vui mừng vì sau gần 4 tháng với các đơn vị bạn BĐQ, SĐ 18, SĐ 5, SĐ 25 BB và Lử Đoàn III XK với các chiến đoàn 315, 318 và 322 XK, nhiệm vụ giải tỏa căn cứ 82 đã thành công, bù lại tổn thất của hai bên lên đến cả ngàn người, những đổ vỡ của chiến tranh trên phố Bến Cát và điêu tàn của ngôi làng mang tên An Điền, mà thửa ruộng cũng không còn ngày tháng bình yên. Tôi nhớ mải về Hùng, nhớ câu chuyện về quê hương của Hùng ở Tây Ninh, những hứa hẹn có ngày về thăm khi đơn vị hành quân qua lối đó, tôi nhớ mãi những người kỵ binh anh dũng của CĐ 2/18 TK, những người đã cùng tôi chia xẻ những ngày dài trong chiến trận, tôi nhớ Hùng và Thạch những ngày chia nhau nắm cơm sấy ăn vội vàng với miếng cá khô, ngồi bên nhau đếm từng tiếng đạn pháo rơi về trên trận tuyến, ước mong hai chử bình an, tôi thương mến vô cùng những kỵ binh đồng đội của tôi và những chiến hửu của các đơn vị bạn, đã hy sinh trên chiến trường An Điền và trên đường về căn cứ 82.

Tôi và Thiếu Úy Long lên xe Jeep từ BCH LĐIII ở Biên Hòa , trực chỉ Bình Dương rẻ qua QL 13, Long cho tôi biết là từ lúc ra trường cho đến khi thăng cấp Thiếu Úy gần một năm nay chưa có lần ra đơn vị tác chiến, chỉ ở BCH làm ban 3 của LĐ, tôi dặn dò Long cẩn thận vì trận chiến trên đường về căn cứ 82 rất nguy hiểm, không biết chi đoàn 2/15 đi đến đâu rồi, hai đứa trình diện Bách Thảo tại BCH của TĐ 15 ngay giữa làng An Điền thì CSBV bắt đầu pháo kích vào BCH, tôi chui xuống gầm xe khi tài xế đóng cửa sau, nhìn lại phía sau thấy Long đứng ngẩn ngơ coi tội nghiệp vô cùng, sau đó hai đứa lội bộ vào bìa rừng khi CĐ 2/15 kéo ra, Đ/Úy Vinh 81 cho Long về chi đội 2 và tôi chi đội 4, lúc đó chỉ còn có 2 xe, 2 trưỡng xa và 2 tài xế.

Sau khi rút quân ra khỏi An Điền cuối tháng 6/1974 chi đoàn 2/15 về ngả ba Tân Hưng , ai cũng gọi là cua Paris không biết tại sao? Thiếu Úy Long chi đội trưởng chi đội 2 không đủ khả năng chỉ huy chi đội nầy, sau trận An Điền chi đoàn được bổ sung một số lao công đào binh và các quân nhân mới nầy không biết xe M113 là gì, tác xạ vủ khí ra sao? Thiếu Úy Vân tạm giữ chức vụ chi đoàn phó muốn tôi về coi thế cho Long , khi tôi về chi đội 4 có Hạ Sĩ Cần và HS Có là người có kinh nghiệm và rất giỏi về mọi công tác trong chi đội, tôi hỏi cả hai nếu tôi về coi chi đội 2 họ có thể về giúp tôi không? Cả hai đồng ý nên tôi xin Đ/Úy Vinh 81 cho cả hai về chi đội 2 với tôi .

Chi đoàn có nhiệm vụ giữ an ninh trên TL 1B đến TL 2B về Phú Giáo , mỗi ngày tôi dẩn 3 chiếc M113 nằm án ngữ từ Chánh Lưu đến ngả ba Tân Hưng , trước đây trên con đường nầy chi đội 1 Bích La chạm địch làm tụi nó bỏ lại vài xác chết với vũ khí cá nhân, có lẻ tụi nó sợ xe số đỏ nên khi tôi di chuyển trên vùng nầy cả tháng mà không gặp tụi nó, chỉ có một đêm tối trời tụi nó bò ra bắn 1 trái B40 vào xe tôi làm bể góc lưới chống B40, rủi thay trái đạn trượt qua xe bên cạnh nổ ngay nắp đậy làm chết một KB mà đáng lẻ anh ta đi phép chiều hôm ấy nhưng thay đổi ý định và ở lại cho đến ngày mai.

Đầu tháng 7/74 chi đoàn chuyển quân về Phú Chánh nằm trong rừng cao su, cứ vài bửa thì tôi quá giang xe Lam ra Bình Dương, uống cà phê, coi cinê không trả tiền vì bà chủ rạp thương lính VNCH lắm, bả hay nói các con đừng lo tiền vé má cho mấy con coi thả dàn. Một lần ra chợ Bình Dương mấy người lính thèm thuốc nhờ tôi mua thiếu cho họ, ai là SQ các đơn vị LĐIII XK đều biết là khi đi chơi không ai mang lon nên cô Lợi chủ tiệm thuốc lá tưởng tôi là lính nghèo nên bán chịu, sau đó cuối tháng tôi mang tiền ghé trả cho cô, cô Lợi dân Biên Hòa lên Bình Dương lập nghiệp , thấy tôi dân miền Trung nghèo khổ đi lính bị đổi vào trong Nam xa nhà nên rất mến thương tôi, sau nầy có Th/Úy Xưng cùng khóa ở Thiết Đoàn 10 muốn về Bình Dương gặp tôi, tôi bảo nó ghé chợ gặp cô Lợi sẻ biết tôi ở đâu, cô Lợi khám phá ra tôi là SQ nên giận hờn không muốn gặp tôi nửa, thật ra tôi không có ý định lừa dối cô, tôi chỉ muốn ai quen biết tôi vì tôi chớ không phải vì tôi là ai.

Đầu tháng 10/74 Đ/Úy Vinh cho tôi về Đà Nẵng 2 tuần , đây là cơ hội cuối cùng để tôi gặp lại người tôi yêu , từ giả nhau lần cuối khi biết hy vọng ngày bên nhau chỉ còn là cơn mộng mà thôi , trao cho em gái cô ấy tập thơ 122 bài tôi viết cho cô ấy ngày mới quen , thề không bao giờ trở về Đà Nẵng nửa , ngang trái sao đâu lời thề gần thành sự thật , 23 năm sau tôi mới trở về khi thuyền đã lở bến sông.

Tôi trở lại vùng hành quân nhận lệnh đi học SQ bổ túc 2 tuần lể tại BCH LĐIII ở Biên Hòa, có lẻ đây là hai tuần sung sướng nhất trong cuộc đời binh nghiệp của tôi, nằm ngũ giường nệm ăn cơm với Tướng Khôi, Đại Tá Thoàn toàn là cao lương mỹ vị, ngày đầu về đó gặp Th/Tá Danh trưởng ban 5 biết tôi là Thiên Chương cây bút thường trực của Đặc San Vó Câu Biên Trấn, Th/Tá Danh hứa sẻ liên lạc với Chi Đoàn cho tôi về Sài Gòn 3 ngày phép lể Giáng Sinh, tôi không biết có chắc là chuyện đó sẻ xảy ra hay không nên không quan tâm gì cho mấy.

Đầu tháng 11/74 chi đoàn hành quân vùng Phương Lâm, Định Quán trên QL 20, mổi ngày chi đội 1, 2, 3 thay phiên nhau giữ an ninh trục lộ cả tháng dài, ai hành quân vùng nầy cũng biết, hai bên đường chỉ có chuối và đu đủ mà thôi, phơi chuối khô, luộc chuối xanh chấm mắm, ăn gỏi đu đủ tối ngày cũng chán, chận xe chở hàng Đà Lạt về xin bắp cải, su hào ăn đổi món, cuối tháng 11/74 CĐ 2/15 rời vùng nầy chi đội tôi đi đầu, tôi đi giửa 2 xe di chuyển cách nhau 50 thước, vừa ngưng lại báo cáo qua 1 chặng đường thì tôi bị lảnh 1 trái B40 bắn qua xe trật thùng xăng khi tôi ngồi sau cây ĐL 30 bay qua trước mặt, nói chuyện cái chết cận kề trong đường tơ kẻ tóc là đây, từ đó về rừng cao su Trảng Bom dưởng quân, có lẻ Thiết Giáp có duyên nợ với cao su mà lúc nào cũng dính vô rừng cao su như vậy.

Đ/Úy Vinh có buổi tiệc giả từ nghiệp nhà binh về làm nhà giáo khoảng giữa tháng 12 /74, tôi đi biệt phái cho CĐ 2/22 CX hơn 1 tuần xong trở lại CĐ thì Đ/Úy Bản thay thế cho 81 báo cho tôi biết Th/Tá Danh gọi cho tôi về Sài Gòn ăn Noel 1974. Tôi quen biết với 3 người chị làm cho Bộ Phát triển sắc tộc văn phòng trên đường Nguyễn Du, con đường có lá me bay và những tháng ngày gợi nhớ, tôi ghé đón họ về ăn tối xong đi lể nhà thờ Đức Bà cho tới nửa đêm, đêm Noel cũng là đêm đầu tiên trong giấc ngũ bình yên không lửa đạn ở Sài Gòn, ngày hôm sau cả đám đi ăn tiệc ở nhà bà chị bên chợ Dakao, sáng hôm sau tôi lên xe về đơn vị, đó là lần đầu tiên tôi hưởng không khí thanh bình, ánh đèn điện thay ánh hỏa châu rơi, tiếng cười vui rộn rả thay cho tiếng đạn thù.

Trở lại đơn vị tôi nhận lịnh tăng phái cho CĐ 2/22CX đang trên đường vào Gò Dầu Thượng đầu tháng 1/75, dịp nầy tôi được hội kiến với Th/Tá Thái Minh Sang trong một hoàn cảnh gay cấn, CĐ1/22 và 2/22 CX nằm bên nay cầu Gò Dầu yểm trợ một đơn vị của SĐ 18 BB thì phải vì tướng Lê Minh Đảo bay trực thăng điều động ở trên, một chiếc M48 lảnh nguyên một trái 82 không giật bị cháy tử thương vài KB, Thiết Giáp và BĐQ tùng thiết rút về rừng cao su trên QL1 về hướng Tây Ninh, sáng hôm sau một KB 22CX gọi tôi trình diện Quỹ Kiến Sầu, NT T.M. Sang bắt được tài xế xe tôi đem gạo ra chợ bán, lục xét trong thùng gạo thì có 2 trái lựu đạn, vùng nầy là vùng xôi đậu đem gạo và lựu đạn bán cho ai, tôi được lịnh dẩn anh tài xế cà chớn nầy về xe trừng trị, tôi sợ vô cùng khi gặp cấp trên , nhất là không biết người lính mình có ý định gì khi đem lựu đạn đi bán, trên đường về xe Huệ cháy là tài xế xe tôi chưởi bới làm tôi nổi nóng, đánh cho anh ta một trận cho đến khi người xạ thủ ĐL ngăn cản sợ lở có di chuyển thì không có người lái xe, đêm đó CĐ di chuyển về Khiêm Hanh, tôi dạy cấp tốc cho một anh LCĐB lái xe vì Huệ nằm một đống , men rượu và trận đòn tôi cho làm nó bất tỉnh cho đến khi về gần Truông Mít.

Từ giữa tháng 1/75 cho đến cuối tháng 1/75 CĐ2/22 CX và BĐQ tùng thiết phá nhiều chốt CSBV thiết lập sau khi chiếm Trị Tâm mở đường về Khiêm Hanh , có lần qua một làng nhỏ phía nam Truông Mít chi đội tôi chở 1 tiểu đội Trinh Sát của BĐQ vào bìa làng thì bị CSBV ẩn nấp dưới hầm hố và điạ đạo kiên cố tấn công mãnh liệt, Th/Tá Hà Ngọc Bé ra lệnh cho tôi rút lui để CX M48 vào ủi chốt, thay vì kéo ra bên hông để yểm trợ, tôi cho chi đội ra phía sau BCH 2/22 CX và nằm chờ thời, anh Bé sau khi phá chốt xong chạy xe gần bên tôi nói nhỏ (tao biểu mầy ra , sao lại chạy xa quá vậy) tôi thấy mình trong lúc luống cuống quên hẳn nhiệm vụ chỉ huy, sau nầy gặp nhau bên Mỹ nhắc chuyện cũ cho anh Bé nghe, anh cười như chẳng có gì quan trọng, anh ấy rất tốt với các SQ thuộc cấp, không la lối, chưởi bới trong hệ thống truyền tin làm mất mặt anh em.

Tháng 2/75 tôi về lại CĐ2/15 khi CĐ nằm bảo vệ căn cứ Tân Hưng, có lần một anh BĐQ và người lính tôi muốn làm chuyện vệ sinh, trời xui đất khiến họ lội ra hàng rào kẻm gai, anh BĐQ đạp trúng trái mìn nhảy khi trái đạn nầy bay lên làm tử thương người lính của tôi, tôi đang uống cà phê sáng dưới căn hầm dả chiến, tưởng pháo kíck vì CSBV xử dụng các dàn phóng hỏa tiển pháo kích vào căn cứ nầy hàng ngày, bửa đó bị 07 chưởi tả tơi, ngày Tết tôi vào BCH TĐ 15 cũng trong căn cứ nầy để gắn lon Th/Úy mặc dù tôi đã được thăng cấp trước đó hơn 6 tháng, Tr/Úy Ngô Bính bẻ lon của ảnh làm hai cho tôi có 2 bông mai, Th/Tá Thảo cắm vào bao gối trên giường ngũ của ổng rồi gắn lon cho tôi, cả Chi Đoàn ăn Tết tại căn cứ Tân Hưng không bánh tét, bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành chỉ có cơm, bún và phở của CLB dả chiến, không có rượu để uống, bên kia làng có du kích tụi nó, phiá bắc có tụi CSBV không ai dám nhậu lo phòng thủ cho chắc ăn.

Mồng ba Tết Đ/Úy Lượng cho tôi và anh Bính chở mấy cô em gái hậu phương của trường An Mỹ về Bình Dương khi họ lên thăm đơn vị, tôi và ba Bính về Sài Gòn ăn Tết, đó cũng là lần cuối tôi gặp lại mấy bà chị quen rồi về đơn vị tiếp tục những ngày dài chiến đấu. Sau Tết Chi Đoàn 2/15 di chuyển trên đường về Phú Giáo giữ an ninh trục lộ, tôi ở lại phòng thủ căn cứ Tân Hưng tiếp tục những ngày buồn chán nơi nầy, sáng lên CLB kiếm gì ăn xong về xe nằm đọc sách, mỗi lần bị pháo thì chun vô xe, tối đi kiểm soát các vọng gác sợ lính ngũ quên, ngày nào cũng vậy cho đến đầu tháng 3/75 tăng phái cho CĐ 2/22 CX hành quân Khiêm Hanh, phá chốt, mở đường có chiến xa làm hết, chi đội tôi đi theo chỉ yểm trợ khi cần thiết.

Tuần đầu tháng 4/75 tôi về lại CĐ2/15 xin phép về Sài Gòn để tìm gia đình sau khi mất Đà Nẵng, sau 2 ngày liên lạc với nhà báo nhắn tin, để địa chỉ KBC và tên các vùng tôi hay hành quân cho người bạn thân có gia đình cũng ở xóm tôi, nếu tìm được thì cho tôi hay, tôi trở về khi CĐ 2/15 vào Truông Mít cũng là ngày CĐ 2/18 bị tổn thất khá nặng và bạn tôi Th/Úy Thông tử trận tại đây, mấy ngày sau mới lấy xác được đem về an táng tại Nghỉa Trang QĐ BH, vì lúc đó cũng mất Tuy Hòa quê của Thông, tôi rất buồn vì thấy đời lính quá ngắn ngủi, hơn nửa hai đứa cùng chung trường Đồng Đế, chung khoá CBTG về chung đơn vị hay đi uống cà phê tâm sự với nhau. Mấy ngày sau trở lại vùng hành quân với CĐ 2/22CX qua phía Tây Truông Mít, CSBV dồn hết quân số vào vùng nầy, nhìn từ xa thấy tụi nó chuyển quân mà phát sợ, ban đêm mỗi lần phi cơ Hỏa Long bay thả trái sáng và bắn yểm trợ cho các đơn vị bạn, phòng không 37ly bắn đầy trời từ 4 hướng khác nhau, cầm chân tại chổ chừng một tuần lể đến giửa tháng 4/75 tôi đi theo CĐ 2/22 CX về giải tỏa Long Khánh.

Đơn vị di chuyển qua Bắc QL 1 gần ngả ba Dầu Giây, đụng độ hàng ngày với CSBV và ăn sơn pháo 75 ly từ các ngọn đồi chung quanh bắn vào, có lần một SQ chi đội trưởng mời tôi lên xe M48 uống cà phê sáng, chưa kịp uống nửa ly cà phê nhìn xuống chân đồi CSBV chuyển quân hàng trăm theo mấy đám ruộng bám lên đồi, cả CĐ bung rộng tác xạ liên tục vào cuộc tấn công biển người nầy, cho đến khi tụi nó tổn thất nhiều quá rút lui qua ngọn đồi bên kia, chẳng ai thèm lục soát mục tiêu hay thu hoạch chiến lợi phẩm, nhìn xuống chân đồi xác địch chết ngổn ngang với vũ khí bỏ lại trên chiến trường.

Ngày hôm sau CĐ di chuyển xuống chân đồi tôi đi bên phải, cạnh một con lộ nhỏ, từ xa có một đám người đi thẳng vào phòng tuyến chi đội của tôi không biết là dân hay tụi nó, không cần chờ lệnh ĐL 50 trên xe 32, xe 36 và 34 bắt đầu tác xạ, đám đông tản mác mọi nơi, tôi nghỉ là dân nên gọi ngưng bắn, cái lầm lẩn đó để địch có cơ hội đến gần và bắn B40 vào xe 34 đi tận cùng bên phải, tất cả KB trên xe nhảy xuống vì xe bốc khói mịt mù, hai xe còn lại bốc họ lên xe khi chi đoàn rút quân qua bên kia đồi và CSBV bắt đầu pháo kích mở đầu cho cuộc tấn công, chiều đó nằm bên nay đồi nhìn về bên kia xe M113 mang số 34 bắt đầu phát nổ, tôi báo cáo tổn thất về CĐ2/15 đang yểm trợ cho Trung Đoàn 48 SĐ18 BB tại Dầu Giây, đêm đó tôi không ngũ được, nổi lo âu cho cuộc sống của gia đình tôi ngày mất Đà Nẵng, nổi lo sợ cho ngày mai của tôi sẻ ra sao trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn nầy, tôi ngồi dựa vào pháo tháp gục đầu trong mỏi mệt, khi mặt trời vừa rựng ánh bình minh trên cỏi chết của những người lính Kỵ Binh.

Khoảng giữa tháng 4 năm 1975 trong cuộc hành quân giải tỏa Long Khánh, chi đội 3 của tôi tăng phái cho chi đoàn 2/22 Chiến Xa, dưới quyền chỉ huy của chi đoàn trưởng Thiếu tá Hà ngọc Bé, nằm án ngử phía Bắc Quốc Lộ 1 khoảng 2 cây số, phía tây Quốc Lộ 20 và chừng hơn vài cây số trên đường về Dầu Giây, qua nhiều cuộc đụng độ với Sư Đoàn 341 CSBV trên mặt trận nầy đã gây nhiều tổn thất cho cả hai bên, cho đến chiều ngày 24 tháng 4 năm 1975 ,CĐ 2/22 CX di chuyển về Biên Hòa, qua khỏi rừng cao su bên chợ Trảng Bom thì tôi được lịnh ở lại, để chờ đợi đến sáng hôm sau thì chi đội của tôi sẻ trở về chi đoàn 2/15 Thiết Kỵ, khi chi đoàn sẻ di chuyển qua vùng nầy trên đường về dưởng quân ở Biên Hòa.

Sau hơn một tuần lể giao tranh với CSBV để yểm trợ cho Trung Đoàn 52, Sư Đoàn 18 Bộ Binh tham chiến tại ngả ba Dầu Giây, chi đội tôi không có bộ binh tùng thiết, chỉ còn vỏn vẹn 2 thiết vận xa M113 và 9 kỵ binh, di chuyển khoảng hơn cây số về hướng Bắc QL 1 và bố trí phòng thủ đêm tại cạnh rừng cao su Trảng bom bên con đường đất đỏ, sau nầy gặp anh Lưu ngày ĐH TG nam Cali tôi mới biết đó là con đường đi về Bầu Hàm mà vài chi đoàn của LĐIII XK đã bị đánh bật ra khỏi nơi nầy cách đó vài bửa. Trong suốt đêm đó, CSBV chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công về Sài Gòn đã di chuyển nhiều chiến xa, quân xa với đại pháo và lực lượng bộ binh về hướng Biên Hòa, trước vị trí phòng thủ của chi đội tôi không xa lắm, hầu như không ai được ngủ yên trong đêm đó, tiếng động của xe cộ, chiến xa , tiếng người và ánh đèn trong đêm tối càng gia tăng nổi lo lắng trong thâm tâm của mọi người, sau những ngày dài trong chiến trận từ giữa tháng 3 năm 1975 hành quân vùng Gò Dầu Hạ trên đường về Tây Ninh, đầu tháng 4 năm 1975 về Truông Mít, quận Khiêm Hanh cho đến cuộc hành quân giải vây Long Khánh, ai cũng chưa có một ngày nghỉ ngơi hay về phép thăm viếng gia đình.

Trưa ngày 25 tháng 4 tôi được lịnh di chuyển ra QL 1 để tháp tùng CĐ 2/15 TK, dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Ngô duy Lượng lên đường về Phước Tuy, sau khi ăn Tết 1975 đây là lần thứ hai tôi trở về chi đoàn sau hơn 2 tháng tăng phái cho CĐ 2/22 CX , Chi đoàn di chuyển đến cuối thành phố Biên Hòa rẻ vào quốc lộ 15, qua căn cứ Long Bình rồi trường Thiết Giáp, Long Thành, nơi tôi đã có một thời gian thụ huấn Sỉ Quan căn bản Thiết Gíáp ở đó vào cuối năm 1973, chi đoàn đóng quân tại Phú Mỹ một ngôi làng nhỏ trên QL 15 giửa chi khu Long Thành và tỉnh lỵ Phước Tuy chiều hôm đó, trong lúc nầy Lử Đoàn I Nhảy Dù sau trận giải tỏa Long Khánh di tản về Phước Tuy và có nhiệm vụ bảo vệ QL15 từ Long Thành về Bà Rịa, nên TĐ 9 Nhảy Dù đêm đó là đơn vị tùng thiết cho CĐ 2/15 TK, đây là lần đầu tiên tôi đi hành quân với các anh hùng mủ đỏ, mà tôi chỉ từng nghe ca ngợi trong những bản nhạc trên đài phát thanh hay trên màn ảnh truyền hình trong những lần về phố ngồi uống cà phê , từ xa về hướng Đông là thị xã Bà Rịa , hướng Tây là trường Thiết Giáp và trường Bộ Binh Thủ Đức, đại pháo của CSBV vẩn vang rền trong khi các đại bác 37 ly phòng không của địch, như màng lưới lữa trong bầu trời đen tối đuổi theo các phi cơ Hỏa Long trong phi vụ yểm trợ cho các đơn vị bạn, còn đang chiến đấu trong tận cùng tuyệt vọng, tôi vùi đầu trong giấc ngủ, tin tưởng vào các chiến sỉ Nhảy Dù sẻ bảo vệ phòng tuyến đêm nay và hy vọng ngày mai có thêm một ngày bình yên trong lữa đạn.

Ngày 26 tháng 4 tôi được hai ngày phép về Sài Gòn xả hơi, vì đầu tháng 5/1975 khi tôi phải về trường TG học khóa SQ Tu Bổ Quân Xa, trong khi chờ đợi Thiếu Úy Huỳnh, chi đội trưởng chi đội 2 mản phép trình diện đơn vị để thay thế tôi trong lúc đi phép, tôi ghé uống cà phê sáng trong ngôi quán nhỏ bên đường , trong lúc xe 26 của chi đội 2 nằm gần chợ và vài kỵ binh ngồi uống bia kế bên, đến trưa mà Th/Úy Huỳnh vẩn chưa trở lại, tôi ghé vào xe chi đội 2 uống vài chai bia để giết thì giờ trong nôn nả đợi chờ, cho đến 5 giờ rưởi chiều hôm đó Th/Úy Huỳnh mới trở lại đơn vị, tôi suy nghỉ nếu về tới Biên Hòa thì đã tối sẻ không có xe về Sài Gòn được, tôi nói với Th/Úy Sinh lấy xe Jeep về Biên Hòa một mình đừng chờ tôi, tôi xin phép Đại Úy Lượng cho tôi ở lại đêm nay và sáng sớm ngày mai tôi sẻ đi phép về Sài Gòn, trời vừa sụp tối thì SĐ 304 CSBV bắt đầu tấn công vào trường Thiết Giáp và trường Bộ Binh Thủ Đức, SĐ 325 CSBV tấn công chi khu Long Thành, khoảng 8 giờ tối hôm đó trong tiếng đạn đại pháo, đại bác phòng không và các loại vủ khí vang rền khắp mọi nơi của Cộng quân, chi đoàn 2/15 TK và TĐ 9 Nhảy Dù di chuyển trong đêm tối vào thị xã Bà Rịa cùng lúc với SĐ 3 CSBV từ mặt trận Long Khánh kéo về Chi đội 1 Bích La và chi đoàn phó là Trung Úy Ngô Bính 07 nằm đầu phố án ngữ về hướng Bắc và hướng Tây, chi đội 3 nằm giửa phố với xe số 32 của tôi quay mặt về hướng Bắc và xe số 36 nằm sau xe tôi cách 50 thước án ngữ phía Nam , có lẻ tôi nghỉ có Bích La và 07 ở hướng Tây nên tôi bỏ trống bên hông, tuy nhiên đó cũng là điều may mắn cho tôi sáng ngày hôm sau, chi đội 2, cđ 4 và bộ chỉ huy CĐ 2/15 TK án ngử ở cuối phố về hướng Đông. Sau khi sắp xếp phiên gác đêm và kiểm soát chung quanh vị trí của hai thiết vận xa trong chi đội, tôi đi ngủ sớm để chuẩn bị ngày mai di chuyển lên tuyến đầu đối mặt với quân thù, trong lúc nầy có lẻ đã rời mặt trận Long Khánh di chuyển về Phước Tuy.

Sáng sớm ngày 27 tháng 4 năm 1975 , tôi nhìn thấy tận mắt cảnh hoang tàn của thành phố nầy lần đầu tiên, các đường phố không một bóng người , những cuộc pháo kích của địch vài ngày trước đây đã để lại nhiều đổ nát , không biết người dân ở đây đã di tản về đâu, hay tạm trú trong những căn hầm dả chiến với niềm hy vọng được gìn giữ tài sản của ông cha để lại. Tiếng súng và đạn pháo bắt đầu vang dội phía Bắc nơi chi đội 1 án ngử tôi lên máy để biết được CSBV bắt đầu tấn công bằng pháo binh, chiến xa và bộ binh vào tuyến của Thiết giáp và Nhảy dù, tôi cho chi đội lên xe sẳn sàng ứng chiến, lúc nầy quân đội CSBV đã vào trung tâm thành phố vài chiến xa T54 đã chạy vào trên đường phố bên trái tôi chừng 100 thước, nhìn về trước mặt tôi chừng hơn 50 thước cộng quân tràn ngập trong các ngôi nhà và ngay cả trên các ngỏ hẻm vào phố , tôi xử dụng hỏa tiển M72 bắn vào các căn nhà trước mặt và ra lịnh khai hỏa đại liên 50 , 30 ly để ngăn chận bước tiến của địch, khi nhận được lịnh mở đường cho chi đoàn trở ra QL 15, tôi vừa lùi xe ra đến ngả tư thì đại bác của địch trên chiến xa T54 khai hỏa cùng lúc với đại bác 90 ly, hỏa tiển M72 của lực lượng Nhảy Dù, may mắn cả hai chiếc M113 không bị hư hại giữa hai làn đạn của bạn và thù.

Sau nầy mấy chục năm may mắn liên lạc và nói chuyện với Th/Úy Hường tôi mới biết Hường xử dụng 106 SKZ trang bị trên M113 đã bắn cháy 1 T54 và thiệt hại thêm 1 chiếc nửa, có lẻ điều nầy đã cầm chân lực lượng địch đũ để CĐ rời khỏi phố Phước Tuy, trong hệ thống truyền tin tôi còn nghe được tiếng Hường nức nở báo với 08, tụi nó bắn trúng Sông Hồng rồi tuy nhiên không biết vì lý do gì, tôi đã không liên lạc được với BCH CĐ để Hường biết tôi bình yên vô sự trong tình trạng hổn loạn nầy.

Từ giữa phố ra QL 15 phải qua ngôi chợ nằm bên tay phải, CSBV bố trí trong chợ với hỏa lực rất mạnh, chi đội đã xử dụng đại liên 50, đại liên 30 và tất cả vủ khí cá nhân còn sót lại vừa bắn vừa di chuyển qua ổ phục kích nầy, ra đến QL 15 về hướng Đông chừng 1 cây số thì chi đội án ngử tại phía Tây cầu Cỏ May, chờ đợi chi đoàn di tản qua phía Đông bên kia cầu. Chiều hôm đó chi đội 2 với 3 xe còn lại tử thủ tại chân cầu với 1 trung đội ND, trong số đó xe 23 phải câu bình điện mỗi lần di chuyển, chi đội 3 của tôi với 2 xe bố trí cách đó gần trăm thước , sau đó là chi đội 1 [tổn thất khá nặng trong cuộc tấn công của CSBV sáng hôm đó] 1 xe thiệt hại nặng phải phá hủy tại chỗ, xe của Bích La còn nguyên vẹn, BCH chi đoàn có 2 xe chỉ huy với 1 xe sửa chửa và chi đội 4 có 2 xe súng cối nằm dọc theo QL 15 về hướng Đông cầu Cỏ May, Lúc nầy Đ/Tá tỉnh trưỡng tỉnh Phước Tuy tháp tùng với Tướng Vũ Văn Giai TL SĐ 3 đến tại BCH chi đoàn ra lịnh TG và TĐ9 Nhảy Dù trở lại tái chiếm Phước Tuy, Đ/Úy Lượng liên lạc với Th/Tá Đường TĐT TĐ9 Nhảy Dù cho binh sĩ sẳn sàng lên xe nhưng Th/Tá Đường không chấp nhận và chọn ở lại cầu Cỏ May, không có BB tùng thiết và sau khi bàn cải với đơn vị ND , Đ/Úy Ngô duy Lượng ra lịnh cho Công binh chiến đấu phá nổ cầu để ngăn bước tiến của CSBV, tuy nhiên đã không làm thiệt hại nặng trên chiếc cầu nầy nên ban đêm địch xử dụng đặc công bò qua cầu tấn công, chi đội 2 và binh sỉ của TĐ 9 ND chống cự mảnh liệt, địch xử dụng ghe, xuồng chuyển quân dọc theo bờ sông qua phòng tuyến của CĐ 2/15 TK và TĐ 8 ND để tấn công từ phía Nam và Bắc QL 15, sau vài giờ tấn công khi tiếng súng vừa ngưng , một số binh sỉ của Thiết Giáp và Nhảy Dù bị thương nhưng không được di tản.

Sáng ngày 28 tháng 4 , địch quân tiếp tục pháo kích vào vị trí phòng thủ của chi đoàn và tìm cách vượt qua cầu Cỏ May, chi đội 2 và các binh sỉ Nhảy Dù vẩn còn chống trả với địch ở chân cầu Cỏ May, đại pháo của CSBV càng lúc càng gia tăng và càng đến gần, một trái đại bác 130 ly nổ bên cạnh xe tôi lúc di chuyển qua một vị trí khác đã làm thương vong vài binh sỉ Nhảy Dù và 2 xạ thủ đại liên trong xe tôi, chỉ có tôi và người tài xế là còn nguyên vẹn, tôi liên lạc xin di tản thương binh nhưng được lịnh chờ đợi trực thăng tải thương từ Lử Đoàn III Kỵ Binh đồn trú tại Biên Hòa, Suốt ngày nầy trên không trung các trực thăng CH-47 Chinook tiếp tục bay về hướng biển đông, tôi hy vọng có lần nào đó họ sẻ xuống đây để bốc đơn vị mình về Biên Hòa, tôi mơ ước ngày phép về Sài Gòn, nhớ ngày lang thang trên đường Nguyển Du đợi chị Thể, chị Hội, chị Loan Anh giờ tan sở ở Bộ Phát Triển Sắc Tộc, ngồi uống ly cà phê ngọt ngào đếm lá me bay, giờ đây đếm từng chiếc trực thăng bay qua ngang đầu, không hề hay biết đây là lần di tản sau cùng của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.

Chiều hôm đó chiến trường lắng dịu, không có tiếng súng thù, không đạn pháo rơi nên cái im lặng của trận địa làm mọi người ngộp thở, có lẻ CSBV chờ đợi cuộc tấn công trong đêm nay. Khoảng 10 giờ đêm thì tôi được lịnh xử dụng một thiết vận xa di chuyển về phía đông QL 15 trên đường về Vủng Tàu, để thăm dò con đường có đủ an toàn khi đơn vị di tản, tôi một mình trong đêm đi được vài cây số dưới ánh trăng thì nhìn thấy QL 15 bị phong tỏa bằng các cuộn kẻm gai, tôi mở đèn pha và lội bộ trước đầu xe để xem tình hình, trong ánh sáng của đèn xe tôi thấy một người lính Thủy Quân Lục Chiến gở một đoạn kẻm gai để đến gần tôi, anh cho tôi biết là trên đường quốc lộ đã được gài mìn chống chiến xa và vị trí phòng thủ của đơn vị TQLC bao bọc 2 bên bằng kẻm gai và mìn Claymore để tử thủ đến cùng, tôi báo cáo về chi đoàn biết tin và nhận lịnh nằm tại chổ chờ đến sáng hôm sau, suốt đêm tôi lo lắng, bâng khuâng không biết ngày mai sẻ ra sao, sau lưng tôi cả chi đoàn nằm trong vòng hiểm nguy của hàng ngàn quân thù với xe tăng và đại pháo, trước mặt tôi là hàng rào phòng thủ của người lính mủ xanh, những người hùng của mùa hè đỏ lửa 1972 ngày tôi mới vào lính, ôm súng trên phòng tuyến đợi quân thù, nhìn về hướng tây trong ánh lữa bập bùng của hỏa châu và những cuộn khói lờ lững trôi ở cuối chân trời , tôi biết chiến trận vẩn còn trong cao độ giửa các cánh quân còn lại của quân lực VNCH và CSBV , dựa lưng vào pháo tháp để tìm giấc ngủ vội vàng tôi chờ đợi ngày mai, như chờ đợi và chấp nhận số phận nào đã đưa tôi vào con đường chinh chiến hiểm nguy mà không còn lối thoát .

Trưa ngày 29 tháng 4 , chi đoàn di chuyển về hướng đông QL 15 , sau cuộc tiếp xúc của chi đoàn trưởng Đ/Úy Ngô duy Lượng và cấp chỉ huy của đơn vị TQLC , họ đã tháo gở mìn và chướng ngại vật trên đường quốc lộ cho đơn vị Thiết giáp và Nhảy dù vào Vũng Tàu, để lại sau lưng SĐ 3 CSBV trên đường truy đuổi, sau khi tu bổ cầu Cỏ May và đưa bộ binh vào xâm chiếm Vũng Tàu. Chi đội 2 đi trước, chi đội 1, kế đến BCH, chi đội 4 và chi đội 3 của tôi đi sau cùng, khi vào đến phố Vũng Tàu thì lực lượng đặc công và bộ binh của CSBV đã nằm phục kích, mở cuộc tấn công sau khi 1 thiết vận xa của chi đội 2 di chuyển qua khỏi đầu phố, hơn ba mươi mấy năm may mắn liên lạc được với Th/Úy Hường tôi mới biết xe Hường đi sau xe 26 bị một trái M79 vào pháo tháp, xe tấp lên lề ủi vào căn nhà bên đường, tài xế chết và Hường bị thương, được lính bỏ vào thuyền thúng đưa đến bịnh viện Gò Công, ngày 30/4 bị đuổi về nhà, tù cải tạo hơn 2 năm lại bị trái M79 oan nghiệt một lần nửa đưa Hường ra khỏi trại tù và kẹt ở VN cho đến ngày hôm nay, kế đến xe sửa chửa 06 của CĐ bị bắn cháy và cả đơn vị bị kẹt trên đường phố nhỏ hẹp không xoay trở được, tôi nhận lịnh mang 2 xe còn lại của chi đội 3 mở đường tấn công vào ổ phục kích của địch, khi di chuyển qua phần còn lại của chi đoàn ở đầu phố thì tôi thấy xe 06 nằm giửa đường vẩn còn bốc cháy, sau xe xác chết của Hạ sỉ Có, người lính kỵ binh thân quen của tôi ngày mới về đơn vị và xác 2 đồng đội khác nằm chết bên nhau, trên con đường chỉ còn máu lửa và nước mắt, tôi đi trước theo sau là xe số 36, khai hỏa tất cả vủ khí còn đủ đạn dược, từ đại liên 50 ly, 30 ly, súng phóng lựu M79, súng cá nhân M16 và Colt 45, vừa di chuyển vừa bắn hai bên đường, cả đơn vị di chuyển trong tiếng đạn mịt mù qua khoảng hơn cây số mới đến Bến Đá.

CSBV tiếp tục pháo kích trên đường di tản của Thiết giáp và Nhảy dù bằng đại pháo trên đường ra biển, tôi nhận lịnh rời xe và phá hủy các thiết vận xa trước khi ra bờ biển, tuy nhiên trong lúc gom góp đồ đạc vào ba lô và trong cơn mưa pháo kinh hồn, tôi lội bộ ra bờ biển tìm kiếm đồng đội mà không có cơ hội làm được điều đó, một số kỵ binh và binh sỉ nhảy dù đã bị thương và chết trên chặng đường nầy, tôi xuống một chiếc xuồng máy đuôi tôm với Cần, Dũng và Thành của chi đội 2 cũ khi tôi về làm chi đội trưỡng chi đội nầy vài tháng, tuy nhiên sau vài lần tìm cách nổ máy mà vẩn không thành công, nhìn ra trước mặt tôi thấy một chiếc xuồng khác chạy qua với một số KB đồng đội gọi tôi , tôi quay lại dặn dò Cần nhớ tìm tôi khi về Sài Gòn rồi tôi nhảy xuống biển để bơi ra khi chiếc xuồng nầy quay lại để kéo tôi lên, không để ý rằng mình mang cả ba lô, súng đạn khi lội xuống biển, nên khi người lính kéo tôi lên phải cởi bỏ ba lô thả xuống biển cho dể dàng kéo tôi lên, tôi ngồi trên xuồng tiếc cái ba lô với cuốn nhật ký tôi viết từ ngày ra đơn vị, mấy lá thư hỏi thăm của người tôi yêu mà không yêu tôi nên chỉ giữ để làm kỹ niệm mà thôi, tôi tháo đôi giày bốt đờ sô xả nước cho khô và lau hai cây súng M16 và Cold 45, mỗi cây chỉ còn có 1 băng đạn mà thôi, khi trời vừa sập tối tất cả kỵ binh còn lại của chi đoàn dời qua một chiếc tàu đánh cá lớn hơn, con tàu trực chỉ về tỉnh Gò Công trong đêm tối, mổi người riêng một ý tưởng, không ai nói chuyện gì với nhau, ai cũng có những nổi buồn canh cánh bên lòng và âu lo của những ngày sắp đến .


Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 , những kỵ binh còn sống sót sau trận chiến ở thị xã Bà Rịa của chi đoàn 2/15 TK ngồi trên chiếc tàu đánh cá đợi chờ tin tức từ trong đất liền , cho đến khi nghe tin T.T Dương văn Minh yêu cầu các binh sỉ bỏ súng và chấp nhận đầu hàng vô điều kiện , Đ/Úy Lượng họp mặt tất cả kỵ binh để thăm dò ý kiến và cho phép mọi người được lựa chọn một trong hai con đường còn lại , một là đi về vùng IV chiến thuật hay ra đảo Phú Quốc để tiếp tục cuộc kháng chiến chống cộng, hai là trở về để đầu hàng cộng sản và đoàn tụ với gia đình, khoảng 6 hay 8 người tôi không nhớ rỏ đã tình nguyện trở về với gia đình, đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi tiển đưa nhau, họ có an toàn trở lại với gia đình không ai biết, cũng như số phận của 36 người kỵ binh còn lại những tháng ngày sắp tới không biết về nơi đâu, Đ/Úy Lượng cho phép vài người vào bờ để mua sắm lương thực và chuẩn bị cho một cuộc hành trình về trên vùng vô định , tôi tình nguyện ở lại không biết có phải vì TỔ QUỐC , DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM hay không , tổ quốc tôi với hơn 20 năm trưởng thành và 3 năm dài trong quân ngũ đã không còn , danh dự và trách nhiệm của một sỉ quan đã làm tôi ray rức nhiều hơn hết, có lẻ đó là động lực duy nhất thúc đẩy tôi vào quyết định chiến đấu đến cùng, hay kinh nghiệm của những ngày ấu thơ ở Đại Lộc, Quãng Nam nơi tôi sinh ra và lớn lên trong vùng cộng sản chiếm đóng, chứng kiến sự tàn ác của chế độ cộng sản và cuộc đời chinh chiến đã để cho tôi nhìn thấy những đổ vở trên quê hương, do kẻ thù từ phương Bắc gây ra, nên tôi quyết định ra đi.

Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975 con tàu lên đường ra khơi, mang theo những kỵ binh còn sống sót trong trận chiến sau cùng của chi đoàn 2 số đỏ [biệt danh cho CĐ 2/15 TK], một thời oanh liệt trên chiến trường Tây Ninh, Hậu Nghỉa, Bình Dương, Biên Hòa và Long Khánh của vùng III chiến thuật, những con đường in vết xích qua chiến trường Kampuchia năm 1971 và 1974, nay chỉ còn là dấu chân của một thời trong dỉ vãng, con tàu trực chỉ về hướng Đông, trước mặt chỉ có màu biển xanh và bầu trời rộng mở, sau lưng là hướng Tây, đỏ rực màu nắng của bóng chiều lên khi mặt trời vừa xuống, đó cũng là hình ảnh sau cùng để tôi nhìn lại quê hương Việt Nam thân yêu, gia đình tôi không còn liên lạc từ ngày mất Đà Nẵng chắc không biết những gì xảy đến với tôi, tôi ra đi về một chốn lạ xa mà không biết có ngày trở lại, tương lai tôi như bóng tối đại dương mà con tàu đang dấn bước, trong bóng đêm mịt mùng chỉ còn nghe tiếng sóng vổ và từ phía chân trời xa có ánh đèn lấp lánh trong màn đêm, những ánh đèn trên chiến hạm của đệ thất hạm đội Hoa Kỳ, cũng là ngọn hải đăng cho con tàu lưu lạc trong cơn bảo tố của quê hương, soi đường cho cuộc hành trình của 36 kỵ binh chi đoàn 2/15 TK về trên vùng đất mới, riêng tôi cuộc đời Kỵ Binh hơn một năm ngắn ngủi chỉ còn là nhớ thương và nuối tiếc, những ngày tháng vàng son và oai hùng của một thời làm lính mũ đen chỉ còn là kỹ niệm mà thôi.

Chiến Lê