Powered By Blogger

 HOẠT ĐỘNG VẬN CHUYỂN QUA EO BIỂN HORMUZ VẪN Ở MỨC THẤP

Sau khi thỏa thuận sơ bộ giữa Mỹ và Iran được ký kết, lưu lượng tàu thuyền qua eo biển Hormuz hiện vẫn ở mức thấp. Hiệp hội Chủ tàu Đức (VDR) cho biết, họ chưa thấy dấu hiệu gia tăng đáng kể về lưu lượng tàu thuyền vào thời điểm này; thông tin này được một người phát ngôn chia sẻ với Hãng thông tấn Đức (dpa). "Trong khi thường có hơn 100 lượt tàu qua lại mỗi ngày, các số liệu gần đây chủ yếu chỉ dao động từ mức một chữ số đến mức thấp của hai chữ số."

Trước đó cùng ngày, nhà cung cấp dữ liệu hàng hải Windward đã thông báo trên X rằng có7 tàu chở hàng đang di chuyển qua eo biển, cùng với các tàu khác đang đi từ Vịnh Ba Tư về phía tuyến đường này. Theo công ty Kpler, dữ liệu của họ ghi nhận bốn lượt tàu qua lại tính đến đầu giờ chiều thứ Năm 18-6.

Dữ liệu từ IMO, cơ quan chuyên trách của Liên Hợp Quốc về vận tải biển, tính đến hết ngày thứ Ba cho thấy có sự gia tăng về số lượt tàu qua lại, mặc dù xuất phát từ mức độ còn thấp. Dựa trên nhiều nguồn tin, IMO ước tính có 15 lượt tàu qua lại vào thứ Ba 16-6. Kpler ghi nhận 14 lượt tàu vào thứ Ba và 6 lượt vào thứ Tư 17-6.

Việc số lượng lượt tàu được ghi nhận không cao một phần là do không phải mọi hoạt động di chuyển đều được theo dõi đầy đủ. Ông Phillip Belcher thuộc Intertanko (Hiệp hội Quốc tế các Chủ tàu chở dầu độc lập) giải thích rằng, vì lý do an ninh, các tàu thường đi qua eo biển Hormuz, đặc biệt là vào ban đêm, dọc theo rìa phía bắc và phía nam của eo biển, tránh xa các tuyến đường hàng hải tiêu chuẩn vốn được ví như "đường cao tốc" trên biển. Hơn nữa, các tàu thường tắt hệ thống truyền dữ liệu vị trí của mình.

Thỏa thuận sơ bộ được ký kết giữa Mỹ và Iran quy định việc dỡ bỏ các lệnh phong tỏa lẫn nhau đối với hoạt động vận tải biển qua eo biển này. Tuy nhiên, các chi tiết cụ thể vẫn chưa rõ ràng. Hapag-Lloyd, công ty vận tải Container lớn nhất của Đức, chia sẻ với dpa: "4 tàu thuê của chúng tôi đang ở Vịnh Ba Tư và đang được chuẩn bị để đi qua eo biển Hormuz, tuy nhiên, chúng tôi sẽ chỉ thực hiện hành trình khi điều kiện đảm bảo an toàn." Công ty không đưa ra mốc thời gian cụ thể. Hapag-Lloyd dự định sẽ đánh giá cách thức triển khai thỏa thuận giữa Mỹ và Iran trước khi đưa ra quyết định.

Theo các chuyên gia, việc bình thường hóa hoạt động vận chuyển các sản phẩm năng lượng từ khu vực này có thể sẽ mất một khoảng thời gian ngay cả sau khi eo biển mở cửa trở lại, do các cơ sở sản xuất đã bị hư hại. Hơn nữa, các công ty bảo hiểm cũng sẽ cần phải thích ứng với tình hình mới.

Ngay khi xung đột với Israel và Mỹ nổ ra, Iran đã khiến eo biển này trở nên bất khả thi đối với hoạt động vận tải biển quốc tế thông qua các cuộc tấn công và đe dọa. Sau đó, Mỹ đã đáp trả bằng cách áp đặt lệnh phong tỏa hải quân đối với các tàu thuyền có ý định cập cảng hoặc rời khỏi các cảng của Iran. Trung Quốc được xem là khách hàng mua dầu chính của Iran. Việc dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ có thể giúp Iran nhanh chóng khôi phục một nguồn thu nhập thiết yếu.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

    ÂU CHÂU KHÔNG CẦN THÊM CÁC NHÀ MÁY SẢN XUẤT VŨ KHÍ - CÁC              NHÀ MÁY SẢN XUẤT Ô TÔ SẼ ĐÁP ỨNG NHU CẦU QUỐC PHÒNG

Ngành kỹ nghệ sản xuất ô tô Âu châu có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất quốc phòng. Các nhà máy sản xuất ô tô châu Âu đang đối mặt với một trong những cuộc tái cơ cấu lớn nhất trong lịch sử. Quá trình chuyển đổi sang xe điện, áp lực từ các đối thủ cạnh tranh Trung Quốc, chi phí năng lượng cao và tốc độ tăng trưởng nhu cầu chậm lại đã khiến phần lớn năng lực sản xuất của ngành này bị bỏ phí hoặc chưa được khai thác hết.

Đồng thời, các quốc gia Âu châu đang gia tăng đáng kể ngân sách quốc phòng. Điều này đặt ra câu hỏi liệu một phần của ngành kỹ nghệ sản xuất ô tô có thể tìm thấy những cơ hội kinh doanh mới trong lĩnh vực quốc phòng hay không?.

Trong những tháng gần đây, giới kỹ nghệ và chính trị đã thảo luận ngày càng nhiều về việc làm thế nào để xác nhà máy sản xuất ô tô của Âu châu có thể hỗ trợ quá trình tăng cường năng lực quốc phòng.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

BƯỚC NGOẶT TẠI VÙNG VỊNH: CÁC TÀU CHỞ DẦU "SHADEN" VÀ "JAHAM" CỦA Ả RẬP SAUDI XUẤT HIỆN GẦN HORMUZ

Nguồn tin từ FOCUS Online cho biết: 4 siêu tàu chở dầu, với tổng khối lượng vận chuyển khoảng 8 triệu thùng dầu (một thùng tương đương 159 lít), được cho là đã đi qua hoặc đang trong quá trình di chuyển qua eo biển Hormuz. Trong số đó có những tàu chở dầu đầu tiên thuộc sở hữu của Ả Rập Saudi đã đi qua eo biển này thành công kể từ khi xung đột nổ ra.

Những điều cần biết:

Một thỏa thuận giữa Mỹ và Iran đang thắp lên hy vọng trong nền kinh tế thế giới về việc mở lại eo biển Hormuz. Phần lớn lượng dầu và khí đốt xuất khẩu thế giới thường đi qua tuyến đường thủy này. Trong những tuần gần đây, các tàu đã nhiều lần di chuyển thành công qua đây.

Giờ đây, các tàu của Ả Rập Xê Út cũng đã đi qua tuyến đường này thành công. Điều này có thể báo hiệu một sự thay đổi căn bản. Các đơn vị vận hành vẫn còn rất thận trọng đưa tàu của mình đi qua eo biển Hormuz

Theo Bloomberg, các tàu được đề cập bao gồm tàu ​​chở dầu "Shaden" và "Jaham". Trang web theo dõi tàu thuyền MarineTraffic cho thấy cả 2 tàu đều đang ở Vịnh Oman, phía đông eo biển Hormuz , vào chiều thứ năm, ngày 18 tháng 6.

Chúng thuộc sở hữu của công ty vận tải biển Bahri của Ả Rập Saudi. Dường như các tàu này đã hoàn tất hành trình khi tắt hệ thống định vị và chỉ mở lại sau đó. Theo Bloomberg, trước đó Bahri đã áp dụng cách di chuyển qua eo biển Hormuz một cách thận trọng thận trọng.

Số lượng tàu di chuyển ra khỏi eo biển đang gia tăng. Ngoài 2 tàu chở dầu kể trên, một tàu chở khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) do Oman điều hành cũng được cho là đã đi qua eo biển Hormuz. Hơn nữa, vào sáng thứ Năm, một tàu chở LNG khác, vốn được theo dõi ở bên ngoài Vịnh Ba Tư trước đó, đã xuất hiện tại một bến cảng ở Qatar. Ít nhất 5 tàu ​​có liên hệ với Iran cũng được cho là đã đi vào tuyến đường thủy này. Mỹ và Iran có thời hạn đồng thuận cho việc này trong vòng 60 ngày

Việc ba siêu tàu chở dầu của Ả Rápaudi, vốn bị mắc kẹt tại Vịnh Ba Tư trong nhiều tuần, di chuyển qua eo biển có thể đã báo hiệu được sự thay đổi tiềm năng trong hoạt động vận tải biển. Hy vọng đang gia tăng rằng tình hình xung quanh tuyến đường thủy huyết mạch này sẽ dịu lại. Cả Mỹ và Iran đều đã ký một biên bản ghi nhớ nhằm mở đường cho các cuộc đàm phán tiếp theo và nếu thành công ,sẽ chấm dứt các hành động thù địch tại khu vực này.

Lưu ý quan trọng: Mỹ và Iran chỉ mới đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời mang tính sơ kết. Mặc dù cả hai bên đều cam kết mở lại hoàn toàn tuyến đường thủy này mà không phát sinh thêm chi phí, Teheran vẫn nhiều lần tuyên bố ý định duy trì một mức độ kiểm soát nhất định đối với tuyến đường này. Hai nước hiện có 60 ngày để hoàn tất đàm phán.

Những thách thức trong việc mở lại eo biển Hormuz

Tuy nhiên, tình hình tại eo biển Hormuz sẽ không thể trở lại bình thường trong một sớm một chiều. Cần có thời gian để khôi phục khả năng vận hành của các con tàu sau thời gian dài nằm chờ; các vấn đề về bảo hiểm cần được giải quyết; thủy lôi cần được rà phá; và hoạt động giao thông khi được nối lại cũng cần được điều phối nhịp nhàng. Một số chuyên gia đã cảnh báo về nguy cơ va chạm nếu có quá nhiều tàu cùng lúc cố gắng đi qua eo biển này.

Lòng đường thủy giao lưu thực tế, chỉ có thể lưu thông tại eo biển Hormuz chỉ rộng vài hải lý. Tùy thuộc vào mức độ cản trở của thủy lôi đối với tuyến đường, tình trạng tắc nghẽn vẫn có thể xảy ra ngay cả khi eo biển đã được mở lại.

Đồng thời, vẫn có những thuyền trưởng nắm rõ các tuyến đường có thể lưu thông; trong vài tuần qua, nhiều tàu thuyền đã liên tục vượt qua được eo biển đang bị phong tỏa, đôi khi có sự tham gia hỗ trợ từ phía Mỹ.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

CẬP NHẬT TÌNH HÌNH Ở VỊNH BA TƯ VỀ CÁC TÀU CHỞ DẦU BỊ GIỮ SAU KHI KÝ THỎA THUẬN SƠ BỘ ĐÃ ĐƯỢC KÝ KẾT

Nguồn tin từ RND cho biết: Eo biển Hormuz nằm ở trung tâm cuộc xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran. Cả Iran và Mỹ đều đã áp đặt lệnh phong tỏa đối với tuyến đường hàng hải duy nhất nối liền Vịnh Ba Tư và Biển Ả Rập.

Sau nhiều tuần đàm phán, Mỹ và Iran đã đạt được một thỏa thuận sơ bộ nhằm giải quyết cuộc chiến. Eo biển này, vốn có vai trò huyết mạch đối với hoạt động thương mại dầu khí thế giói, dự kiến ​​sẽ mở cửa trở lại cho tàu thuyền qua lại.

Ngay sau thỏa thuận được ký kết, hoạt động xuất cảng dầu thô bằng đường biển của Iran đã được nối lại. Theo dữ liệu từ tổ chức môi trường Greenpeace, hiện vẫn còn khoảng 50 tàu chở dầu đầy tải đang bị mắc kẹt tại đây, với tổng khối lượng ước tính khoảng 10 triệu tấn dầu.

Trước khi Mỹ và Israel tiến hành các cuộc tấn công vào Iran hồi cuối tháng 2, có khoảng 3.000 tàu thuyền qua lại eo biển này mỗi tháng, theo số liệu từ các chuyên gia phân tích tại Lloyd’s List Intelligence. Với việc phát động Chiến dịch "Epic Fury" vào ngày 28 tháng 2 năm 2026, hoạt động vận tải biển tại eo biển Hormuz gần như bị đình trệ hoàn toàn. Một trong những tuyến đường thương mại quan trọng nhất thế giới, nơi từng đảm nhận việc vận chuyển khoảng 20% ​​lượng dầu và khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu , đã bị tê liệt trong nhiều tháng.

Iran đã liên tục tấn công các tàu thuyền và ám chỉ việc rải thủy lôi tại eo biển Hormuz. Một lệnh ngừng bắn giữa Mỹ và Iran đã chính thức có hiệu lực từ ngày 8 tháng 4. Tuy nhiên, vào giữa tháng 4, Mỹ bắt đầu phong tỏa các cảng của Iran nằm trong khu vực eo biển này nhằm làm suy yếu nền kinh tế Iran và buộc chế độ giáo sĩ tại đây phải ngồi vào bàn đàm phán.

Hệ quả của cuộc chiến với Iran là giá dầu thô đã có lúc tăng vọt lên gần 120 USD/thùng. Mặc dù có các tuyến đường vận chuyển thay thế, chẳng hạn như đường ống Đông-Tây của Ả Rập Saudi, nhưng công suất của chúng chỉ đáp ứng được một phần nhỏ so với khối lượng hàng hóa thường được vận chuyển hàng ngày qua eo biển Hormuz. Bên cạnh những tác động về kinh tế, Greenpeace cũng cảnh báo về những rủi ro môi trường nghiêm trọng tại khu vực xung quanh eo biển Hormuz. Các vụ tấn công tàu thuyền ở Vịnh Ba Tư đã cho thấy xung đột có thể nhanh chóng leo thang thành một thảm họa sinh thái như thế nào?.

Eo biển Hormuz cùng các vùng biển lân cận thuộc Vịnh Ba Tư và Vịnh Oman là nơi trú ngụ của những hệ sinh thái mong manh, bao gồm các rạn san hô và rừng ngập mặn. Hơn nữa, khu vực này còn có nhiều nhà máy khử mặn nước biển. Một vụ tràn dầu nghiêm trọng sẽ đe dọa cả hệ động vật hoang dã tại địa phương lẫn nguồn cung cấp nước cho người dân.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

WASHINGTON GIA TĂNG ÁP LỰC LÊN CÁC ĐỒNG MINH NATO VỀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA QUÂN ĐỘI 

Nguồn tin từ AFP: Ngoài việc cắt giảm lực lượng đã được công bố trước đó, các quốc gia Âu châu có thể đối mặt với việc bị rút thêm quân: Trong cuộc họp với những Bộ trưởng BQP của NATO tại Brüssels vào thứ Năm 18-6, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã thông báo về một đợt đánh giá, kéo dài tới 6 tháng, đối với "sự hiện diện và các căn cứ của quân đội Mỹ tại Âu châu ", qua đó gia tăng áp lực lên các đồng minh. Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius (thuộc đảng SPD) kêu gọi các đồng minh Âu châu cần "thêm chút thời gian" để thực hiện quá trình chuyển đổi một cách trật tự, trong bối cảnh Mỹ cắt giảm các đóng góp của mình cho NATO.

Ông Hegseth tuyên bố rằng việc đánh giá sự hiện diện của quân đội Mỹ nhằm bảo đảm "NATO nhanh chóng và không thể đảo ngược tiến tới một liên minh do Âu châu dẫn dắt, trong đó Âu châu gánh vác trách nhiệm chính đối với việc phòng thủ." Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng nhấn mạnh rằng đợt đánh giá này nhằm bảo đảm NATO "cam kết rằng các quyền xử dụng căn cứ và bay qua không phận của chúng ta được xác định rõ ràng và được bảo đảm."

Trong nhiều năm qua, Mỹ đã lên kế hoạch giảm bớt sự hiện diện tại Âu châu để tập trung nhiều hơn vào khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Những tháng gần đây đã xuất hiện nhiều tuyên bố, đôi khi mâu thuẫn nhau, liên quan đến việc Mỹ sẽ rút quân khỏi NATO.

Vào tháng 10, Mỹ xác nhận việc rút hàng nghìn binh sĩ khỏi Đông Âu, đặc biệt là từ Rumänien. Vào tháng 5 năm nay, Pentagon đã công bố kế hoạch rút 5.000 binh sĩ khỏi Đức. Sau đó, ông Trump tuyên bố ý định điều động thêm 5.000 binh sĩ tới Ba Lan, sau khi tạm dừng một kế hoạch trước đó về việc tái triển khai 4.000 binh sĩ Mỹ tại quốc gia này.

Thông báo về việc rút quân khỏi Đức được đưa ra sau những chỉ trích từ Thủ tướng Friedrich Merz (thuộc đảng CDU) liên quan đến cuộc chiến với Iran. Các đồng minh NATO khác cũng hứng chịu sự giận dữ của ông Trump trong bối cảnh này. Tổng thống Mỹ đã chỉ trích Pháp vì từ chối cấp quyền xử dụng không phận cho Mỹ. Ông Trump cũng đe dọa sẽ rút quân đội Mỹ khỏi Tây Ban Nha và Ý. Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez, cùng những hành động khác, đã cấm quân đội Mỹ xử dụng các căn cứ tại Tây Ban Nha để thực hiện các cuộc tấn công nhắm vào Iran.

Vào thứ Năm 18-6, ông Hegseth đã mô tả hành động này là "đáng xấu hổ". Ông tuyên bố rằng các đồng minh đã đặt "những người con trai và con gái" của nước Mỹ vào tình thế nguy hiểm. "Không có lý do gì để biện minh cho điều đó." Tuy nhiên, Tổng thư ký NATO Mark Rutte không coi thông báo của ông Hegseth là một hình phạt đối với lập trường của các đồng minh về khả năng xảy ra chiến tranh với Iran. Ông Rutte cho biết mình "chưa nghe thấy điều gì như vậy" sau cuộc họp mà ông Hegseth đã rời đi sau khoảng hai giờ.

Bộ trưởng Quốc phòng Đức Pistorius nhấn mạnh rằng không có "thông báo cụ thể nào" từ phía Mỹ trong cuộc họp liên quan đến việc rút quân hoặc nhân sự khỏi Đức hay Âu châu. Thay vào đó, trọng tâm thảo luận là về một lộ trình thực hiện. "Vấn đề cốt lõi là cách liên hệ có sự phối hợp," vị Bộ trưởng nhấn mạnh. Ông lưu ý rằng thách thức lớn nhất là phải "tránh tạo ra những lỗ hổng năng lực nguy hiểm."

Ông Pistorius cảnh báo về việc vội vàng chuyển đổi sang một NATO mang đậm dấu ấn Âu châu hơn. Ông giải thích rằng sẽ rất "khó khăn và nguy hiểm cho an ninh khu vực NATO tại Âu châu nếu các năng lực quân sự bị rút đi quá nhanh mà không có sự rõ ràng về thời điểm có thể thay thế chúng." Ông Pistorius lập luận rằng, mặc dù nhiều năng lực có thể được thay thế "rất nhanh chóng", hoặc giảm thiểu tác động khi thiếu vắng, nhưng cũng có những năng lực không thể làm được như vậy.

Ví dụ, đối với các loại vũ khí tầm xa có độ chính xác cao, cần phải có "giải pháp chuyển tiếp hoặc đơn giản là cần thêm thời gian" trước khi chúng có thể được rút đi. "Đó là vấn đề chúng tôi sẽ phải đàm phán với các đối tác Mỹ." Với những thông báo được đưa ra chỉ khoảng 3 tuần trước hội nghị thượng đỉnh NATO tại Ankara, Mỹ đã gia tăng áp lực lên các đồng minh. Washington muốn đảm bảo rằng các đối tác sẽ thực hiện cam kết tăng mạnh chi tiêu quốc phòng, vốn đã được thống nhất tại hội nghị thượng đỉnh NATO năm ngoái ở The Hague.

Tại Brüssels, ông Hegseth đe dọa sẽ cắt giảm phần đóng góp của Mỹ vào ngân sách NATO nếu không phải tất cả các đồng minh đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Ngân sách NATO năm nay ở mức 5,3 tỷ Euro, do các quốc gia thành viên đóng góp theo những tỷ lệ khác nhau; Mỹ, cũng như Đức, chi trả khoảng 15% tổng số tiền này.

Vào cuối tháng 5, Bộ Quốc phòng Mỹ đã thông báo cho các đồng minh về mức độ cắt giảm đóng góp của Washington đối với cái gọi là Mô hình Lực lượng NATO. Washington cũng đã dừng kế hoạch khai triển hỏa tiễn  hành trình tầm xa tới Đức.

Mô hình lực lượng này cung cấp khuôn khổ tổng thể về cách thức quân đội quốc gia được huy động cho liên minh. Thông tin chi tiết về các khoản đóng góp cụ thể được xếp vào diện tối mật. Tuy nhiên, theo các báo cáo truyền thông, Mỹ dự định sẽ giảm đáng kể số lượng oanh tạc cơ chiến lược và các chiến đấu cơ trong tương lai, bên cạnh các đợt cắt giảm khác; một hàng khôg mẫu hạm của Mỹ cũng nằm trong kế hoạch rút khỏi hệ thống này.

Tổng thư ký NATO Rutte cho biết đã có "sự đồng thuận rộng rãi" giữa các đồng minh của Washington về việc họ cần gánh vác trách nhiệm lớn hơn. Ông Rutte nhấn mạnh rằng một số lực lượng mà Mỹ đang rút bớt vốn đã "có đầy đủ nhân sự, trong khi một số khác đã gần đủ quân số", đồng thời lưu ý rằng "vẫn còn những phần việc cần tiếp tục khai triển".

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026  

VIỆC ANH QUỐC QUAY TRỞ LẠI VỚI EU CÓ THỂ LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI

Bài viết của Torsten Riecke trên Handelsblatt: "Có những thập niên mà chẳng có gì xảy ra; và có những tuần lễ mà mọi việc diễn ra dồn dập như cả thập niên gộp lại." Ngay cả câu nói nổi tiếng của Lenin, xuất phát từ thời kỳ đầy biến động của Cách mạng Nga, giờ đây cũng không còn lột tả hết được những thay đổi chóng mặt của thời đại chúng ta. Thường thì chỉ cần vài ngày là đủ để tạo nên một bước ngoặt trong lịch sử thế giới. Ngày 23 tháng 6 năm 2016 chính là một ngày định mệnh như vậy.

Vào ngày thứ Năm đó, một bộ phận đa số sít sao tại Vương quốc Anh đã quyết định rời khỏi Liên minh Ău Châu (EU). Brexit đã châm ngòi cho một làn sóng chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa dân tộc trên toàn thế giới, mà cơn địa chấn đó vẫn còn hiện hữu cho đến ngày nay.

Đồng thời, cột mốc kỷ niệm lịch sử này cũng mang đến những dấu hiệu nghiêm chỉnh đầu tiên cho thấy người Anh có thể sẽ đảo ngược quyết định của mình. Một động thái như vậy cũng sẽ đóng vai trò như một rào cản đối với đà trỗi dậy thế giới của các thế lực dân túy cánh hữu và các nhà lãnh đạo độc đoán.

Nhiều người cho rằng tâm chấn chính trị của cuộc biến động dân túy toàn cầu này nằm ở Mỹ, bắt đầu từ sự kiện Donald Trump đắc cử Tổng thống Mỹ vào ngày 8 tháng 11 năm 2016.

Tuy nhiên, trên thực tế, chính cuộc trưng cầu dân ý về tư cách thành viên EU của Anh, diễn ra trước đó 4 tháng, mới là nơi chứng kiến ​​sự bùng phát đầu tiên của nỗi phẫn nộ dồn nén trong đông đảo người dân đối với giới tinh hoa cầm quyền và các chính sách suốt 70 năm qua. Không phải ngẫu nhiên mà ông Trump đã tự ví mình là "Ông Brexit" trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2016.

Có vẻ như là một sự trớ trêu của lịch sử khi người Anh, đúng vào thời điểm kỷ niệm mười năm Brexit, lại đang nghiêm chỉnh được thảo luận về việc quay trở lại EU. Liệu quốc gia đảo quốc vốn đề cao "lẽ thường" này có cuối cùng cũng tỉnh ngộ sau một thập niên đi chệch hướng, đầy rẫy hỗn loạn, mất mát về sự thịnh vượng và những nỗi đắng cay?

Thoạt nhìn, tình hình không diễn ra theo hướng đó. Ngược lại là đằng khác. Thủ tướng Anh Keir Starmer coi như đã hết thời về mặt chính trị chỉ sau 2 năm cầm quyền, bởi ông không thể đưa Vương quốc Anh, vốn đang bị kìm hãm bởi tình trạng tăng trưởng trì trệ kinh niên, thoát khỏi cuộc khủng hoảng triền miên.

Người nhiều khả năng sẽ kế nhiệm ông là Andy Burnham, một thành viên cùng đảng Lao động và cũng là Thị trưởng Manchester; ông sẽ trở thành thủ tướng thứ 7 trong vòng 10 năm trở lại đây. Đang chờ thời ở hậu trường là Nigel Farage, một nhân vật dân túy cánh hữu và là người tiên phong ủng hộ Brexit; đảng Reform UK của ông đã dẫn đầu các cuộc thăm dò dư luận tại Vương quốc Anh trong nhiều tháng qua. 

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lãnh đạo hiện nay tại London có thể mang lại cơ hội giải tỏa những bế tắc của vấn đề Brexit,  tình trạng mà đất nước đã mắc kẹt suốt một thập niên qua. "Tôi mong muốn chúng ta sẽ tái gia nhập [EU] trong cuộc đời mình. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta nên tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý khác ngay lúc này," ông Burnham, một đối thủ cạnh tranh với ông Starmer, nhận định.

Dư luận đã đi trước cả những người có tham vọng trở thành thủ tướng: theo một cuộc thăm dò mới của Ipsos, 58% cử tri Anh sẽ bỏ phiếu ủng hộ việc tái gia nhập EU nếu có một cuộc trưng cầu dân ý mới.

Một nửa số người được hỏi ủng hộ việc tổ chức bỏ phiếu toàn dân sau cuộc tổng tuyển cử tiếp theo vào năm 2029, một cuộc đua có thể biến thành màn đối đầu trực diện giữa phe ủng hộ EU ở cánh tả và phe hoài nghi châu Âu (những người ủng hộ Brexit) ở cánh hữu trên bản đồ chính trị.

"Tất nhiên chúng ta sẽ tái gia nhập Liên minh Âu Châu , bởi điều đó rõ ràng mang lại lợi ích kinh tế quốc gia," ông Spencer Livermore, một bộ trưởng thuộc chính phủ Công đảng tại Thượng viện, gần đây đã dự đoán như vậy; ông cũng lưu ý rằng Brexit có thể đã khiến sản lượng kinh tế của Anh sụt giảm tới 8%.

Ông Wes Streeting, người từng từ chức Bộ trưởng Y tế một phần vì phản đối lập trường do dự của ông Starmer đối với vấn đề Âu châu, gọi Brexit là một "sai lầm thảm khốc", một sai lầm mà ông sẽ khắc phục nếu trở thành thủ tướng.

Đây là những quan điểm mới mẻ và thẳng thắn một cách khác thường. Trong một thời gian dài, việc khơi lại những vết thương cũ liên quan đến Brexit là điều cấm kỵ trong giới chính trị London. Ký ức về chiến dịch vận động đầy gay gắt, sự kiện suýt chút nữa đã làm tan rã Vương quốc Anh, vẫn còn quá đau đớn và ám ảnh. Ngay cả ông Farage, người từng là lá cờ đầu của phong trào Brexit, cũng tránh né chủ đề này.

Mặc dù chính quyền các vùng Bắc Ireland, xứ Wales và Scotland đều do các đảng ủng hộ việc tái gia nhập EU lãnh đạo, nhưng liệu đa số cử tri có thực sự bỏ phiếu quay lại trong một cuộc trưng cầu dân ý mới hay không lại phụ thuộc chủ yếu vào cách các đối tác Âu châu đón nhận nước Anh: liệu họ sẽ dang rộng vòng tay chào đón hay dựng lên những rào cản lớn. Vấn đề không chỉ nằm ở những khoản tiền khổng lồ mà còn là lòng tự tôn dân tộc.

Đối với nhiều người dân Anh, châu Âu vẫn là một vấn đề gây tranh cãi và chia rẽ sâu sắc dư luận. "Cho đến tận ngày nay, nhiều người Anh vẫn định hình bản sắc chính trị của mình trước hết là thuộc phe 'Ở lại' (Remainers) hay phe ủng hộ 'Rời đi' (Vote Leave)," bà Sara Hobolt, một nhà khoa học chính trị tại Trường Kinh tế London (LSE), cho biết. Bà mô tả những chia rẽ sâu sắc trong Vương quốc Anh trong cuốn sách mới xuất bản gần đây của mình, *Tribal Politics: How Brexit Divided Britain* (tạm dịch: Chính trị Bộ lạc: Brexit đã chia rẽ nước Anh như thế nào).

Việc Vương quốc Anh quay trở lại EU sẽ không chỉ là thành tựu địa chính trị lớn nhất của Âu châu kể từ cuộc bỏ phiếu định mệnh quyết định rời khỏi khối này một thập niên trước. "Lục địa già", nơi vốn đã bị Mỹ và Trung Quốc gạt sang bên lề, sẽ tuyên bố sự trở lại của mình trên vũ đài quốc tế bằng một thông điệp đầy mạnh mẽ.

Quan trọng hơn cả, điều này sẽ gửi đi một tín hiệu toàn thế giới nhằm chống lại bóng ma của chủ nghĩa dân túy dân tộc mà Brexit từng khơi dậy. Những nhà lãnh đạo theo xu hướng độc đoán như Trump, Tổng thống Nga Vladimir Putin và nhà lãnh đạo quyền lực của Trung Quốc - ông Tập Cận Bình, sẽ không còn có thể chắc chắn rằng chính sách quyền lực "chia để trị" của họ sẽ phát huy tác dụng.

Tuy nhiên, thời điểm đó vẫn chưa đến. "Cuộc đời sẽ trừng phạt những kẻ đến quá muộn," cựu Tổng thống Nga Mikhail Gorbachew từng nói như vậy ngay trước khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989. Song, những người đến quá sớm cũng chẳng thể tránh khỏi tổn thương. "Sẽ cần cả một thế hệ để hàn gắn những vết thương do Brexit gây ra," Michael Heseltine, chính trị gia thuộc Đảng Bảo thủ, nay đã 93 tuổi, từng dự báo trong một cuộc phỏng vấn với tờ *Handelsblatt* cách đây 3 năm. Và điều này đúng với cả hai bờ eo biển Manche. Khác với cuộc chạy nước rút Brexit năm 2016, hành trình quay trở lại sẽ là một cuộc chạy Marathon đầy chông gai.

"Vào dịp kỷ niệm 10 năm Brexit, người Anh bắt đầu thảo luận về việc tái gia nhập cái mà họ gọi là ' Âu châu'," nhà sử học Timothy Garton Ash tại Oxford viết. Tuy nhiên, cũng như hầu hết các cuộc tranh luận của người Anh về " Âu châu " từ trước đến nay, chính Âu châu lại bị gạt ra ngoài lề cuộc đối thoại.

"Cuộc thảo luận hoàn toàn xoay quanh việc điều gì là tốt nhất cho nước Anh về mặt kinh tế và các chiến lược chính trị của Anh để đạt được mục tiêu đó," Garton Ash cảnh báo; "những suy nghĩ hay mối quan tâm của phần còn lại Âu châu hầu như không được tính đến, hoặc nếu có thì cũng rất mờ nhạt."

Nhiều người vẫn coi việc Anh rời khỏi EU là một sự ngẫu nhiên của lịch sử. Ngay cả Boris Johnson và Nigel Farage, những người đi đầu trong chiến dịch "Rời khỏi" (Leave), cũng không tin rằng họ có thể giành chiến thắng vào ngày trước khi cuộc bỏ phiếu diễn ra. Kết quả cuối cùng sít sao đến khó tin, với tỷ lệ 52% ủng hộ rời đi và 48% muốn ở lại.

Các chuyên gia thăm dò dư luận cho rằng chiến thắng của phe ủng hộ rời EU chủ yếu bắt nguồn từ việc nhiều người Anh lớn tuổi đã bỏ phiếu ủng hộ Brexit, trong khi nhiều người trẻ tuổi lại không đi bỏ phiếu. "Việc đa số người dân hiện nay muốn quay lại EU cũng là do yếu tố nhân khẩu học," Anand Menon, giám đốc tổ chức tư vấn "UK in a Changing Europe" (Vương quốc Anh trong một Âu châu đang thay đổi), nhận định. "Nhiều cử tri lớn tuổi từng ủng hộ Brexit đã qua đời, trong khi nhiều người Anh trẻ tuổi lại có quan điểm ủng hộ Âu châu."

Tuy nhiên, những người ủng hộ giả thuyết cho rằng Brexit chỉ là một "tai nạn", cũng như những ai kỳ vọng vào sự thay đổi về cơ cấu dân số, lại không nhận ra rằng các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến cuộc bỏ phiếu Brexit năm 2016 vẫn chưa được giải quyết cho đến tận ngày nay.

Ngược lại: phần lớn những vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách Đức đang phải chật vật giải quyết hiện nay đã bắt đầu bộc lộ rõ ​​nét trong suốt bốn tháng diễn ra chiến dịch Brexit cách đây một thập niên, và tiếp tục định hình bầu không khí chính trị đầy căng thẳng tại nhiều quốc gia công nghiệp Tây phương .

Đó là sự phẫn nộ của những người bị lãng quên về mặt chính trị và bị bỏ lại phía sau về mặt kinh tế đối với toàn cầu hóa cùng giới tinh hoa lãnh đạo tiến trình này. Đó là thái độ hoài nghi về tính xác thực của các sự kiện và sự trung thực của giới chuyên gia. Nhưng cũng còn đó nỗi lo sợ về làn sóng nhập cư ồ ạt; chủ nghĩa dân tộc đề cao lợi ích quốc gia ("ưu tiên nước mình") được thổi bùng bởi cảm giác bị choáng ngợp về văn hóa, nỗi sợ đánh mất bản sắc, lòng tự tôn bị tổn thương và tâm lý bài ngoại gay gắt; cùng với việc xử dụng tràn lan các chương trình tự động (bot) trên mạng xã hội để khơi dậy hoặc khuếch đại dư luận.

Tất cả những điều này đã bùng phát lần đầu tiên trong cuộc bỏ phiếu Brexit tại Anh và sau đó trở thành đặc điểm nổi bật của thời đại chúng ta. Chiến dịch "Vote Leave" (Bỏ phiếu rời đi) đóng vai trò như một kênh thể hiện sự phản kháng của số đông đối với hiện trạng chính trị, một hiện trạng mà nhiều công dân đã nổi dậy chống lại vì họ cảm thấy mình đang mất quyền kiểm soát cuộc sống của chính mình. "Giành lại quyền kiểm soát" là lời hứa của những người vận động Brexit vào năm 2016, một lời hứa đến nay vẫn chưa thành hiện thực , và sau đó được các chính trị gia trên khắp các khuynh hướng chính trị tiếp nhận, từ Donald Trump ở Mỹ và Keir Starmer ở ​​Anh cho đến lãnh đạo đảng AfD là Alice Weidel ở Đức.

Tuy nhiên, đồng thời, Brexit cũng đóng vai trò là phép thử thực tế đầu tiên đối với những người theo chủ nghĩa dân túy như Trump và Farage; họ hứa hẹn với những người ủng hộ rằng chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa biệt lập có thể giúp giành lại quyền kiểm soát vận mệnh trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Thực tế sau mười năm kể từ cuộc trưng cầu dân ý cho thấy điều hoàn toàn ngược lại đã xảy ra.

Không chỉ Vương quốc Anh phải gánh chịu những tổn thất to lớn về sự thịnh vượng kể từ khi rời khỏi EU; Các nhà kinh tế tại Đại học Stanford – một trường đại học danh tiếng của Mỹ, ước tính rằng GDP của Anh sẽ cao hơn từ "6 đến 8%" nếu Vương quốc Anh vẫn ở lại EU. Theo các báo cáo, Brexit đã khiến đầu tư sụt giảm tới 18%, trong khi việc làm và năng suất lao động đều giảm 4%.

Kết quả cũng tiêu cực không kém đối với mục tiêu chính của những người ủng hộ Brexit: chấm dứt tình trạng nhập cư không kiểm soát. Jonathan Portes, giáo sư kinh tế tại King’s College London, nhận định: "Việc rời khỏi EU đã trao lại cho Anh quyền kiểm soát vấn đề nhập cư, nhưng cử tri lại không hài lòng với kết quả này."

Brexit đã làm giảm đáng kể số lượng lao động từ EU làm việc tại Anh, đồng thời gia tăng mạnh mẽ số lượng lao động đến từ các quốc gia ngoài khối EU. Xét về tổng thể, số lượng lao động sinh ra ở nước ngoài đang sinh sống tại Anh hiện nay cao hơn so với mức lẽ ra đã có nếu Anh vẫn ở lại EU.

Hơn nữa, Brexit đã gây ra vô vàn khó khăn trong việc đưa những người di cư vượt eo biển Manche bất hợp pháp trở lại EU.

Tuy nhiên, không đâu mà khẩu hiệu "Giành lại quyền kiểm soát" lại trở nên nực cười hơn là trong lĩnh vực chính sách đối ngoại và an ninh. Lời hứa của Boris Johnson về một nước Anh "vươn tầm toàn cầu" (Global Britain) đã bị đảo ngược hoàn toàn và trớ trêu thay, điều này lại do chính các lực lượng theo chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy từ Brexit gây ra.

Nhà sử học Garton Ash viết: "Nếu nhìn vào viễn cảnh thế giới trong hai thập niên tới, một thế giới với sự cạnh tranh giữa các cường quốc và đế chế, với một nước Nga hiếu chiến về quân sự, một Trung Quốc quyết liệt về kinh tế, và một nước Mỹ sẽ không bao giờ quay lại vai trò gắn kết xuyên Đại Tây Dương đặc biệt như thời hậu chiến năm 1945, thì rõ ràng lựa chọn tốt nhất cho một cường quốc tầm trung như Anh là trở thành một phần của liên minh rộng lớn hơn, bao gồm các quốc gia có chung lợi ích và giá trị cốt lõi."

Việc đưa Anh trở lại khối cũng mang lại lợi ích lâu dài cho EU, xét đến truyền thống tự do, năng lực đổi mới sáng tạo và sức mạnh quân sự của quốc gia này.

Quan điểm của Napoleon cho rằng địa lý quyết định vận mệnh quốc gia là một trong số ít những nguyên lý địa chính trị vẫn giữ nguyên giá trị. Brexit là một nỗ lực nhằm thay đổi thực tế này, nhưng đã thất bại thảm hại. Giờ đây, trọng trách sửa chữa sai lầm lịch sử này đặt lên vai người dân Anh và các nước láng giềng Âu châu.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

  DONALD TRUMP: "ÔNG LÃO LẠI GẶP RẮC RỐI RỒI" - TỔNG THỐNG MỸ LAY HOAY VỤNG VỀ NGAY TRƯỚC MẮT MỌI NGƯỜI  

Nhiệm vụ của Tổng thống Mỹ không chỉ bao gồm các quyết định về chính sách đối nội và hoạt động ngoại giao thế giới, mà còn cả các trách nhiệm mang tính nghi thức nhằm vinh danh những công dân Mỹ ưu tú. Chẳng hạn, Huân chương Danh dự (Medal of Honor), phần thưởng quân sự cao quý nhất của chính phủ Mỹ,  thường được đích thân Tổng thống trao tặng cho những cá nhân đã thể hiện lòng dũng cảm phi thường trong quân đội và bất chấp hiểm nguy tính mạng khi tham chiến. Tuy nhiên, Donald Trump đã làm hỏng khoảnh khắc đặc biệt này tại White House khi thất bại trong một thao tác đơn giản ngay trước sự chứng kiến ​​của mọi người, qua đó tạo thêm cớ để những người chỉ trích đặt dấu hỏi về sự phù hợp của ông cho cương vị Tổng thống.

Donald Trump trở thành trò cười tại lễ trao Huân chương Danh dự cho Nicholas Dockery

Vào ngày 18 tháng 6, Huân chương Danh dự đã được trao cho Thiếu tá Lục quân Mỹ đã nghỉ hưu Nicholas Dockery cùng một số cá nhân khác. Với vinh dự này, cựu sĩ quan Lực lượng Đặc nhiệm sinh ra tại Indiana đã được ghi tên vào "Đại sảnh Anh hùng" (Hall of Heroes) của Pentagon. Theo thông tin từ trang web củaquaan đội Mỹ, ông Dockery được vinh danh nhờ những cống hiến trong thời gian phục vụ tại Afghanistan vào năm 2012; khi đó, ông (với cấp bậc Trung úy) cùng các binh sĩ dưới quyền đã rơi vào một cuộc phục kích.

Khi lực lượng Taliban nổ súng tấn công, Nicholas Dockery đã bất chấp hiểm nguy để cứu các binh sĩ bị thương, nỗ lực hết mình để đưa đồng đội đến nơi an toàn. Hành động này mang lại lý do chính đáng để Donald Trump dành lời tri ân cho vị thiếu tá đã nghỉ hưu: "Thiếu tá Dockery, ông là người cuối cùng rời khỏi chiến trường ngày hôm đó, và ông rời đi như một huyền thoại, một người hùng," Tổng thống Mỹ phát biểu tại buổi lễ. Donald Trump không thể cài dây đeo huân chương, thắt giải thưởng quân sự trông như vòng cổ chó

Dù Donald Trump có thể đã dành những lời ngợi khen một cách trôi chảy, hoàn hảo, nhưng ông lại gặp khó khăn lớn khi đến lúc phải đeo Huân chương Danh dự vào cổ Nicholas Dockery. Tệ hơn nữa, mọi ống kính máy quay đều hướng về phía Trump trong khoảnh khắc đầy ngượng ngùng này khi ông loay hoay bất lực với dải ruy băng màu xanh nhạt, hoàn toàn không thể cài được khóa. Đỉnh điểm của sự xấu hổ là việc Trump cuối cùng đã cố định huân chương quanh cổ cựu binh từng tham chiến tại Afghanistan bằng một nút thắt kép vụng về,  khiến chiếc Huân chương Danh dự siết chặt lấy cổ ông Dockery trông chẳng khác nào một chiếc vòng cổ chó, làm mất đi vẻ trang trọng và tôn nghiêm vốn có của buổi lễ. 

Các đoạn video về lễ trao huy chương lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội, đi kèm với những bình luận đa dạng, từ chế giễu cho đến sự ngỡ ngàng tột độ. Tài khoản X "Republicans Against Trump" (Đảng viên Cộng hòa chống Trump) đã đăng tải trọn vẹn khoảnh khắc gây ngượng ngùng này cùng dòng chú thích: "Ông nội lại gặp rắc rối rồi." Ngay sau đó là hàng loạt lời chế giễu và mỉa mai từ những người khác phản đối ông Trump:

・"Chà, việc đó chắc chắn khó hơn nhiều so với việc nhận diện con hươu cao cổ trong bài kiểm tra nhận thức của ông ta!"

・"Ông ấy định đùa một chút, nhưng hành động đó chỉ làm giảm đi giá trị của giải thưởng mà thôi."

・"Đúng là phong thái 'tổng thống', vỗ mạnh vào lưng người quân nhân!"

・"Trông ông ấy chẳng khác nào đang bóp cổ người ta vậy!"

・"Thật nực cười, nghỉ hưu, chơi gôn và nhâm nhi Cocktail có lẽ là lựa chọn tốt hơn cho ông ấy..."

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026 

 THÁI TỬ IRAN LƯU VONG GỌI THỎA THUẬN CỦA TRUMP LÀ ĐIỀU "ĐÁNG GHÊ TỞM"- NGƯỜI DÂN IRAN CẢM THẤY BỊ PHẢN BỘI

Trong khi Donald Trump nỗ lực quảng bá thỏa thuận với Iran như một bước tiến ngoại giao, những lời chỉ trích từ quốc tế đang ngày càng gia tăng. Các chuyên gia an ninh coi đây là một thất bại đối với Hoa Kỳ. Giờ đây, Thái tử lưu vong của Iran, ông Reza Pahlavi, cũng đã lên tiếng chỉ trích gay gắt thỏa thuận này. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ *Daily Mail*, vị thái tử 65 tuổi tuyên bố rằng người dân Iran cảm thấy "bị phản bội" bởi thỏa thuận đó.

Ông Pahlavi chỉ trích thực tế rằng hàng chục nghìn người đã thiệt mạng trong các cuộc biểu tình chống chính quyền hồi tháng giêng "không hề hy sinh vì một thỏa thuận hạt nhân hay vì Eo biển Hormuz." Các ước tính cho thấy có tới 40.000 người có thể đã thiệt mạng trong các cuộc trấn áp biểu tình. Con trai của vị Shah (Quốc vương) cuối cùng của Iran mô tả việc người dân Iran hoàn toàn không được quan tâm đến trong quá trình đàm phán là điều "đáng ghê tởm". Ông cho rằng câu hỏi liệu lời hứa về việc thay đổi chế độ có được thực hiện hay không giờ đây phụ thuộc "vào lương tâm của vị tổng thống này và chính quyền này."

Thỏa thuận gây tranh cãi này đã được ký kết tại Versailles vào thứ Tư 17-6. Thỏa thuận quy định rằng Iran sẽ nhận được 300 tỷ USD tiền bồi thường cũng như được nới lỏng các lệnh trừng phạt. Đổi lại, Teheran phải mở lại Eo biển Hormuz, loại bỏ lượng Uranium đã làm giàu và cam kết không phát triển vũ khí hạt nhân. Tân Lãnh tụ tối cao, ông Mojtaba Chamenei, tuyên bố rằng ông đã "cho phép" ký kết thỏa thuận. Đồng thời, ông nhấn mạnh rằng các cuộc đàm phán trong tương lai sẽ không đồng nghĩa với việc "chấp nhận lập trường của kẻ thù." Ông cho rằng Trump đã đạt được thỏa thuận này "vì sự tuyệt vọng." Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian mô tả văn kiện này là "sự thể hiện tiếng nói của một quốc gia không đánh đổi phẩm giá và nền độc lập của mình để lấy sự an toàn trước các lời đe dọa hay áp lực."

"Đáng ghê tởm!" Người dân Iran bị phớt lờ trong đàm phán

Ông Pahlavi khẳng định rõ ràng rằng người dân Iran đang đòi hỏi tự do và chấm dứt các hành vi vi phạm nhân quyền, giam giữ tù nhân chính trị cũng như các vụ hành quyết. Thay vào đó, Washington hiện đã tuyên bố chiến thắng, mặc dù chế độ này vẫn nắm quyền và đang trở nên giàu có hơn, trong khi vô số người biểu tình bị bắt giữ đang chờ án tử hình. Thái tử đang sống lưu vong đã đưa ra cảnh báo đanh thép rằng hàng tỷ đô la đó sẽ không "chảy xuống đến tay người dân". Thay vào đó, Teheran sẽ xử dụng số tiền này để củng cố các lực lượng ủy nhiệm của mình, chẳng hạn như Hisbollah, Hamas và phiến quân Huthi. Ông Pahlavi cũng bác bỏ khẳng định của ông Trump rằng Iran nên được phép sở hữu "một số hỏa tiễn đạn đạo" chỉ vì các quốc gia khác cũng có chúng. "Bản chất của 'con quái thú' này là chúng vốn dĩ nguy hiểm," ông giải thích. Chúng ta đang đối đầu với một "con quái thú" chứ không phải những con người biết lý lẽ.

Thỏa thuận Iran "không bền vững" – Thái tử lưu vong lên tiếng chỉ trích gay gắt

Ông Pahlavi bày tỏ sự hoài nghi lớn về tính bền vững của thỏa thuận. "Tôi không nghĩ nó sẽ kéo dài," ông nói. "Nó không bền vững; nó không có tính chính danh trong mắt người dân." Thái tử cũng chỉ trích gay gắt Thủ tướng Anh Keir Starmer. Bằng việc đề nghị dỡ bỏ các lệnh trừng phạt của Anh đối với chế độ độc tài thần quyền, ông Starmer đã "hợp thức hóa và khen thưởng hành vi tống tiền". Ông Pahlavi nhắc nhở các nhà lãnh đạo Tây phương rằng các vụ hành quyết vẫn diễn ra hàng ngày ở Iran. Số phận của người dân phải được gắn liền với bất kỳ cuộc đàm phán nào. Ông kêu gọi Vương quốc Anh: "Hãy sát cánh cùng chúng tôi; hãy giúp chúng tôi vượt qua điều này." 

Bất chấp những lời chỉ trích gay gắt, ông Pahlavi vẫn nhìn thấy khả năng thay đổi trong tư duy của Washington. Ông cảm thấy rằng "cánh cửa vẫn mở" cho các bước đi tiếp theo của ông Trump nhằm vào chế độ này. Người dân Iran vẫn "kiên cường trong cuộc đấu tranh giành tự do". Trong khi đó, quân đội Mỹ đã xác nhận việc dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân đối với các cảng của Iran. Ông Trump đã khơi mào cuộc xung đột vào tháng Hai cùng với Israel sau khi hứa với những người biểu tình Iran rằng ông sẽ "đến hỗ trợ họ". Tuy nhiên, Israel từ chối rút quân khỏi Libanon theo các điều khoản của thỏa thuận. Phó Tổng thống Mỹ JD Vance đã chỉ trích lập trường này. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã bị gạt ra ngoài lề trong quá trình đàm phán và không phải là bên ký kết thỏa thuận.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

 CHUYÊN GIA VỀ QUỐC PHÒNG RÖWEKAMP: ÂU CHÂU CẦN GIA TĂNG SỰ ĐỘC LẬP VỀ QUÂN SỰ

Berlin ( theo hãng tin dts) – Trước kế hoạch rút các đơn vị quân sự của Mỹ khỏi Âu châu, ông Thomas Röwekamp , chuyên gia về chính sách quốc phòng của đảng CDU , đang kêu gọi tăng cường hợp tác quân sự chặt chẽ hơn giữa các quốc gia Âu châu thuộc NATO.

Hôm thứ Năm 18-6, Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng đã phát biểu trên truyền hình "Welt" rằng: "Chúng ta phải bẩo đảm rằng việc rút bớt năng lực quân sự không tạo ra khoảng trống, mà thay vào đó, Âu châu phải sẵn sàng và có khả năng thay thế các năng lực đó."

Ông Röwekamp nhấn mạnh rằng Đức đã cam kết rõ ràng về việc đóng góp này và sẽ có khả năng thực hiện nó. "Tuy nhiên, cũng rõ ràng là các quốc gia Âu châu cần hợp tác chặt chẽ hơn với nhau. Chúng ta từng có một dự án mua sắm chung thất bại với Pháp, nhưng đó không phải là ví dụ điển hình cho sự hợp tác Âu châu. Có nhiều lĩnh vực khác mà chúng ta đang đưa ra phản ứng chung ở cấp độ Âu châu. Ví dụ như sự hợp tác với Na Uy về lớp tàu ngầm mới, sự phối hợp trong hệ thống phòng không tương lai, hay sự hợp tác tốt với Ukraine. Như vậy, có rất nhiều hình thức hợp tác. Vấn đề không nằm ở việc Âu châu thiếu năng lực, mà đơn thuần là vấn đề ý thức chính trị."



Từ thất bại của dự án hợp tác chế tạo chiến đấu cơ FCAS với Pháp, ông Röwekamp rút ra kết luận rằng các thương vụ mua sắm quân sự như vậy không nên chỉ được xem thuần túy là các dự án kỹ nghệ sản xuất phi cơ. "Vấn đề không phải là phân chia các gói thầu kỹ nghệ, quyết định quốc gia nào nhận phần sản xuất bao nhiêu hay nắm giữ vị thế dẫn đầu về kỹ nghệ. Với tư cách là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng, điều quan trọng đối với tôi là chúng ta có được năng lực quân sự đó. Yếu tố tiên quyết không phải là nơi sản xuất, mà là thời điểm và tốc độ thực hiện. Và tôi tin rằng việc thống nhất về ưu tiên mới này, giữa các nước thành viên NATO tại Âu châu và với các đối tác Âu châu khác, sẽ là yếu tố quyết định," ông Röwekamp nói.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

KHÔNG CHỈ CÓ MỘT LẦN GIẬN DỮ  TRONG LÚC ĐIỆN ĐÀM CỦA TRUMP VỚI NETANYAHU

Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Israel đã cùng nhau tham chiến tại Iran. Giờ đây, khi cuộc chiến đã kết thúc, mối quan hệ giữa họ dường như đang trở nên vô cùng căng thẳng. Điều này đặt ra rủi ro cho cả hai bên.

David Schafbuch thông tin từ New York

Đến thứ Năm 18-6, JD Vance đã không còn kiên nhẫn được nữa. Với giọng điệu dứt khoát, Phó Tổng thống Mỹ đã bác bỏ những lời chỉ trích mới nhất từ ​​phía Israel nhắm vào Donald Trump. Ông Vance khẳng định tại một cuộc họp báo ở Nhà Trắng rằng, Tổng thống Mỹ "hiện là nguyên thủ quốc gia duy nhất trên thế giới có thiện cảm với Israel". Ông nói thêm rằng nếu là thành viên chính phủ Israel, chắc chắn ông sẽ không "tấn công đồng minh hùng mạnh duy nhất còn lại của mình trên toàn thế giới".

Kể từ khi Mỹ và Iran đạt được thỏa thuậ n sơ bộnhằm chấm dứt chiến tranh, đã có làn sóng phản đối dữ dội tại Israel. Israel không chỉ bị gạt ra ngoài lề các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt xung đột, vốn do chính họ cùng Mỹ khởi xướng, mà còn không đạt được bất kỳ mục tiêu chiến tranh nào mà Thủ tướng Benjamin Netanyahu từng đề ra.

Mặc dù Thủ tướng Israel cho đến nay vẫn tỏ ra chừng mực trong các phát biểu công khai về thỏa thuận Mỹ-Iran, nhưng những diễn biến trong vài tuần qua cho thấy rõ ràng rằng Trump và Netanyahu đang dần xa cách nhau. Trước đây, hai người từng có mối quan hệ chính trị rất khăng khít. Việc tạo khoảng cách với người kia mang lại rủi ro cho cả hai chính trị gia này.

Mối quan hệ thân thiết giữa hai nhà lãnh đạo này đã kéo dài nhiều năm: Trong nhiệm kỳ đầu tiên, bên cạnh các động thái khác, ông Trump đã đưa ra quyết định mang tính biểu tượng cao là chuyển Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem và khởi xướng cái gọi là "Hiệp định Abraham". Được chính quyền Trump làm trung gian, các hiệp định này đã dẫn đến việc ký kết các hiệp ước hòa bình giữa Israel với Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và Bahrain.

Ông Netanyahu cũng từng tận dụng mối quan hệ thân thiết với Mỹ này trong các chiến dịch tranh cử của mình. Năm 2019, Thủ tướng Israel đã xuất hiện cùng ông Trump trên các tấm áp phích vận động tranh cử. Nhà lãnh đạo Israel cũng là khách mời thường xuyên tại White House trong nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump. Cho đến nay, ông Netanyahu đã tới Washington tổng cộng 6 lần, nhiều hơn bất kỳ nguyên thủ quốc gia hay người đứng đầu chính phủ nào khác kể từ khi ông Trump trở lại White House.

Chuyến thăm gần đây nhất của ông vào tháng Hai vừa qua được cho là mang tính quyết định đối với cuộc chiến với Iran. Theo tờ *New York Times*, trong cuộc gặp này, ông Netanyahu đã mạnh mẽ ủng hộ việc thay đổi chế độ tại Iran. Trong số những việc khác, ông được cho là đã xử dụng một bài thuyết trình để chứng minh cho Trump thấy rằng giới lãnh đạo Iran có thể bị lật đổ thông qua một cuộc can thiệp quân sự chung.

Một cuộc tấn công vào Iran thực sự đã diễn ra vào cuối tháng Hai, được thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ giữa hai nước. "Chiến dịch này được phối hợp giữa Israel và Mỹ chặt chẽ hơn hầu hết các chiến dịch quân sự khác trong lịch sử gần đây," cựu Cố vấn An ninh Quốc gia của Trump, ông John Bolton, chia sẻ với t-online.

John Bolton: "Mọi thứ đều được phối hợp hoàn hảo"

Tuy nhiên, những rạn nứt bắt đầu xuất hiện trong mối quan hệ giữa hai chính trị gia này trong những tháng sau đó. Cuộc chiến ngày càng trở thành vấn đề nan giải đối với Trump, xét cả về chính sách đối ngoại lẫn đối nội: một là, Iran tỏ ra không dễ bị đánh bại như những gì Netanyahu được cho là đã gợi ý hồi tháng Hai.

Đồng thời, cuộc xung đột kéo dài đã tạo ra áp lực ngay tại Mỹ; việc phong tỏa eo biển Hormuz khiến giá dầu và xăng tăng vọt, làm trầm trọng thêm tình trạng giá thực phẩm vốn đã cao và lạm phát.

Cuộc chiến dai dẳng cũng không được lòng nhiều người ủng hộ Trump; một số nhà bình luận có ảnh hưởng, chẳng hạn như cựu người dẫn chương trình của Fox là Tucker Carlson, đã quay sang chỉ trích ông. Carlson viện dẫn, cùng với những lý do khác, việc Trump từng hứa sẽ không đưa Mỹ vào bất kỳ cuộc chiến tranh mới nào. Carlson cáo buộc ông đã để Israel lôi kéo mình vào cuộc xung đột với Iran.

Về phần mình, Netanyahu cũng khó có thể hài lòng với diễn biến của cuộc giao tranh. Bởi lẽ, ngay tại Israel, người ta cũng sớm nhận ra rằng các mục tiêu chiến tranh đã đề ra gần như không thể đạt được: chế độ cầm quyền vẫn đứng vững bất chấp việc Lãnh tụ Tối cao Ayatollah Ali Khamenei đã bị tiêu diệt. Điều tương tự cũng xảy ra với các chương trình hỏa tiễn và hạt nhân của Iran, cũng như sự hỗ trợ của nước này dành cho các lực lượng dân quân đồng minh, như Hisbollah (Li-băng), Huthi (Yemen) và Hamas (Dải Gaza). Hệ quả là, Iran vẫn tiếp tục là mối đe dọa quân sự trực tiếp đối với Israel.

Như vậy, hai đối tác từng hành động đồng lòng nay lại trở thành hai bên với những mục tiêu khác biệt: trong khi chính quyền Trump nỗ lực ngày càng mạnh mẽ trong những tuần gần đây nhằm chấm dứt chiến tranh, bất chấp các mục tiêu ban đầu, thì Israel lại đáp trả bằng sức mạnh quân sự lớn hơn nữa trong nỗ lực đạt được ít nhất một vài mục tiêu trong số đó.

Ông Trump đặc biệt tức giận trước các cuộc tấn công liên tục của Israel vào Libanon. Israel thực hiện các hành động này để đáp trả những cuộc tấn công trước đó từ tổ chức khủng bố Hisbollah đang hoạt động tại đây. Ngược lại, Iran liên tục chỉ trích các hành động này và thậm chí đe dọa sẽ chấm dứt đàm phán hòa bình nếu Israel không ngừng tấn công.

Hệ quả là, thái độ giữa ông Netanyahu và ông Trump đã thay đổi. "Ông ấy sẽ làm theo những gì tôi bảo," ông Trump nhận xét về Thủ tướng Israel trong quá trình đàm phán về Iran vào cuối tháng 5. Tuy nhiên, rõ ràng là ông Netanyahu đã không làm như vậy.

"Hoàn toàn điên rồ"

Một vụ rạn nứt lớn được cho là đã xảy ra giữa hai người vào đầu tháng 6. Trang tin Axios là nơi đầu tiên đưa tin về sự việc này: ông Trump và ông Netanyahu được cho là đã buông những lời lẽ gay gắt nhắm vào nhau trong một cuộc điện đàm. Ông Trump gọi ông Netanyahu là kẻ "hoàn toàn điên rồ" (cùng nhiều lời lẽ khác) và chất vấn xem ông ấy đang làm cái quái gì vậy. Ngay sau đó, Tổng thống Mỹ xác nhận rằng một cuộc tranh cãi nảy lửa thực sự đã diễn ra.

Thỏa thuận mới đạt được với Iran cho thấy ông Trump đã giành phần thắng, ít nhất là trên danh nghĩa. Thỏa thuận sơ bộ quy định rằng giao tranh tại Libanon cũng phải chấm dứt. Tuy nhiên, vẫn còn bỏ ngỏ khả năng liệu Israel có tuân thủ điều này hay không?. Vào thứ Năm 18-6, ông Netanyahu đã bác bỏ khả năng rút quân khỏi miền nam Libanon, đồng thời nói thêm rằng cuộc chiến "vẫn chưa kết thúc".

"Đôi khi hơi quá nhiệt tình"

Gần đây hơn, cả ông Trump và ông Netanyahu đều cố gắng giảm nhẹ những bất đồng giữa họ. Thủ tướng Israel là "một người tốt; chỉ là đôi khi ông ấy hơi quá nhiệt tình," ông Trump phát biểu khi kết thúc hội nghị thượng đỉnh G7 tại Pháp. Về phần mình, văn phòng của ông Netanyahu tuyên bố rằng tình hình hiện tại đòi hỏi phải duy trì "mối quan hệ sống còn" với Mỹ, quốc gia đã "sát cánh cùng chúng tôi trong cuộc chiến này".

Một sự rạn nứt nghiêm trọng có thể gây rắc rối cho cả hai chính trị gia. Bất chấp những chỉ trích từ chính phe mình, ông Trump vẫn nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng Cơ đốc giáo Tin lành (evangelical), những người coi việc bảo vệ Nhà nước Israel là vấn đề vô cùng quan trọng. Hơn nữa, có lẽ ông Trump không muốn từ bỏ đồng minh chủ chốt của mình trong khu vực, bởi làm vậy sẽ làm giảm tầm ảnh hưởng của Mỹ và khiến các hành động của chính phủ Israel trở nên khó lường hơn nữa.

Bầu cử cận kề

Về phía mình, ông Netanyahu cũng không thể mạo hiểm để xảy ra sự rạn nứt hoàn toàn với Mỹ; bất chấp sức mạnh quân sự của chính mình, Mỹ vẫn là bên bảo trợ quan trọng nhất của Israel. Việc hai bên ngày càng xa cách sẽ càng làm suy yếu thêm vị thế vốn đã lung lay của ông Netanyahu. Suy cho cùng, Thủ tướng Israel hiện bị nhìn nhận là nhà lãnh đạo đã đưa ra những cam kết mạnh mẽ với người dân về vấn đề Iran nhưng lại thất bại trong việc mang lại an ninh tốt hơn thông qua cuộc chiến.

Hệ quả là, cuộc chiến này có thể sớm khiến cả hai nhà lãnh đạo phải trả giá về mặt chính trị tại các kỳ bầu cử: Đảng Cộng hòa của ông Trump sẽ bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Quốc hội vào tháng 11, còn Israel cũng sẽ bầu ra một quốc hội mới vào mùa thu này. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy liên minh cầm quyền hiện tại của ông Netanyahu có nguy cơ mất thế đa số. Đồng thời, ông cũng có thể mất đi một người ủng hộ quan trọng trong chiến dịch tranh cử; khác với vài năm trước, gần đây ông Donald Trump đã tỏ ra dè dặt và không khẳng định liệu mình có ủng hộ ông Benjamin Netanyahu hay không.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

  PENTAGON ĐƯỢC CHO LÀ CẦN NGUỒN TIỀN BỔ XUNG LỚN VÌ ĐÃ TIÊU HAO TRONG TRẬN CHIẾN VỚI IRAN 

Theo N-TV: Quân đội Mỹ được cho là đã sử dụng một lượng lớn hỏa tiễn đắt tiền trong cuộc chiến chống lại Iran. Cộng thêm các khoản chi phí khác, điều này đang tạo ra áp lực tài chính cho Bộ Quốc phòng Mỹ. Nếu không được bổ sung ngân sách mới, các hoạt động trong tương lai có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Pentagon được cho là cần 80 tỷ USD để trang trải chi phí cho cuộc chiến với Iran cũng như các khoản chi không liên quan đến chiến tranh. Theo những người biết rõ các cuộc thảo luận, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Stephen Feinberg đã thông báo điều này tới các nghị sĩ Quốc hội qua các cuộc điện thoại trong tuần này.

Các nhà lập pháp đã hối thúc chính quyền Trump đưa ra bản dự toán chi phí toàn diện cho cuộc chiến vốn bắt đầu từ ngày 28 tháng 2. Họ đặc biệt lo ngại về việc quân đội đã tiêu tốn một lượng lớn kho dự trữ đạn dược giá trị trong các cuộc không kích nhắm vào Teheran, những loại đạn dược có thể cần thiết để đối phó với các mối đe dọa ở những khu vực khác trên thế giới.

Các quan chức Pentagon tuyên bố rằng họ có thể cạn kiệt ngân sách cho các hoạt động vào mùa hè nếu Quốc hội không thông qua gói chi tiêu chiến tranh mới. Họ cảnh báo rằng, do cuộc chiến với Iran và việc điều động quân tới biên giới phía nam nước Mỹ, quân đội sẽ buộc phải cắt giảm các cuộc tập trận và những ưu tiên khác.

Mọi yêu cầu bổ xung ngân sách từ Pentagon đều cần sự phê duyệt của Văn phòng Quản lý và Ngân sách (OMB) thuộc White  trước khi được trình lên Quốc hội. Ngân sách của Pentagon cho năm tài chính 2026 hiện ở mức khoảng 1000 tỷ USD.

Theo các nguồn tin nội bộ, các quan chức Pentagon tỏ ra tự tin về những kế hoạch mà ông Feinberg đã trình bày với các nhà lập pháp trong những ngày gần đây. Một nguồn tin cho biết một phần ngân sách sẽ được phân bổ cho các hoạt động hải quân, chi trả lương nhân sự và mua sắm đạn dược, cùng nhiều hạng mục khác. Một yêu cầu bổ sung ngân sách toàn diện của Mỹ, bao gồm cả nhu cầu của Pentagon và các ưu tiên phi quốc phòng như nông nghiệp và cứu trợ thiên tai, có thể sẽ được trình lên các nhà lập pháp trong những ngày tới.

White House và Văn phòng Quản lý Ngân sách (OMB) từ chối trả lời các câu hỏi liên quan đến khả năng có yêu cầu bổ xung ngân sách chiến tranh. Pentagon cũng không phản hồi yêu cầu bình luận về các cuộc thảo luận của ông Feinberg. Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth đã gặp gỡ các thượng nghị sĩ hàng đầu của đảng Cộng hòa tại Đồi Capitol trong tuần này và, theo một số nhà lập pháp, ông đã đề cập đến khả năng đưa ra các yêu cầu bổ sung cho ngân sách quốc phòng. *Cần sự ủng hộ từ phía Đảng Dân chủ*

Quân đội đang phải đối mặt với chi phí gia tăng mạnh trong năm nay, mức ước tính của Lầu Năm Góc vào giữa tháng 5 là 29 tỷ USD, con số thực tế hiện nay có thể còn cao hơn, do cuộc chiến với Iran, cuộc tấn công vào Venezuela và các hoạt động liên tục ngăn chặn tàu thuyền nghi chở ma túy tại vùng biển Karibik và Đông Thái Bình Dương. Bất kỳ đề  bổ xung ngân sách chiến tranh nào được trình lên Quốc hội cũng có khả năng châm ngòi cho một cuộc tranh luận cơ bản giữa các nhà lập pháp về các quyết định phát động chiến tranh của ông Trump.

Một số nhà lập pháp tuyên bố họ sẽ không phê duyệt thêm ngân sách chiến tranh trừ khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua nghị quyết cho phép tiến hành các hoạt động quân sự, tương tự như tiền lệ của Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất cũng như các cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan. Chính quyền Trump chưa từng đề nghị Quốc hội cấp phép cho cuộc chiến với Iran; do đó, phe Dân chủ lập luận rằng cuộc xung đột này là bất hợp pháp.

Hầu hết các dự luật đều cần 60 phiếu thuận để được thông qua tại Thượng viện, nghĩa là Đảng Cộng hòa cần sự ủng hộ từ ít nhất một số nghị sĩ Đảng Dân chủ. Trong khi đó, tại Hạ viện, chỉ cần đa số phiếu đơn thuần là đủ. Đảng Cộng hòa hiện chỉ nắm giữ thế đa số mong manh tại cả hai viện.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

 ĐỂ BẢO VỆ MARIUPOL TRUNG ĐOÀN AZOW ĐÃ SẲN SÀNG CHO VÒNG 2 CHỐNG LẠI QUÂN PUTIN

Theo nguồn tin của HotNews: Nhiều binh sĩ dành cả cuộc đời mơ ước được trở lại và giành lại những gì đã bị cướp mất trong những ngày đen tối nhất của cuộc xung đột. Giờ đây, một nhóm quân sự nổi tiếng đang biến giấc mơ đó thành một chiến dịch phối hợp chặt chẽ.

Nhiệm vụ dài hạn.

Trung đoàn Azow đã trở thành biểu tượng của thế giới của sự kháng chiến khi bảo vệ thành phố cảng Mariupol vào năm 2022. Sau cuộc bao vây tàn khốc kéo dài nhiều tháng, hàng trăm chiến binh đã thiệt mạng hoặc bị bắt. Ngày nay, mọi thứ đã thay đổi. Đơn vị mới thành lập đang phản công mạnh mẽ.

Theo một báo cáo của HotNews, nhóm này đã phát động một loạt các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái vào tuần trước nhằm vào cảng có vị trí chiến lược quan trọng của thành phố. Chiến dịch đã vô hiệu hóa thành công các trạm biến áp và tấn công các cơ sở sửa chữa. Điều này đánh dấu một giai đoạn mới táo bạo đối với nhóm.

Đại tá Arsen Dmitrik, tham mưu trưởng của Quân đoàn Azow số 1, nói với Reuters rằng đây là một cuộc đấu tranh lâu dài. Ngay cả khi chiến dịch kéo dài hàng thập niên, các binh sĩ vẫn cam kết với lý tưởng của mình.

"Dù có mất 20 năm, chúng tôi cũng sẽ dành 20 năm để lên kế hoạch, chờ đợi và chuẩn bị," Dmitrik giải thích. Ông từng bị giam trong nhà tù Nga trước khi được thả. "Nhưng khi thời điểm đến, chúng ta phải sẵn sàng. Tôi nghĩ chúng ta sẽ tái chiếm được nó. Chỉ là vấn đề thời gian thôi," ông nói thêm.

Tấn công trên các tuyến đường

Vụ tấn công cảng gần đây là một phần của chiến dịch lớn hơn nhằm phá vỡ cơ sở hậu phương quân sự của Nga. Các phần tử khủng bố đang nhắm mục tiêu vào các xe chở nhiên liệu di chuyển trên những con đường rộng mở như đường cao tốc M14. Từ trên không, những phương tiện này hoàn toàn không được bảo vệ.

Chiến lược này nhằm làm chậm đà tấn công mà Nga có thể tạo ra trên chiến trường. Franz-Stefan Gady, một chuyên gia tại Trung tâm An ninh Mỹ mới, nói với Reuters rằng các cuộc tấn công này "mang tính tích lũy hơn là quyết định." Áp lực đang buộc quân đội Nga phải đi đường vòng rất dài.

Các chỉ huy khác thậm chí muốn tiến xa hơn nữa để cắt đứt viện binh. Robert Brovdi, chỉ huy lực lượng máy bay không người lái của Ukraine, nói với Reuters rằng ông dự định “cô lập Krim trong tương lai gần” bằng cách tấn công các hành lang giao thông trọng yếu.

Để thực hiện các nhiệm vụ tầm xa này, đơn vị dựa vào trang bị kỹ thuật cao. Rob Lee, một chuyên gia cao cấp tại Viện Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại, nói với Reuters rằng Nhóm Azow xử dụng một loại máy bay không người lái nâng cấp của Mỹ có tên là Hornet. Nhóm này đã bổ sung thêm các trang bị đầu cuối Internet Starlink để mở rộng tầm hoạt động.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

 LẦN ĐẦU TIÊN EU GIA HẠN LỆNH TRỪNG PHẠT NGA 12 THÁNG THAY VÌ 6 THÁNG NHƯ TRƯỚC ĐÂY

Theo DPA: Lần đầu tiên, EU quyết định gia hạn các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Nga thêm 12 tháng thay vì mức 6 tháng như thường lệ. Theo người phát ngôn của Chủ tịch Hội đồng António Costa, các nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ của các nước thành viên đã đạt được quyết định này tại hội nghị thượng đỉnh diễn ra vào tháng 6 ở Brüssel.

Trong những năm trước, nhà lãnh đạo Hungary khi đó là ông Viktor Orbán luôn ngăn cản việc gia hạn thời hạn trừng phạt lên một năm. Thủ tướng mới, ông Péter Magyar, được cho là có quan điểm chỉ trích Nga mạnh mẽ hơn nhiều so với người tiền nhiệm Orbán, là người vốn duy trì mối quan hệ mật thiết với nhà lãnh đạo Điện Kremlin Wladimir Putin.

Các biện pháp trừng phạt kinh tế của EU đối với Nga, được áp đặt nhằm đáp trả cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine, bao gồm các hạn chế về thương mại, tài chính, lĩnh vực năng lượng, kỹ nghệ, giao thông vận tải và hàng xa xỉ. Các biện pháp này bao gồm lệnh cấm nhập cảng dầu thô của Nga qua đường biển và việc ngắt kết nối nhiều ngân hàng Nga khỏi hệ thống nhắn tin tài chính SWIFT.

Văn bản pháp lý về việc gia hạn trừng phạt dự kiến ​​sẽ được Hội đồng Bộ trưởng thông qua trong vài tuần tới; đây được xem là một thủ tục mang tính hình thức.

Tuyên bố của hội nghị thượng đỉnh về cuộc chiến tại Ukraine khẳng định Liên minh Âu Châu vẫn kiên quyết "gia tăng hơn nữa áp lực lên Nga và làm suy yếu nền kinh tế chiến tranh của nước này, nhằm buộc Nga chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo và bước vào các cuộc đàm phán hòa bình nghiêm chỉnh". Để đạt được mục tiêu này, các biện pháp sẽ bao gồm những bước đi tiếp theo nhằm cắt giảm nguồn thu từ năng lượng của Nga, hạn chế hoạt động của "đội tàu bóng tối" (shadow fleet) của Nga và cô lập hệ thống ngân hàng Nga.

Đồng thời, các nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ một lần nữa kêu gọi Nga chấm dứt mọi cuộc tấn công. Nga cần thể hiện thiện chí thực sự đối với hòa bình bằng cách đồng ý ngừng bắn ngay lập tức, toàn diện và vô điều kiện, cũng như tham gia vào các cuộc đàm phán nghiêm chỉnh hơn.

Lần đầu tiên kể từ tháng 12 năm 2024, tất cả 27 quốc gia thành viên đã đồng thuận với các tuyên bố liên quan đến Ukraine. Điều này đạt được nhờ sự thay đổi nhân sự lãnh đạo tại Hungary (việc ông Orbán rời ghế). Tuy nhiên, một điểm trừ đối với những người ủng hộ Ukraine là tân Thủ tướng Bulgarien, ông Rumen Radev, lại phản đối một số phần trong gói trừng phạt tiếp theo mà EU dự kiến ​ khai triển.

Tại hội nghị thượng đỉnh, ông Radev xác nhận ý định ngăn chặn các biện pháp trừng phạt nhắm vào Thượng phụ Kirill của Giáo hội Chính thống giáo Nga cũng như một số biện pháp trừng phạt kinh tế cụ thể khác. Ông tuyên bố rằng sẽ không cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt gây tổn hại hoặc đe dọa nền kinh tế Bulgaren, đồng thời dẫn chứng ví dụ về các biện pháp trừng phạt nhắm vào tập đoàn năng lượng khổng lồ Lukoil của Nga.

Vũ Thái An, người lsnh VNCH, ngày 20-6-2026

NHÀ THẦU QUỐC PHÒNG RHEINMETALL  CỦA ĐỨC ĐANG CÂN NHẮC VIỆC HỢP TÁC SẢN XUẤT VŨ KHÍ VỚI NHẬT BẢN

Düsseldorf, ngày 19 tháng 6 (theo Reuters) - Nhà thầu quốc phòng Rheinmetall được cho là đang cân nhắc việc thành lập cơ sở sản xuất vũ khí riêng tại Nhật Bản. Công ty đang hướng tới một liên doanh với một đối tác Nhật Bản để phục vụ cả thị trường Nhật Bản và xuất cảng, tờ Nikkei đưa tin hôm thứ Sáu 19-6, trích dẫn cuộc trò chuyện với Giám đốc điều hành Rheinmetall, ông Armin Papperger. "Tôi rất muốn làm nhiều hơn nữa ở Nhật Bản," Papperger nói với hãng truyền thông Nhật Bản. Ông dự kiến ​​sẽ sớm đến Nhật Bản để đàm phán với các đại diện từ ngành kỹ nghệ sản xuất vũ khí và chính trị. 

Công ty có trụ sở tại Düsseldorf của Đức này, sản xuất các bộ phận ô tô như bơm nước điện tại Nhật Bản thông qua một công ty con, nhưng không có bất kỳ cơ sở sản xuất vũ khí nào ở đó. Papperger cho biết rằng vẫn chưa có quyết định nào được đưa ra về đối tác hoặc kế hoạch kinh doanh cụ thể.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026

ROLLS-ROYCE:  BƯỚC TỪ THỊ TRƯỜNG XE HƠI SANG THỊ TRƯỜNG NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN

Kể từ khi thành lập vào năm 1904, Rolls-Royce đã trở thành biểu tượng của sự sang trọng và đẳng cấp. Công ty danh tiếng của Anh này sở hữu bề dày lịch sử hơn một thế kỷ và đã khẳng định tên tuổi thông qua việc sản xuất những chiếc xe hơi sang trọng và mang tính biểu tượng bậc nhất thế giới. Tuy nhiên, ít người biết đến vai trò mới của hãng trong lĩnh vực năng lượng, cụ thể là với tư cách nhà sản xuất lò phản ứng hạt nhân.

Chế tạo các Lò phản ứng Mô-đun Nhỏ (SMR)

Rolls-Royce SMR được thành lập như một công ty độc lập vào tháng 11 năm 2021, dù tập đoàn mẹ vẫn nắm giữ cổ phần đáng kể. Mục tiêu của việc này là chuyển hướng khỏi ngành kỹ nghệ ô tô để tập trung toàn lực vào việc phát triển các Lò phản ứng năng lượng hạt nhân Mô-đun Nhỏ (SMR).

Các lò phản ứng SMR mà họ đang phát triển có đặc điểm gì?

SMR là loại lò phản ứng hạt nhân tối tân, thường tạo ra công suất điện từ 20 đến 300 Megawatt mỗi tổ máy. Mặc dù có công suất thấp hơn so với các lò phản ứng truyền thống, chúng lại rất linh hoạt và dễ lắp đặt nhờ chế tạo dạng mô-đun nhỏ gọn cùng các linh kiện thuận tiện cho việc vận chuyển và lắp ráp. Hơn nữa, loại lò phản ứng này còn mang lại độ an toàn cao và khả năng ứng dụng đa dạng.

Thỏa thuận quan trọng với Chính phủ Anh

Rolls-Royce SMR đã khởi động quy mô lớn với một dự án trị giá khoảng 567 triệu Euro, bao gồm cả nguồn vốn công và tư, xuất phát từ thỏa thuận với Great British Energy, Nuclear (GBE-N). 

GBE-N là cơ quan thuộc chính phủ Anh chuyên thúc đẩy phát triển và triển khai các kỹ nghệ hạt nhân mới, đặc biệt là việc cung cấp loại lò phản ứng này.

Chinh phục thị trường châu Âu

Bước đi tiếp theo của công ty đã đưa họ vươn ra khỏi biên giới Vương quốc Anh để đến Cộng hòa Tiệp Khắc. Tại đây, một thỏa thuận đã được ký kết với Tập đoàn CEZ nhằm thúc đẩy phát triển lò phản ứng đầu tiên thuộc loại này tại quốc gia Trung Âu; các tổ máy tiếp theo cũng đã được lên kế hoạch khai triển. Một thỏa thuận khác cũng đã đạt được với Great British Energy – Nuclear (GBE-N). Thỏa thuận mới về việc cung cấp lò phản ứng cho Thụy Điển.

Sau khi ký kết các thỏa thuận này và chỉ 5 năm kể từ khi bắt đầu hoạt động, Rolls-Royce SMR đã đạt được một bước tiến lớn khác khi giành được hợp đồng quan trọng cung cấp loại lò phản ứng này cho Thụy Điển, qua đó củng cố vị thế nhà cung cấp hàng đầu về kỹ nghệ này tại Âu châu. Cung cấp ba lò phản ứng cỡ nhỏ

Công ty của Anh đã giành được hợp đồng cung cấp 3 lò phản ứng cỡ nhỏ sau một quy trình tuyển chọn kỹ lưỡng bắt đầu từ năm 2022. Họ sẽ thực hiện dự án này với sự hợp tác của công ty Thụy Điển Videberg Kraft , đơn vị hiện đang vận hành một nhà máy điện hạt nhân trên bán đảo Värö ở bờ biển phía tây đất nước.

Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên được xây dựng sau 40 năm

"Dự án Videberg đánh dấu việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân mới đầu tiên của Thụy Điển trong hơn bốn mươi năm qua, nhằm cung cấp điện cho các ngành kỹ nghệ và các nóc gia ở miền nam đất nước," Rolls-Royce cho biết trong một thông cáo báo chí được Euronews loan tin.

Chính phủ Anh hoan nghênh việc ký kết thỏa thuận

Chính phủ Anh cũng đánh giá cao thỏa thuận mà Rolls-Royce đạt được, đồng thời lưu ý rằng thỏa thuận này sẽ "bảo đảm hàng nghìn việc làm tay nghề cao, củng cố chuỗi cung ứng và làm sâu sắc thêm mối quan hệ đối tác giữa Vương quốc Anh và Thụy Điển," theo tin từ Euronews.

Tiếp tục phát triển trên khắp Âu châu

Với thỏa thuận này, công ty mới do Rolls-Royce thành lập tiếp tục đà phát triển trên khắp Âu châu, khẳng định vị thế hàng đầu với tư cách là nhà phát triển, nhà sản xuất và nhà cung cấp chủ chốt cho loại hình thức kỹ nghệ hạt nhân đặc thù này.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-6-2026  

 ÂU CHÂU CÓ MỘT GIẢI PHÁP THAY THẾ STARSHIP  RẤT HIỆU QUẢ 

Nguồn: CEAS Space Journal – Hỏa tiễn càng lớn thì tỷ lệ tải trọng hữu ích so với tổng khối lượng càng thấp. Starship của SpaceX là minh chứng rõ nét cho nguyên lý này. Một nghiên cứu khác của Đức đã đưa ra một giải pháp thay thế từ Âu châu, hiệu quả hơn nhiều so với Starship, dựa trên một khái niệm tái xử dụng khác biệt.

Để chứng minh điều này, các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Hàng không Không Gian Đức (DLR) đã phân tích dữ liệu đo đạc từ xa (Telemetry) công khai của 4 chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của Starship. Nghiên cứu của họ, được công bố trên tạp chí *CEAS Space Journal*, cho thấy các mẫu hiện tại của Starship có thể đưa khoảng 59 tấn hàng hóa lên quỹ đạo Trái đất tầm thấp ở chế độ tái xử dụng hoàn toàn. 

Con số này tương đương với năng lực của hỏa tiễn Falcon Heavy ở chế độ xử dụng một lần. Một mẫu trang bị động cơ Raptor 3 có thể đạt mức 115 tấn ở chế độ tái xử dụng và lên tới 188 tấn ở chế độ xử dụng một lần.

Trái ngược với "gã khổng lồ" này, khái niệm RLV C5 của Âu châu áp dụng một cách xử dụng khác: đưa 70 tấn hàng hóa lên quỹ đạo với tổng khối lượng chỉ bằng 1/3 so với Starship. Với cấu trúc này kết hợp tầng đẩy có cánh, có khả năng tái xử dụng (từ dự án SpaceLiner) với một tầng trên xử dụng một lần. Sau khi tách tầng, tầng đẩy này sẽ lướt trong khí quyển và được một máy bay bay ở tốc độ cận âm bắt giữ ngay trên không trung. Phương pháp này loại bỏ nhu cầu mang theo nhiên liệu để thực hiện hạ cánh thẳng đứng, qua đó dành lại khối lượng cho tải trọng hữu ích.

Các số liệu về kết quả rất đáng chú ý. Starship nặng hơn gấp 3 lần so với RLV C5 tại thời điểm phóng, nhưng tỷ lệ tải trọng trên nhiên liệu, tính theo mỗi tấn nhiên liệu tiêu thụ để đạt tới quỹ đạo, chỉ ở mức 40% đối với chế độ tái xử dụng. Trong khi đó, RLV C5 đạt mức 74%. Sự khác biệt này bắt nguồn từ cấu trúc tái sử dụng một phần, giúp giảm bớt trọng lượng. Tuy nhiên, năng lực vận tải khổng lồ của Starship lại khiến nó trở nên lý tưởng cho các dự án quy mô lớn như xây dựng căn cứ trên Mặt trăng hoặc Hỏa tinh, nơi mà thể tích vận chuyển được ưu tiên hơn hiệu suất nhiên liệu. Đối với Âu châu, RLV C5 đại diện cho một bước đệm trung gian, tận dụng các kỹ nghệ đang được nghiên cứu trong khuôn khổ chương trình SpaceLiner. Điều này cho phép Âu châu sở hữu năng lực phóng hạng nặng độc lập mà không cần đầu tư ngay lập tức vào kỹ nghệ tái xử dụng toàn bộ hệ thống.

Phương pháp thu hồi bằng cách bắt giữ trên không có vẻ như đến từ tương lai, nhưng thực tế DLR đã nghiên cứu nó trong nhiều năm qua. Một chiếc mphi cơ cỡ lớn bay ở tốc độ cận âm sẽ thu giữ tầng đẩy ngay trong quá trình bay, nhờ đó loại bỏ được nhu cầu về khối lượng bổ sung như nhiên liệu dùng để hãm tốc. Mặc dù đầy thách thức về mặt kỹ thuật, phương pháp này dựa trên các khái niệm đã có sẵn và có thể được phát triển nhanh hơn so với một hệ thống có khả năng tái xử dụng hoàn toàn.

Một giải pháp thay thế từ châu Âu, hiệu quả hơn Starship

Như các tác giả đã lưu ý, RLV C5 mang lại một lộ trình hiệu quả để Âu châu có thể tự chủ phát triển năng lực phóng hỏa tiễn siêu hạng với khả năng tái xử dụng một phần. Tuy nhiên, Starship hiện đã bắt đầu bay thử nghiệm, dù vẫn còn những khiếm khuyết, trong khi RLV C5 mới chỉ tồn tại trên bản vẽ.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 19-6-2026

 NGHỊ SĨ ĐẢNG CẦM QUYỀN ĐỨC LO NGẠI  VỀ NHIỆM VỤ CỦA QUÂN ĐỘI ĐỨC TẠI EO BIỂN HORMUZ 

Berlin (tin dts) – Trong nội bộ "liên minh cầm quyền" (CDU/CSU và SPD), đang xuất hiện sự phản đối đối với kế hoạch của chính phủ liên bang về việc trình Quốc hội (Bundestag) phê chuẩn nhiệm vụ điều động quân đội Đức (Bundeswehr) tới Eo biển Hormuz trước kỳ nghỉ hè. Thông tin này được mạng lưới báo chí "Redaktionsnetzwerk Deutschland" (ấn bản ngày thứ Năm) đăng tải, dẫn nguồn tin từ liên minh cầm quyền.

Theo báo cáo, vào chiều thứ Tư 17-6, ông Géza Andreas von Geyr, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao và ông Sebastian Hartmann (thuộc đảng SPD) – Quốc vụ khanh Nghị viện tại Bộ Quốc phòng, đã trình bày kế hoạch này với các thành viên chủ chốt của Ủy ban Đối ngoại và Ủy ban Quốc phòng. Họ lý ​​giải cho tiến độ nhanh này bằng việc Đức muốn thể hiện cam kết đối với liên minh xuyên Đại Tây Dương trước thềm hội nghị thượng đỉnh NATO diễn ra vào ngày 7 và 8 tháng 7. 

Trước đó, Đức đã khai triển tàu rà phá thủy lôi "Fulda" và tàu tiếp liệu "Mosel" tới khu vực Đông Địa Trung Hải.

Trong buổi họp, các nghị sĩ thuộc khối Liên minh (CDU/CSU) và đảng SPD cho biết họ chưa biết rõ được về thỏa thuận đạt được giữa Mỹ và Iran. Hơn nữa, họ nhấn mạnh rằng các hành động thù địch giữa các bên liên quan phải chấm dứt hoàn toàn và sự an toàn của binh sĩ Đức phải được bảo đảm. Để làm được điều này, họ cần biết những quốc gia nào khác sẽ tham gia và họ sẽ đóng góp những nguồn lực quân sự nào. Cuối cùng, họ lập luận rằng một cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc cùng sự đồng thuận của Iran là những điều kiện tiên quyết để Quốc hội thông qua kế hoạch.

Trước đó, Thủ tướng Friedrich Merz (CDU) từng tuyên bố rằng chính phủ liên bang sẵn sàng bảo đảm một lệnh ngừng bắn hoặc đình chiến và đang soạn thảo văn bản quy định nhiệm vụ cho mục tiêu đó. Trước đây, quan điểm nhất quán của họ là cần phải có một thỏa thuận hòa bình và một nghị quyết ủy quyền từ Liên Hợp Quốc.

Hiện tại, chính phủ liên bang đề nghị lấy nghị quyết của Liên Hợp Quốc (do Bahrain đệ trình và được thông qua vào ngày 11 tháng 3) làm cơ sở cho sứ mệnh này. Qua đó, văn bản nghị quyết có đề cập đến Eo biển Hormuz ở một số đoạn và tái khẳng định rằng, theo luật pháp quốc tế, các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc có quyền "bảo vệ tàu thuyền của mình trước các cuộc tấn công và hành động khiêu khích, bao gồm cả những hành động xâm phạm quyền và tự do hàng hải." 

Tuy nhiên, trong nội bộ các nhóm nghị sĩ thuộc liên minh cầm quyền, vẫn tồn tại sự hoài nghi về việc liệu nghị quyết này có đủ cơ sở pháp lý hay không ?. Agnieszka Brugger, Phó chủ tịch nhóm nghị sĩ của đảng Xanh, trước đó đã tuyên bố rằng họ sẽ không trao cho chính phủ một "tấm séc trắng".

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 19-6-2026