Powered By Blogger

  BƯỚC TIẾN MỚI CỦA CUỘC CHIẾN Ở UKRAINE: QUÂN ĐỘI KIEW ĂN MỪNG THẮNG LỢI TẠI MẶT TRẬN KHARKIV

Nguồn: Ukrinform, DeepState, Armyinform, ISW, Telegram), ngày 23-9 - Ukraine tiếp tục đẩy lùi lực lượng Nga tại khu vực Kharkiv, với trọng tâm hiện nay hướng về phía sông Oskil.

Kharkiv – Tình hình chiến tuyến trong cuộc chiến tại Ukraine vẫn liên tục biến động, thậm chí có lúc dịch chuyển ngược về phía Nga tại khu vực Kharkiv. Quân đội Kiew đã tiến quân thành công gần ngôi làng Zapadne, nằm sát sông Oskil. Thông tin này được ông Viktor Tregubov, người phát ngôn của Lực lượng Vũ trang Ukraine, xác nhận với hãng truyền thông Ukrinform của nước này.

Khi được hỏi liệu có thể xác nhận các báo cáo từ trang tin DeepState về việc quân đội Ukraine đã tái chiếm lãnh thổ gần Zapadne hay không, cựu nhà báo chính trị này đã trả lời: "Đúng vậy, đã có những thành công nhất định tại đó, nằm trong nỗ lực thu hẹp đầu cầu của đối phương ở bờ hữu ngạn sông Oskil. Đó là tất cả những gì tôi có thể chia sẻ vào lúc này."

Ukraine tái chiếm lãnh thổ: Các bước tiến quanh Zapadne từ cuối tháng 8

Theo trang tin chuyên theo dõi diễn biến chiến tuyến này, khoảng 20 km vuông lãnh thổ quanh Zapadne đã được tái chiếm. Vào tối ngày 21 tháng 9, DeepState đưa tin rằng lực lượng Ukraine đã giành lại quyền kiểm soát khu vực xung quanh ngôi làng. Các báo cáo cho thấy bước tiến đầu tiên ở phía bắc Zapadne đạt được vào ngày 25 tháng 8, tiếp đó là những bước tiến xa hơn ở phía nam ngôi làng vào năm ngày sau đó. Các đợt tái chiếm lãnh thổ khác cũng được ghi nhận vào ngày 3 tháng 9 và ngày 21 tháng 9. Tuy nhiên, khu vực dọc theo sông Oskil tại vùng này vẫn được xác định là đang bị Nga chiếm đóng.

Trong phát biểu ngày 22 tháng 9, ông Tregubov từ chối nêu đích danh những đoạn chiến tuyến nào đã đạt được các thành công này. Ông cũng không cung cấp thêm chi tiết về tình hình quanh Zapadne. Tuy nhiên, người phát ngôn quân đội đã chia sẻ thêm thông tin với đài phát thanh truyền hình công cộng Suspilne, những chi tiết sau đó được trang tin ArmyInform đăng tải. Theo các báo cáo này, quân đội Nga vẫn đang tiếp tục nỗ lực tiến về phía tây từ ngôi làng Pishchane đang bị chiếm đóng.

*Tình hình của quân đội tại Kupiansk ngày càng trở nên khó khăn*

Đồng thời, tình hình cũng đang trở nên tồi tệ hơn đối với lực lượng Nga tại thành phố Kupiansk, nơi phần lớn đã bị tàn phá và nằm chủ yếu ở bờ tây sông Oskil. Khu vực đầu cầu ở phía bắc thành phố đang bị thu hẹp dưới áp lực từ các lực lượng vũ trang Ukraine, qua đó làm trầm trọng thêm các vấn đề hậu cần cho phía Nga tại những khu vực lân cận.

Việc tiếp tế cho quân đội Nga đóng quân ở phía tây sông Oskil, đoạn giữa Dvorichna và Kupiansk, cũng ngày càng trở nên khó khăn. Khu vực này bao gồm cả vùng đất quanh Zapadne mới được giải phóng gần đây.

Theo ông Tregubov, tuyến đường duy nhất dẫn đến Kupiansk mà phía Nga có thể sử dụng là đi qua Holubivka. Khu vực này được coi là "vùng xám" , nghĩa là không nằm dưới sự kiểm soát của cả Ukraine lẫn Nga,   nhưng quân đội Kiew vẫn liên tục mở các cuộc tấn công tại đây.

*Ukraine và Chiến dịch Vivaldi: Những thành công nhờ đổi mới công nghệ*

Ông Tregubov cũng chỉ ra vai trò của sự thay đổi mùa. Lá rụng khiến việc di chuyển của các nhóm nhỏ trở nên khó khăn hơn; do đó, quy mô các nhóm xâm nhập của Nga buộc phải giảm xuống mức tối thiểu. Trong một số trường hợp, binh lính buộc phải di chuyển đơn lẻ trước khi tập hợp lại với đồng đội tại các điểm hẹn đã định.

Theo ArmyInform, cuộc tấn công của Nga vào Kupiansk, vốn đã gây ra tổn thất nặng nề, nay đã mất đà. Tuy nhiên, tình hình gần sông Oskil vẫn còn rất căng thẳng.

Trong khi đó, ở xa hơn về phía nam, Chiến dịch Vivaldi của Ukraine dường như đang mang lại kết quả. Theo Viện Nghiên cứu Chiến tranh (ISW) có trụ sở tại Mỹ cho biết, quân đội đã giành lại ít nhất 125 km2 lãnh thổ ở phía bắc thành phố Lyman trong chiến dịch này. Các binh sĩ được hỗ trợ đắc lực bởi công nghệ tối tân. Như Quân đoàn số 3 đã tiết lộ trên Telegram, các đơn vị Robot mặt đất , hoạt động trên bánh cao su hoặc bánh xích, đảm nhận tới 80% nhiệm vụ của bộ binh và 90% công tác di tản tại tiền tuyến.

Ngoài ra, có thông tin cho biết trong quá trình giải phóng ngôi làng Shandryholove, các vị trí của Nga đã bị tấn công bằng máy bay không người lái (Drohne), cho phép binh sĩ tiến quân với rủi ro tối thiểu. Một số người cho biết họ thậm chí không cần nổ phát súng nào trong chiến dịch tái chiếm này. Thêm vào đó, Robot đã được sử dụng để rải bãi mìn trải dài 400 mét chỉ trong hai đêm, một nhiệm vụ mà binh sĩ bằng xương bằng thịt sẽ phải mất tới 2 tuần mới hoàn thành.

(Có sự hỗ trợ của AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 25-9-2026   

 LITHUANIA BÁC BỎ VIỆC NỚI LỎNG CÁC LỆNH TRỪNG PHẠT CỦA EU ĐỐI VÓI BELARUS

Artikel von Stefan Locke, Warschau/ Frankfurter Allgemeine Zeitung, ngày 23-9: Lithuania phản đối bất kỳ động thái nào nhằm nới lỏng các lệnh trừng phạt của EU đối với Belarus liên quan đến một thỏa thuận phân bón tiềm năng với Mỹ, cũng như việc vận chuyển loại hàng hóa này qua lãnh thổ của mình. Ngoại trưởng Kęstutis Budrys tuyên bố tại Vilnius rằng "không có lý do gì" để xem xét lại các lệnh trừng phạt và ông thấy "không có cơ sở nào để thảo luận" về vấn đề này. Phân bón từ Belarus không thể và tuyệt đối không được phép vận chuyển qua lãnh thổ EU.

Trước đó trong tuần, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã thông báo trên nền tảng Truth Social của mình rằng Mỹ đang xúc tiến một "thỏa thuận quy mô lớn" để mua phân bón Kali từ Belarus. Ông lưu ý rằng mức giá sẽ "thấp hơn đáng kể so với giá hiện tại cho phân bón của Canada" và gọi đây là "tin rất tốt cho nông dân và người chăn nuôi của chúng ta."

Ông Deividas Matulionis, cố vấn an ninh của Tổng thống Lithuania, đã mô tả bất kỳ hành vi vi phạm nào đối với các lệnh trừng phạt của EU nhắm vào Belarus là "một sự sỉ nhục về mặt đạo đức" trong phần bình luận trên đài phát thanh Lithuania. Ông khẳng định Lithuania sẽ không cho phép Belarus vận chuyển phân bón, dù là cho bất kỳ bên nào, qua cảng Klaipėda như trước đây. Đồng thời, ông phủ nhận việc Mỹ gây áp lực lên Vilnius về vấn đề này. Lithuania không tham gia cũng như không được thông báo về các cuộc đàm phán. "Đây là vấn đề giữa Mỹ và Belarus."

Bóng bay buôn lậu từ Belarus vi phạm không phận Lithuania

Ngoại trưởng Lithuania Budrys tuyên bố rằng các cơ sở để áp đặt lệnh trừng phạt đối với Belarus, bao gồm vi phạm nhân quyền, đàn áp phe đối lập và ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược của Nga tại Ukraine, vẫn còn hiệu lực. Những nỗ lực nới lỏng lệnh trừng phạt trước đây đã dẫn đến các hành động hung hăng hơn từ phía Minsk dọc theo sườn phía đông của NATO. Hơn nữa, Lithuania cáo buộc Belarus cố tình đưa người di cư đến biên giới EU và chỉ trích hành vi vi phạm không phận của nước này thông qua các quả bóng bay buôn lậu xuất phát từ Belarus; những vụ việc này liên tục buộc phi trường thủ đô phải tạm dừng hoạt động bay. Các biện pháp trừng phạt của EU đối với Belarus vẫn có hiệu lực cho đến cuối tháng 2 năm 2027.

Về phía Mỹ, việc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt áp đặt vào tháng 12 năm 2021 đối với hai công ty sản xuất Kali của Belarus là một phần trong nỗ lực ngoại giao do đặc phái viên của ông Trump về vấn đề Belarus, John Coale, dẫn dắt nhằm thuyết phục chính quyền Minsk trả tự do cho các tù nhân chính trị. Mặc dù động thái này được công bố vào tháng 12 năm 2025 sau khi việc trả tự do diễn ra, nhưng Bộ Tài chính Mỹ thực tế phải đến tháng 3 mới chính thức loại bỏ hai công ty này khỏi danh sách trừng phạt.

Trong cuộc trao đổi với tờ *New York Times* vào giữa tháng 9, thời điểm ông thực hiện chuyến công tác mới nhất nhằm vận động trả tự do cho tù nhân,  ông Coale cho biết Washington hy vọng EU sẽ cho phép Belarus nối lại hoạt động xuất cảng phân bón Kali qua Lithuania để giúp hạ giá thành trên thị trường toàn thế giới. Tuy nhiên, vào thứ Hai, nhà lãnh đạo Belarus Alexander Lukashenko tuyên bố rằng nước này không thể cung cấp kKali cho "các thị trường Tây phương " do đã "chuyển hướng sang phía Đông" và ký kết hợp đồng bán toàn bộ sản lượng sang khu vực này.

Việc xuất cảng Kali của Belarus qua Nga cũng được xem là một phương án, dù chi phí cao hơn. Một cổng thông tin tin tức kinh doanh của Belarus đưa tin hôm thứ Hai 21-9, sau khi các quốc gia vùng Baltic không còn được sử dụng làm trung tâm xuất khẩu do các lệnh trừng phạt, lượng kali Belarus xuất khẩu qua Nga đã gia tăng. Theo báo cáo, các cảng ở vùng tây bắc nước Nga đã giải quyết 3 triệu tấn kali Belarus vào năm 2022, tiếp đó là 9,3 triệu tấn vào năm 2023, 10 triệu tấn vào năm 2024 và 11,6 triệu tấn vào năm ngoái. Tuy nhiên, công suất tại các cảng gần nhất ở St. Petersburg và vùng Leningrad hầu như đã cạn kiệt, ngoại trừ một bến cảng tại Ust-Luga, gần biên giới Estonia. Cảng Murmansk, nằm ở cực bắc của bán đảo Kola, cũng mang lại cơ hội giải quyêt khối lượng Kali xuất cảng ngày càng tăng từ Belarus.

(Có sự hỗ trợ của AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 25-9-2026

 THẨM PHÁN LIÊN BANG TẠM THỜI HỦY BỎ LỆNH CẤM CỦA ÔNG TRUMP ĐỐI VỚI POLITICO, CNN VÀ MSNBC 

Nguồn tin từ WELT (ngày 24-9): Một tòa án tại Mỹ đã tạm thời đình chỉ lệnh cấm của White House đối với CNN, MSNBC và *Politico*, ngăn cản các cơ quan này hành nghề trong khuôn viên White House. Thẩm phán cho rằng lệnh cấm này có khả năng vi phạm Hiến pháp.

Một tòa án liên bang Hoa Kỳ đã hủy bỏ lệnh cấm do Tổng thống Donald Trump áp đặt, theo đó ngăn cản các nhà báo từ các đài CNN, MSNBC và tạp chí *Politico*—tạp chí thuộc sở hữu của tập đoàn Axel Springer (giống như tờ *WELT*), vào White House.

Hôm thứ Năm, Thẩm phán Tòa án Quận Tim Kelly tuyên bố rằng việc loại bỏ ba cơ quan truyền thông này có khả năng vi phạm Hiến pháp. Phán quyết này đánh dấu một thất bại lớn đối với ông Trump trong cuộc xung đột với báo chí. Các tổ chức truyền thông này đã đệ đơn kiện chống lại lệnh cấm được công bố vào ngày 18 tháng 9.

Ông Trump từng tuyên bố rằng ba cơ quan này không được phép liên tục lan truyền "những tin giả và dối trá". Các luật sư của Bộ Tư pháp đã biện minh cho lệnh cấm với lý do an ninh quốc gia.

CNN, MSNBC và *Politico* đã đệ đơn kiện vào thứ Hai 21-9 nhằm bảo vệ quyền tự do báo chí, một quyền được Hiến pháp Hoa Kỳ quy định. Theo CNN, White House đã thu hồi thẻ hành nghề mà không báo trước hay tuân thủ quy trình hợp lệ, chỉ vì chính quyền không hài lòng với cách họ đưa tin.

Ông Trump bác bỏ cáo buộc cho rằng ông đang tấn công nền báo chí tự do. Thay vào đó, ông khẳng định mình đang hành động để chống lại "tin giả" (fake news), điều mà ông cho là gây đe dọa đến an ninh quốc gia.

Trước đây, ông Trump đã nhiều lần tìm cách ngăn cản các cơ quan truyền thông hoặc nhà báo mà ông không ưa. Ví dụ, năm ngoái, ông đã cấm hãng tin AP đi cùng trong các chuyến công tác của mình vì hãng này từ chối gọi Vịnh Mexico là "Vịnh America" ​​(Vịnh nước Mỹ). Ngoài ra, vào thứ Sáu, ông còn đe dọa sẽ cấm thêm các cơ quan truyền thông khác, chẳng hạn như *New York Times* và *Washington Post*.

(Có sự hỗ trợ của AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH , ngày 25-9-2026  

NGHỊ SĨ ĐẢNG CỘNG HOÀ JOHN CURTIS YÊU CẦU ĐIẾU TRA TIỆC CƯỚI CỦA CON TRAI ÔNG TRUMP: DO TỶ PHÚ NGA CHI TRẢ

Nguồn tin (AFP), ngày 24-9: Thượng nghị sĩ Cộng hòa John Curtis đang thúc đẩy một cuộc điều tra của Quốc hội về các hoạt động tiệc tùng trong đám cưới của con trai cả ông Donald Trump, vốn được chi trả bởi một doanh nhân người Nga. Trong lá thư gửi tới các chủ tịch Ủy ban Tư pháp Thượng viện vào thứ Ba 22-9, vị thượng nghị sĩ bang Utah này yêu cầu làm rõ liệu gia đình tổng thống có lạm dụng quyền lực chính trị cho các giao dịch kinh doanh cá nhân hay không?. Ông đề nghị triệu tập Donald Trump Jr. để phục vụ mục đích này.

"Một chiếc máy nướng bánh mì là quà cưới. Còn một bữa tiệc trên đảo riêng do một tỷ phú có quan hệ với ông Putin chi trả lại là chuyện hoàn toàn khác," ông Curtis viết trên nền tảng trực tuyến X.

Hôm thứ Hai, Donald Trump Jr. và vợ, Bettina Trump, đã xác nhận thông tin từ trang tin điều tra *ProPublica* cho biết doanh nhân Nga Umar Kremlev đã tài trợ cho các hoạt động tiệc tùng sau đám cưới với chi phí lên tới hàng trăm nghìn đô la. Cả hai chia sẻ trên Instagram rằng "người bạn thân thiết" Kremlev đã "hào phóng tổ chức hai đêm tiệc tuyệt vời" tại Bahamas vào tháng Năm.

Yêu cầu đến từ chính đảng của ông Trump

Việc một yêu cầu điều tra của Quốc hội về vấn đề này lại xuất phát từ chính đảng của ông Trump là điều khá bất thường. Trước đây, ông Curtis từng ủng hộ chương trình nghị sự của vị tổng thống này. Tuy nhiên, thượng nghị sĩ này mô tả những thông tin mới được tiết lộ về đám cưới của người con trai cả là điều "có mùi ám muội". "Đó là tham nhũng," ông Curtis phát biểu tuần trước. "Tôi không thích điều đó."

Bản thân Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm thứ Sáu đã tuyên bố rằng con trai ông đã hoàn trả số tiền đó cho doanh nhân người Nga.

Ngoài các câu hỏi liên quan đến Donald Trump Jr., Thượng nghị sĩ Curtis còn kêu gọi nối lại cuộc điều tra nhắm vào Hunter Biden, con trai của cựu Tổng thống Joe Biden, và yêu cầu triệu tập ông này. "Đảng Cộng hòa gần như đã dùng cạn kiệt công cụ triệu tập nhân chứng khi điều tra các mối quan hệ nước ngoài của Hunter Biden. Chúng ta không nên dừng lại lúc này," ông Curtis nhấn mạnh.

(Có sự hỗ trợ của AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 25-9-2026 

TRONG CUỘC GẶP Ở MỸ LẦN NÀY: TRUMP VÀ TẬP BÀN VỀ ĐỀ TÀI  "SỰ NGUY HIỂM CỦA AI"  MÀ KHÔNG CÓ NGA?

Nga cũng là cường quốc hạt nhân và công nghệ, nhưng có 3 lý do chính khiến hiện nay đối thoại về sự nguy hiểm của AI lại chủ yếu là song phương Mỹ - Trung:

1. Mỹ và Trung Quốc là 2 người chơi duy nhất ở top đầu về AI

Cuộc thảo luận về nguy hiểm của AI hiện nay không phải về vũ khí nói chung, mà tập trung vào AI nền tảng - Generative AI, AGI, mô hình ngôn ngữ lớn.

Mỹ có OpenAI, Google DeepMind, Anthropic, Meta

Trung Quốc có Baidu, Alibaba, Tencent, DeepSeek, Moonshot

Nga rất mạnh về tác chiến điện tử, an ninh mạng, nhưng lại không có mô hình AI nền tảng nào ở quy mô toàn cầu như Mỹ và TQ. Nên khi Mỹ muốn bàn về quản trị rủi ro AI - như AI tự hành, AI kiểm soát vũ khí hạt nhân, Deepfake can thiệp bầu cử - thì đối tác duy nhất có năng lực tương đương là Trung Quốc.

2. Mỹ và TQ đã có một kênh riêng từ năm 2023-2024

Sau hội nghị thượng đỉnh Biden - Tập ở San Francisco tháng 11/2023, hai bên đã đồng ý lập kênh đối thoại liên chính phủ về rủi ro AI.

Vòng đầu tiên họp ở Geneva tháng 5/2024, vòng 2 ở Bắc Kinh. Chủ đề rất cụ thể: không để AI tự động ra quyết định phóng vũ khí hạt nhân, quản lý an toàn mô hình lớn.

Đây là kênh được xây dựng song phương, giống như kênh kiểm soát vũ khí hạt nhân Mỹ - Liên Xô ngày xưa. Không phải là một diễn đàn mở của Liên Hợp Quốc.

3. Nga hiện đang ở ngoài các kênh hợp tác đó vì lý do địa chính trị

Quan hệ Mỹ - Nga đóng băng sau chiến tranh Ukraine. Gần như toàn bộ cơ chế kiểm soát vũ khí, đối thoại chiến lược giữa Mỹ và Nga đã bị đình chỉ. Rất khó để mở thêm một kênh mới về AI.

Nga thì lại thảo luận về AI và vũ khí tự hành ở các diễn đàn khác: trong khuôn khổ UN CCW (Công ước về một số vũ khí thông thường), hoặc trong các tuyên bố chung với Trung Quốc.

Mỹ cũng lo ngại nếu đưa Nga vào cuộc họp 3 bên, cuộc họp sẽ lập tức biến thành cuộc tranh cãi về Ukraine, an ninh Âu châu, chứ không tập trung được vào kỹ thuật AI nữa.

Nói ngắn gọn: Không phải Nga không quan trọng, mà là Mỹ và TQ đang bàn về một loại rủi ro AI mà chỉ họ mới đang tạo ra ở quy mô lớn nhất.

Nếu sau này có một hiệp ước quốc tế về cấm AI trong vũ khí hạt nhân hay vũ khí tự hành sát thương (LAWS), lúc đó chắc chắn sẽ phải có Nga, và cả Anh, Pháp, Ấn Độ, Israel. Nhưng giai đoạn hiện tại vẫn là bước "hai ông lớn nhất ngồi lại với nhau trước".

(Có sự hỗ trợ của AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 25-9-2026 

 ÔNG SELENSKYY TIẾT LỘ TẠI LHQ: LÍNH BẮC HÀN THÀ CHẾT CHỨ KHÔNG CHỊU BỊ BẮT

Artikel von Tim Krüger/Frankfurter Rundschau, ngày 24-9:  Cho đến nay, lực lượng an ninh Ukraine chỉ bắt sống được một số rất ít binh sĩ Triều Tiên và lý do đằng sau điều này thật kinh hoàng.

Phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào thứ Ba 22-9, ông Volodymyr Selenskyy đã kể lại trường hợp một binh sĩ Triều Tiên cố gắng tự sát ngay khoảnh khắc sắp bị bắt giữ. Theo lời ông Selenskyy, người lính này đã vô cùng bàng hoàng khi "số phận không để cho anh ta chết". Tổng thống Ukraine cũng tận dụng diễn đàn tại New York để xác nhận rằng Ukraine đã chuyển giao 2 binh sĩ Triều Tiên đầu tiên bị bắt sống cho Nam Hàn.

Tâm lý tuyệt vọng của binh sĩ Triều Tiên bắt nguồn từ những hành động tàn bạo từng được các tổ chức nhân quyền và cơ quan tình báo ghi nhận: lực lượng Nga và cấp trên của binh sĩ người Triều Tiên, được cho là thường xuyên hành quyết chính những binh sĩ bị thương nặng của mình ngay trên chiến trường.

Mục đích được nêu ra của hành động này là nhằm tiêu hủy một cách có hệ thống các bằng chứng về sự hiện diện trực tiếp của quân đội Triều Tiên tại tiền tuyến, trước khi những binh sĩ bị thương có thể rơi vào tay Ukraine. Tại New York, ông Zelenskyy mô tả hành động này là sự "điên rồ" cả về mặt quân sự lẫn nhân đạo. Ông tuyên bố rằng ông Kim Jong-un đang sử dụng binh sĩ của mình như một dạng "tiền tệ" sống, đem họ ra tiền tuyến để đổi lấy vũ khí từ Nga.

Các đơn vị tấn công của Triều Tiên trong cuộc chiến tại Ukraine: Thương vong và thất bại về chiến thuật

Các cơ quan tình báo Tây phương và Ukraine ước tính lực lượng này bao gồm từ 10.000 đến 12.000 thành viên thuộc Quân đội Nhân dân Triều Tiên (KPA), trong khi các nguồn tin từ Nam Hàn ước tính con số này lên tới 15.000 quân. Nòng cốt của lực lượng này là Quân đoàn 11 của KPA, một đơn vị tinh nhuệ được huấn luyện cho các hoạt động đặc biệt và xâm nhập, nhưng lại chủ yếu được khai triển như bộ binh tấn công trực diện tại chiến trường Ukraine. Trọng tâm hoạt động của họ là tại tỉnh Kursk, nơi lực lượng Ukraine vẫn đang duy trì các vị trí kiểm soát kể từ tháng 8 năm 2024.

Kết quả việc khai triển quân sự của Triều Tiên là một thảm họa. Chính quyền Ukraine ghi nhận hàng trăm binh sĩ thiệt mạng và bị thương chỉ trong vài ngày giao tranh, buộc giới lãnh đạo Nga phải tạm thời rút các đơn vị KPA bị tổn thất nặng nề khỏi những khu vực tiền tuyến ác liệt nhất. Nguyên nhân sâu xa nằm ở những khiếm khuyết trong học thuyết quân sự của Triều Tiên: KPA được xây dựng để tác chiến trong kịch bản chiến tranh cố định tại địa hình đồi núi của Bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, trên chiến trường Ukraine nơi máy bay không người lái (UAV) chiếm ưu thế, các chiến thuật tấn công bộ binh truyền thống đang bộc lộ những rủi ro chết người.

Làm trầm trọng thêm các vấn đề này là rào cản giao tiếp nghiêm trọng. Cả sĩ quan lẫn binh sĩ Triều Tiên đều không nói được tiếng Nga, trong khi phía Nga lại thiếu hụt trầm trọng các phiên dịch viên tiếng Hàn có chuyên môn quân sự. Các bảng thuật ngữ song ngữ và danh sách khẩu lệnh phiên âm sơ sài đã tỏ ra không hiệu quả trong điều kiện thực chiến. Hậu quả thật thảm khốc: theo tin từ *Business Insider* và các phương tiện truyền thông khác, vào giữa tháng 12 năm 2024, các đơn vị Triều Tiên tại khu vực Kursk đã nổ súng vào một phân đội thuộc lực lượng đặc nhiệm "Akhmat" của Chechnya, khiến ít nhất tám chiến binh phe đồng minh thiệt mạng trong một vụ bắn nhầm, một sự kiện phơi bày sự thiếu gắn kết về mặt tổ chức của liên minh này.

Thế lưỡng nan về mặt pháp lý quốc tế đối với tù binh Triều Tiên

Những trường hợp đầu tiên xác nhận việc bắt sống binh sĩ Triều Tiên diễn ra vào ngày 9 tháng 1 năm 2025 tại mặt trận Kursk. Lực lượng thuộc Nhóm Tác chiến 84 của Lực lượng Đặc nhiệm Ukraine, phối hợp cùng lính dù, đã bắt giữ hai binh sĩ bị thương nặng của Quân đội Nhân dân Triều Tiên (KVA) và đưa họ về Kyiew. Quá trình thẩm vấn do Cơ quan An ninh Ukraine (SBU) thực hiện, với sự hợp tác chặt chẽ cùng Cơ quan Tình báo Quốc gia Nam Hàn (NIS), đã mang lại những thông tin chi tiết: một trong số các tù binh, thành viên của một đơn vị bắn tỉa sinh năm 1999, đang mang theo thẻ quân nhân Nga được cấp dưới tên của một người thật đến từ Cộng hòa Tuva thuộc vùng Siberia.

Cả 2 người đàn ông đều khẳng định nhất quán rằng họ đã bị lừa dối về điểm đến thực sự trước khi khởi hành, họ được thông báo rằng mình đang được điều động đi huấn luyện. Việc di chuyển của họ được thực hiện bí mật bằng tàu chở hàng đến vùng Viễn Đông của Nga, sau đó là hành trình bằng tàu hỏa giường nằm tới biên giới phía tây.

Số phận của những người đàn ông này đặt ra một vấn đề nan giải cơ bản đối với luật nhân đạo quốc tế.

Các Công ước Geneva: Theo nguyên tắc, bên giam giữ có nghĩa vụ hồi hương tù binh về nước sau khi chiến sự chấm dứt.

Công ước Liên Hợp Quốc về Chống Tra tấn: Việc chuyển giao bị cấm nếu việc hồi hương tiềm ẩn nguy cơ bị tra tấn hoặc hành quyết (tại Triều Tiên, việc bị bắt làm tù binh bị coi là tội phản quốc). Công ước Liên Hợp Quốc về Chống Tra tấn, cùng các văn kiện khác, quy định rõ lệnh cấm này.

Nguyên tắc liên đới chịu tội (*Yeonjwa-je*): Tại Triều Tiên, người thân của những người đào tẩu phải đối mặt với sự trừng phạt kéo dài qua nhiều thế hệ.

Luật pháp Nam Hàn: Seoul coi tất cả cư dân trên Bán đảo Triều Tiên là công dân của mình và đã bày tỏ thiện chí tiếp nhận họ.

Trong bối cảnh của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, nguy cơ này rất rõ ràng, Bình Nhưỡng trừng phạt mọi trường hợp bị bắt làm tù binh như một hành vi phản quốc. Danh tính của cả hai người đàn ông đã bị tiết lộ trên các phương tiện truyền thông quốc tế. Hơn nữa, nguyên tắc liên đới chịu tội (*Yeonjwa-je*) cũng được áp dụng: người thân của tù binh hoặc người đào tẩu phải chịu sự đàn áp của nhà nước kéo dài qua nhiều thế hệ.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 25-9-2026 

3 THÁNG VỚI 2 LẦN HUNG CAO GẶP TÔ LÂM VÀ PHAN VĂN GIANG- MANG Ý NGHĨA GÌ??

Nhìn các nguồn chính thức và tin mới nhất thì thấy cuộc găp mặt Hung Cao, Tô Lâm, Phan Văn Giang, cho thấy được bức tranh như sau:

Ông Hung Cao trở thành Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ từ ngày 22/4/2026. Ông là cựu sĩ quan tác chiến đặc biệt của Hải quân Mỹ, sinh tại Việt Nam và nói tiếng Việt.

Ngày 22/6/2026, chỉ khoảng hai tháng sau khi nhậm chức quyền Bộ trưởng, ông Cao sang Việt Nam dự chương trình Pacific Partnership/Pacific Friendship 2026 tại Quảng Trị. Trong cùng ngày, ông được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp và Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng, tiếp.

Ngày 22/9/2026, đúng 3 tháng sau, ông Cao lại gặp Tô Lâm và Phan Văn Giang tại New York, bên lề Đại hội đồng LHQ.

Đáng chú ý nữa: ngày 2/9/2026, Tổng thống Trump đã đề cử Hung Cao trở thành Bộ trưởng Hải quân chính thức, thay vì chỉ giữ chức quyền.

Vậy điều gì thực sự đáng chú ý?

Việc này có được xem là bất thường ? việc làm cho thấy, có ít nhất mang 3 ý nghĩa để phân tích, và còn phải kiểm chứng để kết luận rằng có một “thỏa thuận bí mật” hay điều gì bất thường trong mối quan hệ Việt Mỹ?

1. Số lần tiếp xúc rất cao

Trong khoảng 3 tháng, Hung Cao đã gặp cả hai nhân vật đứng đầu lĩnh vực chính trị và quốc phòng của Việt Nam, và đáng chú ý là gặp lại cả hai chỉ sau đúng khoảng 3 tháng.

Điều này cho thấy quan hệ Việt–Mỹ, ít nhất ở lĩnh vực quốc phòng/hàng hải, đang được duy trì ở cấp độ rất cao.

2. Nội dung đã được công bố tập trung khá rõ vào biển và an ninh khu vực

Trong cuộc gặp tháng 9, Hung Cao nói hợp tác quốc phòng song phương, đặc biệt an ninh hàng hải, có vai trò quan trọng; ông muốn mở rộng hợp tác về an ninh hàng hải, nâng cao năng lực, cứu trợ nhân đạo và ứng phó thiên tai.

Đây là điểm đáng chú ý trong bối cảnh Việt Nam có vị trí chiến lược ở Biển Đông. Tuy nhiên, từ những thông tin công khai hiện có, không thể suy ra rằng hai bên đã đạt một thỏa thuận quân sự bí mật nào đó?.

3. Cá nhân Hung Cao tạo ra một vai trò ngoại giao khá đặc biệt

Ông Cao không phải một quan chức ngoại giao chuyên nghiệp thông thường. Ông từng là sĩ quan Hải quân Mỹ, có kinh nghiệm đặc nhiệm, EOD và hoạt động tại Iraq, Afghanistan; đồng thời có nguồn gốc Việt Nam và nói tiếng Việt.

Vì vậy, việc ông được cử sang Việt Nam rất sớm sau khi nhận chức, rồi tiếp tục gặp lãnh đạo Việt Nam tại New York, có thể được xem là một dấu hiệu của sự coi trọng quan hệ Việt–Mỹ. Nhưng đó là một diễn giải từ chuỗi sự kiện; chưa nên biến nó thành kết luận.

Có một chi tiết rất đáng chú ý 

Tháng 6, chuyến đi của Hung Cao không chỉ là chuyến thăm ngoại giao. Ông trực tiếp tham gia chương trình Pacific Partnership/Pacific Friendship tại Quảng Trị, nơi khoảng 270 quân nhân Mỹ phối hợp với Quân đội Nhân dân Việt Nam trong các hoạt động công binh, y tế, cứu trợ thiên tai và huấn luyện ứng phó. Hải quân Mỹ mô tả đây là hoạt động nhằm tăng khả năng phối hợp và xây dựng quan hệ lâu dài trong khu vực Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương.

Vì thế, chúng ta nhìn lại chuỗi sự kiện này dưới góc độ “có thông điệp chiến lược nào phía sau không?”, thì câu hỏi đó hoàn toàn đáng phân tích. Nhưng nên tách những gì đã được xác nhận khỏi những suy luận về ý đồ của Mỹ ở phía sau của các chuyến găp mặt đó.

Thêm những nhận định sâu thêm : 

Đặt lại 2 chuyến gặp Hung Cao–Tô Lâm–Phan Văn Giang cạnh nhau và phân tích xem “thông điệp ngầm” về Biển Đông, Trung Quốc và quan hệ quốc phòng Việt–Mỹ có thể là gì, dựa trên các tuyên bố chính thức của Mỹ và Việt Nam.

Nếu đặt  vấn đề 2 lần gặp Hùng Cao – Tô Lâm – Phan Văn Giang cạnh nhau, tôi cho rằng điều đáng chú ý nhất không phải chỉ là “ông Hùng Cao gặp lãnh đạo Việt Nam 2 lần trong 3 tháng”, mà là nội dung và cấp độ của hai cuộc gặp tạo thành một chuỗi khá rõ: từ biểu tượng/chính trị → hợp tác quốc phòng, mà thực chất là đi đến một giải pháp cho an ninh hàng hải.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa tín hiệu có thể quan sát được và ý đồ của Mỹ Việt về chiến lược chưa được công khai.

1. Hai cuộc gặp thực chất là hai “mảnh ghép” của cùng một câu chuyện

Ngày 22/6 tại Hà Nội, Hùng Cao sang Việt Nam trong khuôn khổ Pacific Partnership–Pacific Friendship 2026. Ông gặp Tô Lâm và Phan Văn Giang trong cùng ngày. Phía Việt Nam khi đó nhấn mạnh các lĩnh vực hợp tác quốc phòng vốn đã có: trao đổi đoàn, gìn giữ hòa bình LHQ, an ninh mạng, an ninh hàng hải, quân y, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa.

Ngày 22/9 tại New York, ba tháng sau, kịch bản gần như được lặp lại: Hùng Cao gặp Tô Lâm, rồi gặp Phan Văn Giang. Nhưng lần này thông điệp về quốc phòng được cụ thể hóa hơn: Mỹ nói tới maritime security, capacity building, humanitarian assistance/disaster response; phía Việt Nam đề cập thêm đối thoại chính sách quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, an ninh hàng hải và quân y.

Nói cách khác:

*Tháng 6: đặt nền tảng.

*Tháng 9: nhắc lại và mở rộng các lĩnh vực hợp tác.

Điều này đáng chú ý hơn việc chỉ nhìn vào số lần gặp.

2. Điều đặc biệt: Vai trò của Hùng Cao không phải Ngoại trưởng hay Bộ trưởng Quốc phòng

Đây là điểm mà giới quan sát rất đáng để ý.

Hùng Cao là Quyền Bộ trưởng Hải quân Mỹ, không phải Bộ trưởng Quốc phòng hay Ngoại trưởng. Ông mới đảm nhiệm vị trí này từ 22/4/2026. Hồ sơ chính thức của Hải quân Mỹ cho biết ông từng là sĩ quan đặc nhiệm, EOD, thợ lặn Hải quân và từng giữ chức Thứ trưởng Hải quân; ông cũng thông thạo tiếng Việt.

Vì vậy, việc ông được tiếp ở cấp Tô Lâm + Phan Văn Giang, rồi chỉ ba tháng sau lại được tiếp ở cả hai cấp đó, là một dấu hiệu cho thấy chức năng của ông trong quan hệ Việt–Mỹ không chỉ thuần túy là một cuộc tiếp xúc kỹ thuật của Hải quân. Điều này trùng hợp với việc đóng mới các tàu chiến mới cho hải quân Hoa Kỳ, do ông Trump đề nghi. 

Nhưng có một dữ kiện cũng không kém quan trọng khác:

Ngày 22/9, Tô Lâm chúc mừng Hùng Cao vì được Tổng thống Trump đề cử làm Bộ trưởng Hải quân chính thức. Do đó, cuộc gặp tháng 9 cũng có một lý do rất trực tiếp: lãnh đạo Việt Nam gặp một quan chức Mỹ đang được đề cử lên vị trí chính thức cao hơn, chứ không nhất thiết chỉ vì một vấn đề địa chính trị bí mật.

3. Nhưng “điểm nhấn hàng hải” mới thực sự đáng phân tích

Trong cả hai cuộc gặp, Maritime Security – an ninh hàng hải xuất hiện.

Tháng 6, Việt Nam đã liệt kê an ninh hàng hải trong những lĩnh vực hợp tác quốc phòng hiện hữu.

Tháng 9, Hùng Cao tiếp tục nói Mỹ sẵn sàng mở rộng hợp tác về:

*an ninh hàng hải;

*nâng cao năng lực;

*hỗ trợ nhân đạo;

*ứng phó thiên tai;

*khắc phục hậu quả chiến tranh.

Trong khi đó, Phan Văn Giang đưa an ninh hàng hải và công nghiệp quốc phòng vào nhóm nội dung mà hai bên cần tiếp tục khai triển.

Điều này đáng chú ý bởi quan hệ quốc phòng Mỹ–Việt từ trước đã có một hướng phát triển là tăng cường nhận thức tình huống trên biển và năng lực hàng hải của Việt Nam. Bộ Quốc phòng Mỹ từng công khai nói tới việc tăng cường Maritime awareness và defense capabilities của Việt Nam.

Nhưng không nên cho rằng, Việt Nam đang chuẩn bị một liên minh quân sự với Mỹ. Những tài liệu công khai hiện không chứng minh được điều đó.

4. Có một lớp ý nghĩa khác: “Hùng Cao” có thể là một cây cầu nối rất đặc biệt, giữa chính sách của Trump với VN.

Đây có lẽ là yếu tố khiến hai cuộc gặp đáng chú ý hơn một cuộc gặp thông thường. Hùng Cao là người Việt Nam tị nạn sang Mỹ từ nhỏ, sau đó trở thành sĩ quan Hải quân Mỹ và hiện giữ vị trí lãnh đạo cao cấp trong Hải quân. Hồ sơ Hải quân Mỹ xác nhận ông thông thạo tiếng Việt.

Và Tô Lâm đích thân nhấn mạnh trong cuộc gặp tháng 9 rằng ông đánh giá cao tình cảm và sự gắn bó của Hùng Cao với quê hương Việt Nam; từ yếu tố tình cảm đó, Tô Lâm có thể đã khai thác Hung Cao, trong vấn đề kêu gọi xóa bỏ hận thù theo tinh thần của nghị quyết 36 và 23.  Tô Lâm cũng từng đề nghị ông tiếp tục đóng góp cho quan hệ Việt–Mỹ và tăng cường kết nối cộng đồng người Việt tại Mỹ với quê hương.

Điều này cho thấy Hà Nội đang nhìn Hùng Cao không đơn thuần dưới tư cách “quan chức Hải quân Mỹ”, mà còn dưới tư cách một người Mỹ gốc Việt có khả năng là một cây cầu nối, cho việc chiêu hàng cộng đồng người Việt tị nạn ở Mỹ. Đây là một tín hiệu chính trị khá rõ từ phía chính quyền do đảng  cộng sản lãnh đạo. Điều này thể hiện khá rỏ trong việc truyền thông lề phải và các Youtuber thực hiện việc kêu gọi hòa hợp hòa giải, xoa bỏ quá khứ...cũng như mượn hình ảnh Hùng Cao để khoát cái áo yêu nước, tha thiết trong việc lấy lại Hoàng /Trường Sa, nhữngphaafn biển đảo của tổ tiên để lại cho Việt tộc, mà HCM và PVĐ đã dâng cho Trung Quốc từ năm 1958.

5. Và có một chi tiết rất đáng chú ý: “hậu quả chiến tranh”

Nếu chỉ nhìn vào “Hải quân + an ninh hàng hải”, chúng ta có thể dễ dàng nghĩ tới Biển Đông. Nhưng hai bên lại liên tục đưa vào chương trình nghị sự một vấn đề hoàn toàn khác: đó là việc khắc phục hậu quả chiến tranh. Một vấn đề có thể tạm gọi là ăn mày quá khứ.

Tháng 9, Phan Văn Giang đặc biệt đánh giá cao việc Mỹ phối hợp tổ chức Vietnam Wartime Accounting Initiative, đồng thời nói về “Chiến dịch 500 ngày đêm” nhằm đẩy nhanh việc tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ Việt Nam.

Đây là điểm quan trọng.

Nó cho thấy Washington và Hà Nội đang cố tạo ra một nền tảng hợp tác có tính xây dựng lòng tin, thay vì chỉ nói về cạnh tranh chiến lược.

Bộ Quốc phòng Mỹ trước đây cũng từng xác định việc giải quyết di sản chiến tranh , tìm kiếm người mất tích, giải quyết chất độc da cam, bom mìn chưa nổ , là một thành tố quan trọng trong xây dựng lòng tin giữa hai nước.

6. Nếu có cái nhìn từ Bắc Kinh, thì sao?

Có một thực tế khách quan: Mỹ và Việt Nam đều có lợi ích trong việc duy trì một môi trường hàng hải ổn định ở Đông Nam Á, và quan hệ Mỹ–Việt đã được nâng lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện từ năm 2023. Một báo cáo của Congressional Research Service cũng ghi nhận hai nước mở rộng hợp tác an ninh khu vực trong bối cảnh những quan ngại chung về hoạt động ngày càng quyết đoán của Trung Quốc.

Nhưng Việt Nam đồng thời chủ trương duy trì sự quan hệ quốc phòng với nhiều đối tác khác nhau. Ví dụ, chỉ một tháng trước cuộc gặp New York, Phan Văn Giang đã sang Nga và gặp Sergei Shoigu; Việt Nam tiếp tục xác định hợp tác quốc phòng với Nga là một lĩnh vực quan trọng. Và tháng 7, Phan Văn Giang sang Nhật Bản để thúc đẩy hợp tác quốc phòng Việt–Nhật. Điều này phù hợp với cách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc phòng, hơn là dấu hiệu Việt Nam chọn một phe quân sự duy nhất.

7. Vì vậy, hai cuộc gặp  mặt theo 4 tầng

Ngoại giao, Việt Nam coi trọng việc duy trì quan hệ cấp cao với Washington

Quốc phòng, Hợp tác tiếp tục đi vào các lĩnh vực cụ thể

Hàng hải, Maritime security được nhắc lại ở cả hai cuộc gặp mặt tháng 6 và 9

Chiến lược , Mỹ muốn một Việt Nam mạnh, độc lập, tự cường và có vai trò ngày càng lớn trong khu vực; Việt Nam muốn hợp tác nhưng trên cơ sở lợi ích của cả hai bên

Điểm cuối cùng rất đáng chú ý: chính Hùng Cao sử dụng công thức “strong, independent, self-reliant and prosperous Vietnam” trong cả thông điệp tháng 9.

Có một chuỗi sự kiện đáng chú ý, nhưng chưa có bằng chứng công khai cho thấy một thỏa thuận bí mật nào được đặt ra.

Điều đáng chú ý nhất là số lần gặp + cấp độ + chủ đề:

Hùng Cao nhậm chức 22/4, sang Việt Nam 22/6, gặp Tô Lâm và Phan Văn Giang, trở lại New York 22/9, lại gặp cả Tô Lâm và Phan Văn Giang ,  đồng thời nhấn mạnh MaritimeSecurity vàCapacity Building.

Nếu muốn đi tìm “ẩn số”, trong 2 lần găp mặt của Hung Cao. Tô Lâm, Phan Văn Gian, đáng để ý nhất không phải là “Mỹ–Việt sắp liên minh quân sự”, mà là:

Liệu Washington đang muốn xây dựng một năng lực hàng hải Việt Nam mạnh hơn trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện, và liệu Hà Nội có đang tận dụng sự quan tâm đó để tăng năng lực tự chủ trên biển mà vẫn giữ chính sách cân bằng giữa Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và các đối tác khác hay không?

Đó làvaasn đề có cơ sở từ những gì hai bên thực sự nói và làm, thay vì phải giả định một thỏa thuận gì đó bí mật giữa Việt Mỹ.

( Có sự hỗ trợ của AI)

Bình luận từ Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 25-9-2026  

 3 THÁNG VỚI 2 LẦN HUNG CAO GẶP TÔ LÂM VÀ PHAN VĂN GIANG- MANG Ý NGHĨA GÌ??

Nhìn các nguồn chính thức và tin mới nhất thì thấy cuộc găp mặt Hung Cao, Tô Lâm, Phan Văn Giang, cho thấy được bức tranh như sau:

Ông Hung Cao trở thành Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ từ ngày 22/4/2026. Ông là cựu sĩ quan tác chiến đặc biệt của Hải quân Mỹ, sinh tại Việt Nam và nói tiếng Việt.

Ngày 22/6/2026, chỉ khoảng hai tháng sau khi nhậm chức quyền Bộ trưởng, ông Cao sang Việt Nam dự chương trình Pacific Partnership/Pacific Friendship 2026 tại Quảng Trị. Trong cùng ngày, ông được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp và Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng, tiếp.

Ngày 22/9/2026, đúng 3 tháng sau, ông Cao lại gặp Tô Lâm và Phan Văn Giang tại New York, bên lề Đại hội đồng LHQ.

Đáng chú ý nữa: ngày 2/9/2026, Tổng thống Trump đã đề cử Hung Cao trở thành Bộ trưởng Hải quân chính thức, thay vì chỉ giữ chức quyền.

Vậy điều gì thực sự đáng chú ý?

Việc này có được xem là bất thường ? việc làm cho thấy, có ít nhất mang 3 ý nghĩa để phân tích, và còn phải kiểm chứng để kết luận rằng có một “thỏa thuận bí mật” hay điều gì bất thường trong mối quan hệ Việt Mỹ?

1. Số lần tiếp xúc rất cao

Trong khoảng 3 tháng, Hung Cao đã gặp cả hai nhân vật đứng đầu lĩnh vực chính trị và quốc phòng của Việt Nam, và đáng chú ý là gặp lại cả hai chỉ sau đúng khoảng 3 tháng.

Điều này cho thấy quan hệ Việt–Mỹ, ít nhất ở lĩnh vực quốc phòng/hàng hải, đang được duy trì ở cấp độ rất cao.

2. Nội dung đã được công bố tập trung khá rõ vào biển và an ninh khu vực

Trong cuộc gặp tháng 9, Hung Cao nói hợp tác quốc phòng song phương, đặc biệt an ninh hàng hải, có vai trò quan trọng; ông muốn mở rộng hợp tác về an ninh hàng hải, nâng cao năng lực, cứu trợ nhân đạo và ứng phó thiên tai.

Đây là điểm đáng chú ý trong bối cảnh Việt Nam có vị trí chiến lược ở Biển Đông. Tuy nhiên, từ những thông tin công khai hiện có, không thể suy ra rằng hai bên đã đạt một thỏa thuận quân sự bí mật nào đó?.

3. Cá nhân Hung Cao tạo ra một vai trò ngoại giao khá đặc biệt

Ông Cao không phải một quan chức ngoại giao chuyên nghiệp thông thường. Ông từng là sĩ quan Hải quân Mỹ, có kinh nghiệm đặc nhiệm, EOD và hoạt động tại Iraq, Afghanistan; đồng thời có nguồn gốc Việt Nam và nói tiếng Việt.

Vì vậy, việc ông được cử sang Việt Nam rất sớm sau khi nhận chức, rồi tiếp tục gặp lãnh đạo Việt Nam tại New York, có thể được xem là một dấu hiệu của sự coi trọng quan hệ Việt–Mỹ. Nhưng đó là một diễn giải từ chuỗi sự kiện; chưa nên biến nó thành kết luận.

Có một chi tiết rất đáng chú ý 

Tháng 6, chuyến đi của Hung Cao không chỉ là chuyến thăm ngoại giao. Ông trực tiếp tham gia chương trình Pacific Partnership/Pacific Friendship tại Quảng Trị, nơi khoảng 270 quân nhân Mỹ phối hợp với Quân đội Nhân dân Việt Nam trong các hoạt động công binh, y tế, cứu trợ thiên tai và huấn luyện ứng phó. Hải quân Mỹ mô tả đây là hoạt động nhằm tăng khả năng phối hợp và xây dựng quan hệ lâu dài trong khu vực Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương.

Vì thế, chúng ta nhìn lại chuỗi sự kiện này dưới góc độ “có thông điệp chiến lược nào phía sau không?”, thì câu hỏi đó hoàn toàn đáng phân tích. Nhưng nên tách những gì đã được xác nhận khỏi những suy luận về ý đồ của Mỹ ở phía sau của các chuyến găp mặt đó.

Thêm những nhận định sâu thêm : 

Đặt lại 2 chuyến gặp Hung Cao–Tô Lâm–Phan Văn Giang cạnh nhau và phân tích xem “thông điệp ngầm” về Biển Đông, Trung Quốc và quan hệ quốc phòng Việt–Mỹ có thể là gì, dựa trên các tuyên bố chính thức của Mỹ và Việt Nam.

Nếu đặt  vấn đề 2 lần gặp Hùng Cao – Tô Lâm – Phan Văn Giang cạnh nhau, tôi cho rằng điều đáng chú ý nhất không phải chỉ là “ông Hùng Cao gặp lãnh đạo Việt Nam 2 lần trong 3 tháng”, mà là nội dung và cấp độ của hai cuộc gặp tạo thành một chuỗi khá rõ: từ biểu tượng/chính trị → hợp tác quốc phòng, mà thực chất là đi đến một giải pháp cho an ninh hàng hải.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa tín hiệu có thể quan sát được và ý đồ của Mỹ Việt về chiến lược chưa được công khai.

1. Hai cuộc gặp thực chất là hai “mảnh ghép” của cùng một câu chuyện

Ngày 22/6 tại Hà Nội, Hùng Cao sang Việt Nam trong khuôn khổ Pacific Partnership–Pacific Friendship 2026. Ông gặp Tô Lâm và Phan Văn Giang trong cùng ngày. Phía Việt Nam khi đó nhấn mạnh các lĩnh vực hợp tác quốc phòng vốn đã có: trao đổi đoàn, gìn giữ hòa bình LHQ, an ninh mạng, an ninh hàng hải, quân y, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa.

Ngày 22/9 tại New York, ba tháng sau, kịch bản gần như được lặp lại: Hùng Cao gặp Tô Lâm, rồi gặp Phan Văn Giang. Nhưng lần này thông điệp về quốc phòng được cụ thể hóa hơn: Mỹ nói tới maritime security, capacity building, humanitarian assistance/disaster response; phía Việt Nam đề cập thêm đối thoại chính sách quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, an ninh hàng hải và quân y.

Nói cách khác:

*Tháng 6: đặt nền tảng.

*Tháng 9: nhắc lại và mở rộng các lĩnh vực hợp tác.

Điều này đáng chú ý hơn việc chỉ nhìn vào số lần gặp.

2. Điều đặc biệt: Vai trò của Hùng Cao không phải Ngoại trưởng hay Bộ trưởng Quốc phòng

Đây là điểm mà giới quan sát rất đáng để ý.

Hùng Cao là Quyền Bộ trưởng Hải quân Mỹ, không phải Bộ trưởng Quốc phòng hay Ngoại trưởng. Ông mới đảm nhiệm vị trí này từ 22/4/2026. Hồ sơ chính thức của Hải quân Mỹ cho biết ông từng là sĩ quan đặc nhiệm, EOD, thợ lặn Hải quân và từng giữ chức Thứ trưởng Hải quân; ông cũng thông thạo tiếng Việt.

Vì vậy, việc ông được tiếp ở cấp Tô Lâm + Phan Văn Giang, rồi chỉ ba tháng sau lại được tiếp ở cả hai cấp đó, là một dấu hiệu cho thấy chức năng của ông trong quan hệ Việt–Mỹ không chỉ thuần túy là một cuộc tiếp xúc kỹ thuật của Hải quân. Điều này trùng hợp với việc đóng mới các tàu chiến mới cho hải quân Hoa Kỳ, do ông Trump đề nghi. 

Nhưng có một dữ kiện cũng không kém quan trọng khác:

Ngày 22/9, Tô Lâm chúc mừng Hùng Cao vì được Tổng thống Trump đề cử làm Bộ trưởng Hải quân chính thức. Do đó, cuộc gặp tháng 9 cũng có một lý do rất trực tiếp: lãnh đạo Việt Nam gặp một quan chức Mỹ đang được đề cử lên vị trí chính thức cao hơn, chứ không nhất thiết chỉ vì một vấn đề địa chính trị bí mật.

3. Nhưng “điểm nhấn hàng hải” mới thực sự đáng phân tích

Trong cả hai cuộc gặp, Maritime Security – an ninh hàng hải xuất hiện.

Tháng 6, Việt Nam đã liệt kê an ninh hàng hải trong những lĩnh vực hợp tác quốc phòng hiện hữu.

Tháng 9, Hùng Cao tiếp tục nói Mỹ sẵn sàng mở rộng hợp tác về:

*an ninh hàng hải;

*nâng cao năng lực;

*hỗ trợ nhân đạo;

*ứng phó thiên tai;

*khắc phục hậu quả chiến tranh.

Trong khi đó, Phan Văn Giang đưa an ninh hàng hải và công nghiệp quốc phòng vào nhóm nội dung mà hai bên cần tiếp tục khai triển.

Điều này đáng chú ý bởi quan hệ quốc phòng Mỹ–Việt từ trước đã có một hướng phát triển là tăng cường nhận thức tình huống trên biển và năng lực hàng hải của Việt Nam. Bộ Quốc phòng Mỹ từng công khai nói tới việc tăng cường Maritime awareness và defense capabilities của Việt Nam.

Nhưng không nên cho rằng, Việt Nam đang chuẩn bị một liên minh quân sự với Mỹ. Những tài liệu công khai hiện không chứng minh được điều đó.

4. Có một lớp ý nghĩa khác: “Hùng Cao” có thể là một cây cầu nối rất đặc biệt, giữa chính sách của Trump với VN.

Đây có lẽ là yếu tố khiến hai cuộc gặp đáng chú ý hơn một cuộc gặp thông thường. Hùng Cao là người Việt Nam tị nạn sang Mỹ từ nhỏ, sau đó trở thành sĩ quan Hải quân Mỹ và hiện giữ vị trí lãnh đạo cao cấp trong Hải quân. Hồ sơ Hải quân Mỹ xác nhận ông thông thạo tiếng Việt.

Và Tô Lâm đích thân nhấn mạnh trong cuộc gặp tháng 9 rằng ông đánh giá cao tình cảm và sự gắn bó của Hùng Cao với quê hương Việt Nam; từ yếu tố tình cảm đó, Tô Lâm có thể đã khai thác Hung Cao, trong vấn đề kêu gọi xóa bỏ hận thù theo tinh thần của nghị quyết 36 và 23.  Tô Lâm cũng từng đề nghị ông tiếp tục đóng góp cho quan hệ Việt–Mỹ và tăng cường kết nối cộng đồng người Việt tại Mỹ với quê hương.

Điều này cho thấy Hà Nội đang nhìn Hùng Cao không đơn thuần dưới tư cách “quan chức Hải quân Mỹ”, mà còn dưới tư cách một người Mỹ gốc Việt có khả năng là một cây cầu nối, cho việc chiêu hàng cộng đồng người Việt tị nạn ở Mỹ. Đây là một tín hiệu chính trị khá rõ từ phía chính quyền do đảng  cộng sản lãnh đạo. Điều này thể hiện khá rỏ trong việc truyền thông lề phải và các Youtuber thực hiện việc kêu gọi hòa hợp hòa giải, xoa bỏ quá khứ...cũng như mượn hình ảnh Hùng Cao để khoát cái áo yêu nước, tha thiết trong việc lấy lại Hoàng /Trường Sa, những phần biển đảo của tổ tiên để lại cho Việt tộc, mà HCM và PVĐ đã dâng cho Trung Quốc từ năm 1958.

5. Và có một chi tiết rất đáng chú ý: “hậu quả chiến tranh”

Nếu chỉ nhìn vào “Hải quân + an ninh hàng hải”, chúng ta có thể dễ dàng nghĩ tới Biển Đông. Nhưng hai bên lại liên tục đưa vào chương trình nghị sự một vấn đề hoàn toàn khác: đó là việc khắc phục hậu quả chiến tranh. Một vấn đề có thể tạm gọi là ăn mày quá khứ.

Tháng 9, Phan Văn Giang đặc biệt đánh giá cao việc Mỹ phối hợp tổ chức Vietnam Wartime Accounting Initiative, đồng thời nói về “Chiến dịch 500 ngày đêm” nhằm đẩy nhanh việc tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ Việt Nam.

Đây là điểm quan trọng.

Nó cho thấy Washington và Hà Nội đang cố tạo ra một nền tảng hợp tác có tính xây dựng lòng tin, thay vì chỉ nói về cạnh tranh chiến lược.

Bộ Quốc phòng Mỹ trước đây cũng từng xác định việc giải quyết di sản chiến tranh , tìm kiếm người mất tích, giải quyết chất độc da cam, bom mìn chưa nổ , là một thành tố quan trọng trong xây dựng lòng tin giữa hai nước.

6. Nếu có cái nhìn từ Bắc Kinh, thì sao?

Có một thực tế khách quan: Mỹ và Việt Nam đều có lợi ích trong việc duy trì một môi trường hàng hải ổn định ở Đông Nam Á, và quan hệ Mỹ–Việt đã được nâng lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện từ năm 2023. Một báo cáo của Congressional Research Service cũng ghi nhận hai nước mở rộng hợp tác an ninh khu vực trong bối cảnh những quan ngại chung về hoạt động ngày càng quyết đoán của Trung Quốc.

Nhưng Việt Nam đồng thời chủ trương duy trì sự quan hệ quốc phòng với nhiều đối tác khác nhau. Ví dụ, chỉ một tháng trước cuộc gặp New York, Phan Văn Giang đã sang Nga và gặp Sergei Shoigu; Việt Nam tiếp tục xác định hợp tác quốc phòng với Nga là một lĩnh vực quan trọng. Và tháng 7, Phan Văn Giang sang Nhật Bản để thúc đẩy hợp tác quốc phòng Việt–Nhật. Điều này phù hợp với cách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc phòng, hơn là dấu hiệu Việt Nam chọn một phe quân sự duy nhất.

7. Vì vậy, hai cuộc gặp  mặt theo 4 tầng

Ngoại giao, Việt Nam coi trọng việc duy trì quan hệ cấp cao với Washington

Quốc phòng, Hợp tác tiếp tục đi vào các lĩnh vực cụ thể

Hàng hải, Maritime security được nhắc lại ở cả hai cuộc gặp mặt tháng 6 và 9

Chiến lược , Mỹ muốn một Việt Nam mạnh, độc lập, tự cường và có vai trò ngày càng lớn trong khu vực; Việt Nam muốn hợp tác nhưng trên cơ sở lợi ích của cả hai bên

Điểm cuối cùng rất đáng chú ý: chính Hùng Cao sử dụng công thức “strong, independent, self-reliant and prosperous Vietnam” trong cả thông điệp tháng 9.

Có một chuỗi sự kiện đáng chú ý, nhưng chưa có bằng chứng công khai cho thấy một thỏa thuận bí mật nào được đặt ra.

Điều đáng chú ý nhất là số lần gặp + cấp độ + chủ đề:

Hùng Cao nhậm chức 22/4, sang Việt Nam 22/6, gặp Tô Lâm và Phan Văn Giang, trở lại New York 22/9, lại gặp cả Tô Lâm và Phan Văn Giang ,  đồng thời nhấn mạnh MaritimeSecurity vàCapacity Building.

Nếu muốn đi tìm “ẩn số”, trong 2 lần găp mặt của Hung Cao. Tô Lâm, Phan Văn Gian, đáng để ý nhất không phải là “Mỹ–Việt sắp liên minh quân sự”, mà là:

Liệu Washington đang muốn xây dựng một năng lực hàng hải Việt Nam mạnh hơn trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện, và liệu Hà Nội có đang tận dụng sự quan tâm đó để tăng năng lực tự chủ trên biển mà vẫn giữ chính sách cân bằng giữa Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và các đối tác khác hay không?

Đó làvaasn đề có cơ sở từ những gì hai bên thực sự nói và làm, thay vì phải giả định một thỏa thuận gì đó bí mật giữa Việt Mỹ.

( Có sự hỗ trợ của AI)

Bình luận từ Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 25-9-2026  

 EU TUYÊN BỐ SẼ CHỐNG LẠI ÔNG TRUMP NHẮM VÀO TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ ICC

Artikel von kns/roj/news.de, ngày 24-9:  EU đã tuyên bố sẽ chống lại nỗ lực của Tổng thống Mỹ Donald Trump nhằm giải thể Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC). Liên minh Âu Châu có ý định bảo vệ tòa án này, Chủ tịch Hội đồng António Costa phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York. Những lời đe dọa và hành động tấn công nhắm vào Tòa án Hình sự Quốc tế, cũng như các quan chức và nhân viên của tòa, là điều không thể chấp nhận được.

Trong bài phát biểu trước đó tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Tổng thống Mỹ Trump đã kêu gọi cộng đồng quốc tế đồng loạt rút khỏi Tòa án Hình sự Quốc tế. "Tôi kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên của Tòa án Hình sự Quốc tế hãy ngay lập tức rút khỏi thể chế thiếu trung thực này," ông nói vào hôm thứ Ba 22-9.

Với động thái này, ông Trump càng làm leo thang căng thẳng xoay quanh tòa án này. ICC hiện có 125 quốc gia thành viên và đã tiến hành truy tố những tội ác nghiêm trọng nhất, như diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người, kể từ năm 2002. Tuy nhiên, bên cạnh Mỹ, các quốc gia như Israel, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ đều không công nhận tòa án này.

Ông Costa: Bảo vệ luật pháp quốc tế là nghĩa vụ

Mỹ cáo buộc ICC hành động thiếu khách quan (có thiên kiến ​​chính trị) và thậm chí đã áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với tòa án cũng như các đại diện của tòa. Gần đây, thể chế này đã thu hút sự chú ý lớn, đặc biệt là do lệnh bắt giữ được ban hành đối với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu.

Cần phân biệt Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) với Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), cơ quan cũng có trụ sở tại The Hague, Hòa Lan. ICJ chuyên giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia và đóng vai trò là tòa án cao nhất của Liên Hợp Quốc.

Phát biểu tại New York, ông Costa nói: "Bảo vệ luật pháp quốc tế không phải là một sự lựa chọn, mà là trách nhiệm của chúng ta." Vấn đề trách nhiệm giải trình không được phép phụ thuộc vào các toan tính chính trị, và không được có tiêu chuẩn kép khi áp dụng luật pháp quốc tế.

(Có sử dụng AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH, 25-9-2026  

 CỰU PHÁT NGÔN VIÊN ANTHONY SCARAMUCCI LÊN TIẾNG :"CHÚNG TA PHẢI LOẠI BỎ TRUMP"

Nguồn tin EXPRESS, ngày 24-9: Một tuyên bố đầy mạnh mẽ! Anthony Scaramucci, người từng giữ chức giám đốc truyền thông cho Donald Trump chỉ trong vỏn vẹn mười một ngày, đang gióng lên hồi chuông cảnh báo.

Khi tham gia podcast "Handelsblatt Invest", ông đã thẳng thắn đưa ra lời kêu gọi khẩn cấp tới mọi người: "Chúng ta phải loại bỏ Trump." Đối với chuyên gia tài chính này, người sếp cũ của ông đang đặt ra mối đe dọa to lớn đối với Hiến pháp Hoa Kỳ.

Scaramucci cáo buộc Trump đang lái đất nước đi thẳng tới chế độ cai trị độc đoán, đồng thời nhấn mạnh: "Tổng thống không phải là người ủng hộ nền dân chủ; ông ấy đã thể hiện điều đó rất rõ ràng." Thông tin này được trang "FOCUS online" đăng tải.

Dự báo ảm đạm: Khủng hoảng kinh tế và "chế độ độc tài mềm"

Với tư cách là người đứng đầu SkyBridge Capital, Scaramucci không chỉ lo ngại về tình hình chính trị mà còn về nền kinh tế Mỹ. Ông cảnh báo về nguy cơ của một "chế độ độc tài mềm" và nhìn thấy rủi ro lớn từ một cuộc xung đột kéo dài có thể xảy ra với Iran.

Một cuộc đối đầu như vậy sẽ kéo theo những thách thức khổng lồ về hậu phương và khiến chi phí sinh hoạt của các gia đình Mỹ tăng vọt.

Trong kịch bản này, Scaramucci dự báo chi phí có thể lên tới nửa nghìn tỷ đô la, một con số mà theo đánh giá của ông sẽ đẩy Hoa Kỳ vào vòng xoáy suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Hơn nữa, ông dự đoán Cục Dự trữ Liên bang (Fed) sẽ tăng lãi suất chủ chốt thêm hai lần nữa trong năm nay.

Kiên quyết phản đối Phố Wall và giới siêu giàu

Scaramucci cũng chỉ trích gay gắt các nhân vật tài chính có ảnh hưởng tại Phố Wall. Mặc dù nhiều nhà đầu tư "ưa thích" các chính sách cắt giảm thuế do Trump thúc đẩy, ông lại kịch liệt lên án thái độ này. "Sự thờ ơ vô cảm của một số cá nhân siêu giàu là một vấn đề đáng ngại," ông phát biểu trên podcast. Kết luận của ông rất dứt khoát: Trump đang gây tổn hại cho cộng đồng vì một bộ phận lớn người dân đang phải chịu khổ sở dưới sự lãnh đạo của ông. 

( Có sử dụng AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 25-9-2029

 ÔNG SELENSKYY CHO BIẾT: KIEW SẲN SÀNG NGỪNG TẤN CÔNG CÁC CƠ SỞ NĂNG LƯỢNG, NẾU MOSCOW CAM KẾT LÀM ĐIỀU TƯƠNG TỰ

Artikel von AFP, ngày 22-9: Tổng thống Ukraine Volodymyr Selenskyy đã tái khẳng định sự sẵn sàng của đất nước trong việc chấm dứt các cuộc tấn công vào các cơ sở năng lượng của Nga, với điều kiện Moscow cũng đưa ra cam kết tương ứng đối với cơ sở hạ tầng năng lượng của Ukraine. "Chúng tôi sẵn sàng cho bất kỳ hình thức ngừng bắn nào liên quan đến năng lượng" nếu Moscow đồng ý "không tấn công hệ thống năng lượng của chúng tôi", ông Selenskyy phát biểu trước các phóng viên vào thứ Ba 22/9 bên lề kỳ họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York.

Đồng thời, nhà lãnh đạo Ukraine nhấn mạnh rằng ông không nắm rõ lập trường của Moscow về vấn đề này. Ông bày tỏ hy vọng rằng Mỹ sẽ tìm ra cách để "thuyết phục phía Nga tham gia vào một hình thức đàm phán nào đó".

Sau đó, trong một bài đăng trên nền tảng trực tuyến X, ông Selenskyy mô tả cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Donald Trump bên lề Đại hội đồng Liên Hợp Quốc là "tích cực và hiệu quả". Ông tuyên bố rằng "cả Mỹ và Ukraine đều mong muốn cuộc chiến vô nghĩa của Nga tại Ukraine chấm dứt trước khi mùa đông đến". Ông Selenskyy nói thêm rằng mình đã thảo luận với ông Trump về "các biện pháp giảm leo thang căng thẳng có thể mở đường cho các nỗ lực ngoại giao".

Kể từ khi ông Trump trở lại White House, Mỹ đã nỗ lực tìm cách chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của Nga đối với Ukraine, cuộc xung đột đã kéo dài hơn bốn năm rưỡi qua. Các vòng đàm phán trước đây với sự tham gia của đại diện từ Mỹ, Nga và Ukraine đã không mang lại bước đột phá nào. Gần đây nhất, Mỹ đang nỗ lực tái khởi động các cuộc đàm phán vốn đang bị đình trệ.

(Có sự hỗ trợ của AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 24-9-2026 

BÊN LỀ CUỘC HỌP THƯỢNG ĐỈNH TẠI LHQ: GREENLAND , MỸ, ĐAN MẠCH KÝ KẾT THỎA THUẬN AN NINH CHUNG

Nguồn tin từ DER IEGEL, ngày 22-9: Tranh chấp liên quan đến Greenland dường như đã được giải quyết: Mỹ, Đan Mạch và vùng lãnh thổ thuộc Bắc Cực này đã đạt được thỏa thuận về các lợi ích an ninh chung. Tổng thống Mỹ Trump đã công bố kế hoạch thiết lập 2 căn cứ quân sự mới.

Mỹ, Đan Mạch và Greenland đã hoàn tất một thỏa thuận an ninh; Tổng thống Mỹ Donald Trump, Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen và người đứng đầu chính quyền Greenland Jens-Frederik Nielsen đã ký kết văn bản này, vốn tập trung vào các lợi ích an ninh, bên lề kỳ họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York. Mỹ và Đan Mạch trước đó đã bất ngờ công bố thỏa thuận này vào tuần trước, mặc dù các chi tiết cụ thể ban đầu chưa được công khai.

Trong bài phát biểu của mình, ông Trump thông báo về việc tăng cường sự hiện diện của Mỹ tại hòn đảo thuộc Bắc Cực này, đồng thời cho biết nước ông có kế hoạch thiết lập 2 căn cứ quân sự lớn mới tại Greenland. "Sẽ không bao giờ có chuyện kẻ thù của Mỹ được phép thiết lập sự hiện diện quân sự tại Greenland nữa," Tổng thống Mỹ tuyên bố. Ngoài ra, các khoản "đầu tư " tại vùng lãnh thổ này sẽ không thể được thực hiện trong tương lai nếu thiếu sự chấp thuận của Mỹ.

Nội dung thỏa thuận quy định, cùng nhiều điểm khác, rằng Mỹ được phép canh tân và mở rộng các hoạt động tại Căn cứ Không gian Pituffik ở Greenland. Thỏa thuận cũng bao gồm các căn cứ mới mà ông Trump đã công bố, cũng như cam kết trao tất cả các hợp đồng xây dựng cho các công ty của Greenland.

Bà Frederiksen: Một "cột mốc" mang lại lợi ích cho cả ba bên

Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen trước đó từng tuyên bố rằng bà và ông Nielsen sẽ không ký kết thỏa thuận nào "trừ khi nó mang lại lợi ích cho Greenland." Ngay trước lễ ký kết, bà Frederiksen mô tả thỏa thuận này là một "cột mốc" không chỉ mang lại lợi ích cho 3 bên tham gia mà còn cho cả NATO và Âu châu. Ông Nielsen thì nói về một tình huống "cùng thắng" (win-win-win) và một thỏa thuận mang tính lịch sử.

Bà Frederiksen cho biết thỏa thuận này công nhận chủ quyền lãnh thổ của Đan Mạch và quyền tự quyết của người dân Greenland, đồng thời cũng "mang lại lợi ích" cho NATO và Âu châu. Văn bản này gia hạn thỏa thuận quốc phòng với Mỹ vốn đã có hiệu lực từ năm 1951.

(Có sự hỗ trợ của AI)

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 24-9-2026