NỔI SỢ HẢI CỦA ĐẦU LĨNH BA ĐÌNH
 VỀ CÁI BÓNG VNCH.
Mặc dù VNCH đã mất trên 42 năm, nhưng đám đầu lĩnh Ba Đình vẩn chưa bao giờ có được một giấc ngũ yên bình khi nghe hoặc thấy hình ảnh gì có liên quan đến biểu tượng "Việt Nam Cộng Hoà" một khi xuất hiện trước mắt hay trong tiềm thức. Điều này càng thấy rỏ sự sợ hải của chúng hơn qua việc chúng điên cuồng bắt bớ, đàn áp và bỏ tù những ai mang quân phục VNCH, treo cờ VNCH... Chúng sợ hải nhất là cái chính nghĩa và tính nhân bản của VNCH.
Để giải toả các vấn nạn về phá sản nền kinh tế quốc dân, cần ngoại tệ qua kiều hối hàng năm để trang trải các lổ hổng to tướng trong ngân sách điều hành đất nước mà sự thu nhập của nền kinh tế quốc dân đã không đũ đáp ứng trước sự bất tài của đám đảng viên con ông cháu cha thiếu khả năng chuyên môn nhưng thừa sức phá hoại công quỷ quốc gia...Để có được một giấc ngũ thật yên bình, đám đầu lĩnh Ba Đình phải chi ra những khoảng tiền vô bổ khá lớn cho việc thi hành nghị quyết 36 như: tăng cường trang bị lại hệ thống truyền thông tuyên truyền ở Hải Ngoại - từ báo chí, truyền thanh, truyền hình. Từ việc đưa các đoàn văn công đi lưu diển khắp nơi trên thế giới cho tới việc phải bõ tiền ra để dụ dổ đám nghệ sĩ về chiều ở hải ngoại, những loại người vô liêm sĩ gốc tị nạn để cò mồi cho việc hòa hợp hòa giải (HH-HG) theo tinh thần của NQ 36, ngoài ra chúng còn phải chi 50 triệu đô la Mỹ để mua tiếng nói của phản tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Thổng Thống VNCH dể làm tay sai cho chúng về mặt tuyên truyền và bắt đầu cầu HG-HH với đám đầu lĩnh Ba Đình, chẳng những thế chúng còn phải bõ tiền ra thuê đám khóc mướn, một đám người tận cùng của sự vô liêm sĩ như nhà báo Nguyễn Phương Hùng, cựu thiếu uý VNCH Nguyễn Ngọc Lập.... Tuy vậy, cho tới nay cũng chưa thành công như ý muốn, mặc dù chúng đã cố gắng đến mức tối đa trong việc khai triển nghị quyết 36 của TW/ĐCSVN từ năm.2005 cho đến nay đã hơn một thập niên. Ngoài những thủ đoạn như nêu trên, chúng còn bỏ tiền ra mua những giấy tờ của các cựu Quân Nhân VNCH với giá 15 cây vàng, để đưa một số con ông cháu cha của chúng nhập cư chính thức vào Mỹ theo diện HO, trong số HO đó chắc chúng không thể nào không cài theo một số điệp viên của chúng để xâm nhập vào hàng ngũ cựu Quân Nhân QL.VNCH ở Mỹ (?!)
NHÂN BẢN LÀ NỀN MÓNG XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI VĂN MINH
Trong mọi chế độ chính trị xã hội của các nước văn minh hiện nay trên thế giới, nhân bản yếu tố quan trọng trong việc xây dựng đất nước và hội tụ hiền tài của quốc gia, NB cần phải được đề cao ngay cã trong hiến pháp của mổi quốc gia. Trong hiến pháp của hai nền đệ nhất và đệ nhị cộng hoà đều có sự hiện diện của điều khoản này, kể cã giáo dục VNCH lấy nhân bản là triết lý trong việc đào tạo người. Thế nên muốn có một xã hội nhân bản và những con người NB thì điều kiện ắt có và đũ phải có một nền giáo dục đặt nhân bản lên hàng đầu, đó là cái mà nền giáo dục của CHXHCNVN hiện nay và trước đó không bao giờ có. Nhân bản xã hội, như đã trình bày trên : ‘nhân’ là người, một con người cụ thể trong xã hội loài người. Nhân bản bao hàm ý nghĩa sâu rộng hơn lòng nhân của con người và có được từ chính sách giáo dục, đức tin của các tôn giáo. Một chế độ hữu thần bao giờ củng hàm chứa tính NB, ôn hoà nên hạnh phúc của người dân được bảo đãm tuyệt đối, và hạnh phúc đó bao giờ cũng nhiều hơn các chế độ vô thần của những nước theo chế độ cộng sản.
Ngày nay, để che đậy bản chất vô thần, đảng csVN đã thiết lập một chế độ hữu thần trong bản chất vô thần. Tức là cho hoạt động tôn giáo theo định hưóng XHCN, một hình thức kềm chế tôn giáo một cách tinh vi qua bọn TÔN GIÁO QUỐC DOANH và tái tạo các hủ tục mê tín dị đoan trên khắp 3 miền đất nước, trước là để ru ngũ người dân, hai là để kiếm lợi cho ngân sách quốc gia vốn đã thâm thục từ nhiều năm qua. ba là làm bình phong cho bản chất vô thần của chúng. Núp dưới cái võ bọc đó chúng tha hồ thể triệt hạ tôn giáo ngoài quốc doanh mà chúng ta đã từng thấy, như Chuà Liên Trì của Hoà Thượng Thích Không Tánh và các nhà thờ mà chúng gai mắt từ nhiều năm qua, mới đây là nhà thờ Trà Cổ, một di sản văn hoá quý hiếm của thành phố Móng Cái được xây dựng từ năm 1857 cách đây 160 năm, chúng đã san bằng một công trình kiến trúc có một không hay của phía cực bắc VN.
VNCH NHÂN BẢN TỪ TRONG HIẾN PHÁP
Nhân bản của VNCH được ghi từ trong hiến pháp 1956 và hiến pháp 1967. Nhân bản còn được gắn trên đầu súng của từng chiến sĩ VNCH, để giãm sát thương khi lâm trận với kẻ thù, và đưa kẻ thù trở về với Đạo Việt trở về với tình người cùng một dòng giống Tiên rồng.
XEM HIẾN PHÁP VNCH 1956 và 1967.

Trích lời mở đầu của bản hiến pháp 1956 như sau:
" Chúng tôi, dân biểu quốc hội lập hiến:
Ý thức rằng Hiến Pháp phải được thực hiện nguyện vọng của nhân dân từ Mũi Cà Mau đến Ài Nam Quan
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý tri và đạo đức khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người đươc tôn trọng...."

Đây là một bản văn nói lên được bộ mặt và bản chất của một chế độ rất hoàn mỹ trong một thời kỳ 8 năm của nền đệ nhất cộng hoà (1955-1963), những điều ghi trong hiến pháp nêu được tính nhân bản cần thiết trong việc xây dựng đất nước theo chiều hướng đi lên của cộng đồng tiến bộ trên thế giới.
ĐỊNH HƯỚNG NHÂN BẢN TỪ HỌNG SÚNG ĐẾN VIÊN ĐẠN CỦA QL.VNCH:
Một số tài liệu mà tôi sưu tầm được cho thấy con người được tôn trọng triệt để trên khắp nẻo đường đất nước, khắp nơi nơi đều có thể nhận ra được thành quả về nhân bản mà chế độ và con người trong chế độ VNCH đã đạt được trong 20 năm dựng nước . Những người lính VNCH đều được học tập cẩn thận về tính nhân bản trong khi tiến hành việc bảo vệ lãnh thổ VNCH trước sự xâm lăng của người cộng sản miền bắc.
Với quốc sách chiêu hồi của VNCVH, không những thể hiện được tình anh em đồng bào cùng một bọc, mà còn tiết kiệm xương máu cho những người chủ chiến từ miền bắc, ngoài ra nó còn nói lên được tinh thần đùm bọc thương yêu trong truyền thống Việt đạo " bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn". Chương trình này đã cứu sống hơn 230.000 tay súng từ bên kia chiến tuyến để hoà nhập với thế giới tự do dân chủ và nhân bản của VNCH. Họ hoà nhập trong tình anh em, không có sự đối xử phân biệt như trong chế độ cộng sản. https://bienxua.wordpress.com/…/chuong-trinh-chieu-hoi-cua…/
TÍNH PHI NHÂN BẢN TRONG HIẾN PHÁP CHXHCNVN 1992 và 2013:
HIẾN PHÁP NƯỚC CHXHCNVN 2013 ( Hiến pháp sửa đổi)
Qua lời mở đầu của các bản HP này đồng bào chỉ thấy tự ca ngợi, tâng bốc cá nhân và tuyên dương thành tích của đảng csVN. Một hình thức tự đánh bóng của các đỉnh cao cháy rụi trong cái gọi là Bộ Chính Trị đảng bán nước csVN. Bản hiến pháp sửa đổi 2013 cũng không thay đổi được nội dung của bản hiến pháp 1992 là bao nhiêu, chỉ thấy tăng thêm quyền sát phạt nhân dân bằng công cụ truyền thống là buá liềm. Và đảng quyết dẩn dắt toàn dân VN theo chủ nghĩa Marx-Lenin, một chủ nghĩa đã đưa hồ chí minh vào danh sách của những tên đồ tể của thế giới vào thế 20. https://haiz00.wordpress.com/…/bao-anh-ho-chi-minh-la-mot-…/
Bản Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội thông qua sáng 28/11/2013, xem nơi đường link: http://vnexpress.net/…/quoc-hoi-thong-qua-hien-phap-sua-doi… là văn bản mới về thời gian nhưng không mới về nội dung, đó là nội dung của HP1992 của nước CHXHCNVN chỉ có thêm thắt vài điều và nới rộng quyền hạn cho các đảng viên cs.
Nhìn qua những bản hiến pháp của chế độ CHXHCNVN đã cho người dân không thề nào tìm thấy được cụm từ NHÂN BẢN được thể hiện trong bản văn mang tính LUẬT cao nhất nước này.
Truyền thống nhân bản chỉ có từ con người thấm nhuần văn hoá truyền thống Việt, điều nầy không bao giờ có nơi họ "hồ" và các đảng viên cộng sản. Họ là những người đã có tư tưởng đi ngoài truyền thống của ĐẠO VIỆT và TÌNH VIỆT lấy Marx và Lenin làm chủ đạo trong việc xây dựng xã hội.
Điều 4 hiến pháp của CHXHCNVN nói rõ : "lấy nền tảng Mác -Lenin và tư tưởng tha hóa của họ "hồ" và là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, như vậy tính nhân bản truyền thống của Việt tộc nằm ngoài lề bản hiến pháp!! Một chế độ chính trị độc đảng ( nhất nguyên) nói lên được cấu trúc một chế độ chính trị độc tài phi dân chủ. Một khi thiếu dân chủ thì chế độ không bao giờ tôn trọng nhân vị con người. Điều đó có thể nhận ra được qua chiều dài phát triển của đảng csVN hơn 80 năm, với một thành tích đầy máu và xương trắng khắp 3 miền đất nước.
Khi cuộc chiến chấm dứt vào ngày 30.4.1975, người cộng sản càng lộ rõ bản chất phi nhân qua việc lùa quân cán chính VNCH vào các trại cải tạo, tức nhà tù theo cách nói của phe thắng cuộc. Người dân miền nam, những nạn nhân trực tiếp và gián tiếp đều bị trã thù dưới nhiều hình thúc như bị đưa đi đến các "vùng kinh tế mới", là những nơi rừng thiêng nước độc không có mầm sống, để trù dập gia đình các cựu quân cán chính VNCH và các thành phần được chúng gắn cho cái mác là tư sản....Bọn người thắng cuộc nầy còn dùng những cách cướp tiền của nhân dân qua cái gọi là đổi tiền, để vơ vét hết của cải nhân dân miền nam. Cã nước phủ màu tang trong những ngày đầu đoàn quân giải phóng có mặt khắp nẻo đường của miền nam. ..Hàng triệu người lại một lần nửa bõ nước ra đi, để tìm hai chử TỰ DO cho cuộc sống và tương lai....cã thế giới tự do đã rơi lệ vì những chiếc thuyền mong manh của người vượt biển tìm tự do trên biển cã mênh mông vào những năm từ sau ngày 30.4.1975 đến 1980, 1981,1982..1985, 1986.
Đôi dép râu dẫm nát đời son trẽ
Nón tai bèo che khuất nẽo tương lai
(ca dao)

Mức độ phi nhân của chế độ chính trị độc đảng như hiện nay, lần lần đã được phơi bày rỏ khì đoàn người của phe thắng cuộc đưa quân qua Campuchia đễ cướp phá bắn giết nhân dân nước bạn trong cái chiêu bài giúp đở trong tinh anh anh em XHCN, để Campuchia thoát khỏi sự diệt chũng của Pon Pot. Với hành động nầy của phe thắng cuộc đã làm các nước trong thế giới tự do đi đến quyết định cấm vận kinh tế nước CHXHCNVN cho đến khi bọn vẹm rút quân ra khỏi Campuchia và lệnh cấm VN kinh tế đã được giải toả từng phần bắt đầu vào tháng 12/1991, để gọi là trừng phạt VN xâm lược Campuchia.
Vì bản chất phi nhân của chế độ VNDCCH ở miền Bắc và sau ngày 30.4.1975 ở miền nam( CHXHCBVN), mổi ngày một lộ rỏ hơn, nên đã làm cho các thế hệ thanh niên sau này khi tiếp xúc với Internet, đã có sự xoay chiều suy nghĩ, họ không còn tin tưởng vào hcm và chế độ do người cộng sản cầm quyền. Thế nên các biểu tượng của VNCH lại được các giới này yêu thích và tìm hiểu. Trong nước hiện nay, có rất nhiều giới trẻ đã dùng cờ vàng 3 sọc đỏ hoặc quân phục hay các loại trang sức có hình cờ vàng 3 sọc của VNCH, giới này đã công khai xử dụng nhan nhản trước mắt tà quyền csVN, nhạc vàng được yêu thích, sự việc này càng ngày càng lan rộng trên khắp 3 miền dất nước. Gần đây chúng lại hoảng sợ tiếp tục và ra lệnh cấm lưu hành hàng trăm bản nhạc vàng.
Một mối lo sợ từ năm này qua năm khác đến nổi tết nguyên đán, bọn đầu lĩnh Ba Đình cũng ngăn cấm tiếng pháo truyền thống trong các dịp tết tại nước ta đã có từ lâu dời, vì chúng sợ VNCH về thanh toán bọn chúng trong dịp đầu năm.
TÓM LẠI:
Phe thắng cuộc chỉ chiếm được đất đai và của cải vật chất của người miền nam nhưng họ đã không thể chiến được lòng dân, và họ đã thua luôn cái bóng của VNCH sau 42 năm quản trị đất nước, mặc dù có trong tay bộ máy công an khổng lồ để sẳn sàng trấn áp nhân dân. Xem ra yếu tố "Quốc vĩ dân vi bản" trong XHCN đã không thành tựu. CHXHCNVN đã thiếu đi cái nền tảng cốt cán là dân . Một khi không có dân làm nền tảng thì chế độ cs không sớm thì muộn sẽ bị trốc gốc. Ngày nay trong nước đám đầu lĩnh Ba Đình đã thật sự sợ hải đến hình bóng của VNCH. Một khi giai cấp nào bị áp bức thì họ đều nghĩ ngay tới tới cái chính nghĩa của VNCH, một thứ mà tà quyền cộng sản không bao giờ có được từ khi dựng nước VNDCCH và CHXHCN cho đến nay. Hồ chí minh đã thành lập đảng và nhà nước VNDCCH bằng con đường phi nhân vô đạo, đạp trên xác người yêu nước không thuộc đảng Lao Động, hoặc các giai cấp khác trong cộng đồng dân tôc.
Năm 1945 họ "hồ" đã được cướp chính quyền từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim, rồi tuyên truyền là đánh Pháp dành được Độc Lập (?!) một con người gian xảo lừa trên, lừa dưới, lừa đồng bào miền bắc để đi sâu vào con đường bất chính dưới sự chỉ đạo của của các quan thấy Nga Tàu trong cái gọi là đệ tam quốc tế cộng sản. Đảng csVN không hề có được cái chính danh từ khi dựng nước nên luôn chống đối và tránh né việc xây dựng nền móng dân chủ cho VN.
May mắn cho đồng bào miền nam VN từ khi chia đôi đất nước năm 1954 cho đến ngày 30.4.1975, được chung sống dưới mái nhà dân chủ tự do đúng mực và có được 3 nhà lãnh đạo đất nước rất anh minh, yêu nước thương nòi cho đến giờ phút không thể nửa mới buông tay. Đến nay hàng năm tên tuổi của các đời Tổng Thống dân cử Ngô Đình Diệm của nền đệ nhất cộng hoà, Nguyễn văn Thiệu của nền dệ nhị cộng hoà và Trần văn Hương của nền đệ tam cộng hoà đã được dân chúng trên toàn thế giới tưởng niệm hàng năm vào ngày giổ và trong mùa quốc tang nước VNCH. hậu duệ chúng tôi viết lại những nét chính về một chế độ chính trị mà các nhà đấu tranh dân chủ hiện nay đang thèm khát có được một xã hội nhân bản nghiêm túc như mô hình chính trị về XH thời VNCH
Hâu duệ chúng tôi cám ơn sự hy sinh của 3 vị tổng thống kể trên và kính cẩn dâng lên nén hương lòng để tưởng nhớ công đức dựng nước của qúi vị, đồng thời dâng hương lên các quân cán chính VNCH đã hy sinh cho nền tự do dân chủ nhân bản của VNCH trong suốt 20 năm trong trách nhiệm bảo quốc an dân và các đồng bào chúng ta đã tử nạn trên bước đường vượt biên vượt biển tìm tự do sau ngày 30.4.1975.
Hâu duệ VNCH Nguyen Thi Hong 15/3/2017