NGÀY CUỐI THÁNG TƯ 1975 TẠI BỘ TƯ LỆNH HẢI QUÂN VÀ DANH SÁCH CÁC TÀU CHIẾN CỦA VNCH DI TẢN TỚI PHILIPPINEN

Đoàn tàu của Hải quân VNCH đã rời đất mẹ VN bắt đầu chuyến hải hành cuối cùng đã khởi hành từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở đường Cường Để, bến Bạch Đằng trên sông Sài Gòn lúc 7:00 giờ tối ngày 29 tháng 4 năm 75, các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã tập trung lại tại Côn Sơn vào chiều ngày 30 tháng 4. 

Hạm đội khởi hành đi Subic Bay, Phi Luật Tân trưa ngày 1 tháng 5 và đến Phi Luật Tân vào chiều ngày 7 tháng 5.

Trên HQ 3 tức Tuần dương hạm Trần Nhật Duật , ngoài Hạm trưởng là HQ Trung tá Nguyễn Kim Triệu và thủy thủ đoàn, có thêm thành phần BTL/HQ gồm các tướng theo thứ tự thâm niên: Phó Đô đốc Chung Tấn Cang, Phó Đề đốc Đinh Mạnh Hùng, Phó Đề đốc Diệp Quang Thủy, Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh và HQ Đại tá Nguyễn Xuân Sơn. Về sau, có Phó Đề đốc Đặng Cao Thăng đến từ Vùng 4 Sông ngòi, Phó Đề đốc Nghiêm Văn Phú từ Lực lượng Tuần thám. Lệnh khởi hành đi Phi Luật Tân từ Phó Đô đốc Cang, ông đã quyết định  cho lệnh khởi hành di tản ngay sáng ngày 1 tháng 5. 

CON TÀU HQ.601 

HQ 601 là con tàu HQ có nhiệm vụ đưa tư lệnh Hải Quân rời Sài gòn ra tới Vũng Tàu an toàn vào hồi 2 giờ sáng ngày 30-4, hạm trưởng là Đại Úy Trần Minh Chánh con Đô Đốc Trần văn Chơn, mục tiêu là đưa các chỉ huy BTL/HQ ra Vũng Tàu tìm tầu lớn để di tản.

HQ.601 QUAY VỀ SAU KHI CHUYỄN NGƯỜI SANG HQ.3

HQ.601 đưa Tư Lệnh HQ.VNCH ra khơi rồi chuyển NTL/HQ sang Tuần Dương Hạm Trần Nhật Duật HQ 3 an toàn. 

HQ 3 do hạm trưởng HQ Trung Tá Nguyễn Kim Triệu chỉ huy. HQ 3 rời Sài Gòn lúc 7 giờ tối 29-4, trên chiến hạm có các Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng và Hoàng Cơ Minh. 

Với sự hiện diện của TL/HQ, Tuần Dương Hạm Trần Nhật Duật trở thành soái hạm trong suốt chuyến hải hành qua Subic Bay. 

HQ.601 và Đại úy Trần Minh Chánh sau khi đưa tiển chỉ huy BTL/HQ an toàn sang HQ.3 , đã quay trở lại để rước gia đình là Đô Đốc Trần Văn Chơn, khi chiến hạm HQ.601 từ từ vào tới thương cảng Sài Gòn thấy trên bờ có nhiều chiến xa của giặc cộng. Một chiến xa trên bờ của giặc cộng đã khai hỏa bắn vào HQ 601 nhưng không trúng. Khi vào tới quân cảng, hạm trưởng Chánh bước ra khỏi đài chỉ huy Đại úy Chánh thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ trên kỳ đài không còn nữa, Sài Gòn đã hoàn toàn bị giặc chiếm đóng!

HQ 601 vào cập cầu C mũi thượng giòng, cạnh Tạm Trú Hạm 9051. Hạm trưởng Chánh ra lệnh tháo “lỗ lù” (valve de coque) để nước ngập làm chìm tầu. Ông vẫn mặc quân phục xanh, không lon, không mũ đi bộ về nhà cách đó không xa trên đường Cường Để. Mấy tên Việt Cộng mang dép râu đội nón cối trắng, quần xanh, áo trắng xọc xanh, từ trên bờ ào xuống tầu vơ vét hôi của. Gia đình vui mừng đoàn tụ chưa được bao lâu, đã lại vương sầu chia ly vì Đô Đốc Chơn và hạm trưởng Chánh đều vào tù Việt Cộng (cha 12 năm, con 7 năm).

Nhìn chung, trong ngày hạm đội rời Sài Gòn vào cuối tháng tư đen, nhiều chiến hạm ra khơi an toàn rất đáng ca ngợi. Riêng đặc biệt HQ 601 nhỏ nhất nhưng lại đảm nhiệm công tác "soái hạm" quan trọng và nặng nề nhất, đưa TL/HQ ra khơi. 

Trong hoàn cảnh vô cùng tế nhị và khó khăn, hạm trưởng HQ 601 đã hoàn tất chu đáo nhiệm vụ, rồi sau đó mới quay tầu trở về, ở lại với cha già, đúng là “trung hiếu vẹn toàn”. Ông đã thể hiện tinh tinh thần Kỷ Luật, Danh Dự và Trách Nhiệm ở mức độ cao nhất. HQ 601 "Tiên Mới" tuy nhỏ, nhưng HQ Đại Úy Trần Minh Chánh xứng đáng được coi như vị hạm trưởng có tầm vóc “lớn” trong đêm hạm đội ra khơi.

DANH SÁCH CÁC CHIẾN HẠM VNCH TỚI ĐƯỢC PHI SAU 30.4.1975

Cuộc di tản của Hải Quân VNCH sau ngày 30.4.1975 đã di tản sang Phi Luật Tân ít nhất là 30 chiếc và sau đó đã được xung vào hải quân nước này. Các chiến hạm VNCH sau khi di tản đến Phi Luật Tân được ghi nhận như sau:

*1 khu trục hạm Trần Hưng Đạo HQ 1 (chuyển thành BRP Rajah Lankandula-PS-4);sau đó đã trở thành soái hạm của Phi 

* 5 tuần dương hạm (WHEC):  Trần Quang Khải HQ 2 (thành BRP Diego Silang PS-9); Trần Nhật Duật HQ 3 (tuy được chuyển giao cho HQ Phi nhưng bị phế thải để lấy các cơ phận thay thế dùng sữa chữa cho các chiến hạm khác của HQ Phi); Trần Bình Trọng HQ 5 (thành BRP Francisco Dagohoy PF-10); Trần Quốc Toản HQ 6 (cùng số phận như HQ 3); Lý Thường Kiệt HQ 16 (thành BRP Andres Bonifacio, PF-7); Ngô Quyền HQ 17 (thành BRP Gregorio del Pilar PF-8);

*5 Hộ tống hạm (PCE): Đống Đa II HQ 07 (thành BRP Sultan Kudarat PS-22); Chi Lăng II HQ 08 (thành BRP Magat Salamat PS-20); Chí Linh HQ 11 (thành BRP Datu Tupas PS-18); Ngọc Hồi HQ 12 (thành BRP Miguel Malvar PS-19); Vạn Kiếp HQ 14 (thành BRP Datu Marikudo PS-23).

* 5 Dương vận hạm (LST): Cam Ranh HQ 500 (thành BRP Zamboanga Del Sur LT-86); Thị Nại HQ 502 (thành BRP Cotabato Del Sur LT-87); Nha Trang HQ 505 (thành BRP Agusan Del Sur LT-54); Mỹ Tho HQ 800 ( thành BRP Sierra Madre LT-57); Cần Thơ HQ 801 (thành BRP Kalinga Apayao LT-516)

*1 Cơ Xưởng hạm (ARL): Vĩnh Long HQ 802 (thành BRP Yakal AR-617)

*3 Hải vận hạm (LSM):  Hát giang HQ 400 (thành BRP Western Samar LP-66); Hàn giang HQ 401 (dùng lấy cơ phận); Hương giang HQ 404 (thành BRP Batanes LP-65) 

*3 Trợ chiến hạm (LSSL): Đoàn Ngọc Tảng HQ 228 (thành BRP La Union LF-50); Lưu Phú Thọ HQ 229 (HQ Phi dùng để lấy cơ phận thay thế sử dụng cho các chiến hạm khác); Nguyễn Đức Bổng HQ 231 (thành BRP Camarines Sur LF-48)

 * 3 Giang pháo hạm (LSIL): Thiên kích HQ 329; Lưu công HQ 330;  Tầm sét HQ 331

 * 2 Hỏa vận hạm (YOG), tức sà lan tự hành để chở dầu: HQ 470 và HQ 471

 *1 Tuần duyên hạm (PGM): Hòn trọc HQ 618 (thành BRP Basilan PG-60)

Ngoài ra, còn một số tàu khác như trợ chiến hạm Nguyễn Ngọc Long HQ 230 BRP Sulu LF-49, HQ 474…

Trong số các tàu chiến lớn có hai tàu khu trục hộ tống lớp lớp Edsall là HQ-1 Trần Hưng Đạo và HQ-4 Trần Khánh Dư. 

Chiếc HQ-1 được Philippines sửa chữa nâng cấp (bỏ tháp pháo 76mm và thay bằng 2 tháp pháo 127mm) và chính thức đưa vào trang bị tháng 7/1976 với cái tên mới BRP Rajah Lakandula (PF-4). 

Từ năm 1981-1988, BRP Rajah Lakandula trở thành soái hạm Hải quân Philippines. Con tàu chủ yếu tham gia nhiệm vụ tuần tra bảo vệ biển, thực hiện công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển.

Năm 1988, con tàu loại ra khỏi lực lượng hải quân Ühi và được sử dụng như doanh trại nổi vịnh Subic tới năm 1999 thì bị phá dỡ.

Trong Hải quân VNCH còn có 7 tàu chiến lớp Casco  được coi là những tàu lớn nhất “tuần dương hạm”.

Trong 6 chiếc lớp Casco, Philippines chỉ dùng 4 chiếc còn lại 2 chiếc được tháo dỡ lấy phụ tùng. Khinh hạm BRP Andres Bonifacio (PF-7) thuộc lớp Casco, tên cũ trong Hải quân VNCH là HQ-16 Lý Thường Kiệt.

Giai đoạn 1991-1993 và năm 2003, cả bốn tàu lần lượt bị tháo dỡ.

Hầu hết các tàu chiến cỡ lớn của VNCH trong Hải quân Philippines đều bị loại bỏ vào những năm 1990 nhưng vẫn có một số ít được hoạt động tới tận ngày nay. Tính đến năm 2012, chỉ còn 7 chiếc trong số này còn hoạt động trong lực lượng hải quân Phi nhu:

Dương Vận Hạm LST: Cam Ranh HQ 500, Thị Nại HQ502, Cần Thơ HQ 801, Cơ xưởng hạm Vĩnh Long HQ.802.

Phi Luật tân là quốc gia hạnh phúc được may mắn bất chợt nhận được một số lớn chiến hạm đũ loạt trong ngày 7.5.1975 từ phía VNCH mà không phải tốn một khoảng tiền chi phí nào. 

Tổng hợp từ Hậu Duệ VNCH Lê Kim Anh 09.04.2021

  VƯƠNG ĐÌNH HUỆ CÓ HỌC GIỎI GIANG NHƯ TRUYỀN THÔNG GIA NÔ LOAN TIN??

Chiều 30/3/2021 vừa qua Quốc hội khóa 14 đã tiến hành thủ tục bỏ phiếu miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội đối với bà Nguyễn Thị Kim Ngân 66 tuổi về nghỉ hưu. Theo thủ tục, Quốc hội Việt Nam vừa tiến hành miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia đối với bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Sau việc miễn nhiệm bà Ngân, thì sẽ tiến hành việc giới thiệu ông Vương Đình Huệ - Bí thư Thành uỷ Hà Nội để bầu Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia,  qui trình đưa Vương Đình Huệ vào vị trí CT Quốc Hội không gây ngạc nhiên cho những người quan tâm việc đảng cộng sản giành quyền xào nấu 4 vị trí lãnh đạo, được gọi là  tứ trụ của nước chxhcnvn - một việc mà đảng cho là bí mật quốc gia, nhưng người dân và phe phản động đã biết trước từ nhiều tháng về trước.

Đúng theo thủ tục, UBTV Quốc hội đã trình và giới thiệu ông Vương Đình Huệ làm Chủ tịch quốc hội khóa 15 và bầu ông Huệ vào chức danh Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia.

Đặc biệt trong lần này, Vương Đình Huệ được Ban Tuyên Láo và truyền thông gia nô của đảng tâng bốc đến tận mây xanh về sự học hành giỏi giang của Vương Đình Huệ từ lúc nhỏ (?!). Thật ra, việc tâng bốc này đã bôi bác cái gọi là hệ thống tuyên truyền của đảng cs gồm: Ban Tuyên Láo, hệ thống truyền thanh, truyền hình cũng như 800 tờ báo gia nô. Vì đã làm người dân bật ngửa vì tài học uyên bác của Vương Đình Huệ.

MÙI TÂNG BỐC VƯƠNG ĐÌNH HUỆ HÔI QUÁ!

Ngoài tài học giỏi theo như lời đảng tuyên truyền, Vương Đình Huệ còn được đảng biểu dương thành tích như là thần đèn Aladin đang dang rộng cánh tay ra để cứu độ cho đảng csvn:

1.Dấu ấn của tân Chủ tịch Quốc hội qua những trọng trách công tác, thể hiện rất rõ bản lĩnh, tầm nhìn và tư duy đột phá của một nhà lãnh đạo kiến tạo trong nhiều “tâm bão” (?!)
2. Dấu ấn thứ hai mà hệ thống truyền thông đảng tung hê cho Vương Đình Huệ là "Sóng cả vững tay chèo" (?!)...còn nhiều nửa, từ từ sẽ lần lượt được chúng tôi phân tích tiếp

Ban Tuyên Láo và hệ thống truyền thông đảng còn bla..bla nhiều về VĐH, đó là chuyện của đảng. Hậu duệ VNCH vùng nam Đức sẽ phân tích về thần đồng tài học không địch thủ này của đảng csvn, và tài học bắc đẩu của Vương Đình Huệ.

Theo như báo Đất Việt Online, ngày thứ Hai, 26/09/2011 (lúc Huệ mới lên làm Bộ Trưởng Bộ Tài Chính năm 2011) : Tiết lộ thú vị... 'làm nên' Bộ trưởng Vương Đình Huệ . Nguồn:https://datviet.trithuccuocsong.vn/kinh-te/tiet-lo-thu-vi-lam-nen-bo-truong-vuong-dinh-hue-2250494 Trích nguyên văn: Thầy giáo Hoàng Văn Thái- Hiệu trưởng Trường THPT Nghi Lộc 1- là người bạn học những năm cấp 3 với Vương Đình Huệ, cho biết: "Huệ học giỏi không những nổi tiếng ở Nghi Lộc mà cả tỉnh Nghệ An. Năm lớp 10 (năm 1974), lúc đó cả tỉnh đang khó khăn mà nó vẫn được tỉnh Nghệ An tặng cho chiếc xe đạp về thành tích học tập thì phải biết độ siêu về học hành của nó thế nào rồi. Bây giờ dạy học trò, chúng tôi vẫn nhắc nhở các em về tấm gương Vương Đình Huệ”.Nói về việc học của con trai Vương Đình Huệ, bà Cầm chỉ vào góc nhà phía tây nhớ lại: "Huệ nó chăm học lắm, có nhiều lúc nó chong đèn học thâu đêm. Những khi đèn dầu hết, nó học nhờ ánh trăng và bắt chước người xưa bắt đom đóm bỏ vào quả cà rỗng để học. Có hôm nó học khuya quá, thương con, nhà còn nắm gạo, tui nấu cháo cho nó nhưng nó không chịu ăn. Nó bảo mẹ ăn đi mà lấy sức, con không đói đâu. Nó bê cháo đến nài cho mẹ ăn làm tui cảm động cứ ôm lấy con mà khóc”. Hết trích!

Như vậy trong lịch sử tứ trụ triều đình VN, có hai thần đồng chăm học, bằng đèn đôm đóm đó là: cố chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tân Chủ tịch QH Vương Đình Huệ. Với thành tích này, trên thế giới nếu hai ông này được xếp hạng nhì chắc không ai dám tranh ngôi hạng nhất. Cảm ơn hang Pắc Bó đã sản sinh được hai nhân tài xuất chúng thuộc loại hàng hiếm trên thế giới. Mời xem chi tiết về đèn đom đóm của TĐQ và VĐH nơi: http://lybichthuy.blogspot.com/2020/07/van-hoa-en-noi-cac-linh-ba-trong-suot.html

Căn cứ vào lý lịch, được các sử gia đỏ ghi trong Wikipedia, Ông Vương Đình Huệ sinh ngày 15.3.1957 ông này từ khi vào học lớp 3 trường làng chài Xuân Lộc, xã Nghi Xuân, rồi tới khi học xong lớp 10/10 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An năm 1974, tức là VĐH tốt nghiệp THPT hệ 10/10 lúc 17 tuổi.

Học xong hệ lớp 10/10, VĐH thất học, có thể đã đi chài lưới phụ gia cảnh nghèo hèn(?!) vì từ năm 1974 tới năm 1979, không thấy ghi VĐH đi học trường nào??. Mãi tới  đầu tháng 9/1979 mới bước vào đại học Tài Chính. Không biết ông này học cái giống gì ở Đại Học Tài Chính mà mất tới 6 năm 1979 tới 1985, trong khi chương trình cử nhân chỉ cần 4 năm? Vậy mà VĐH phải chong đèn đom đóm tới 6 năm để hoàn thành bậc cử nhân, như vậy là học NGU chứ giỏi giang gì?

Một sinh viên ở Âu Châu, không thể bước vào học đại học khi mới học hết lớp 10 trung học. Chắc chắn sẽ không một trường Đại học nào nhận, trừ những đứa trẻ đặc biệt  thông minh, xuất chúng, thần đồng...

Trích nguyên văn từ Wikipedia về đường học vấn của VĐH như sau:

Nguồn:https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%C3%ACnh_Hu%E1%BB%87#:~:text=Ng%C3%A0y%2021%2F2%2F2020%3A,%2C%20nhi%E1%BB%87m%20k%E1%BB%B3%202020%2D2025.

Căn cứ vào lý lich của Vương Đình Huệ, tới năm 28 tuổi Huệ mới tốt nghiệp đại học Tài Chính ở VN. Thứ cử nhân 28 tuổi của VĐH, ở các nước cường quốc tư bản Âu Châu, là loại già vất đi rồi. VĐH đúng là thằng chột trong đám mù lãnh đạo ở VN.

Một cử nhân hay kỹ sư ở miền nam VN trước năm 1975, mặc dù chiến tranh nhưng không có hệ 10/10 mà chỉ có hệ 12/12, các lứa tuổi 22 tới 24 là đã tốt nghiệp cử nhân, kỹ sư, giáo viên cấp III...nhiều như rạ. Điều này, có thể hỏi thực hư nơi cựu CTN Nguyễn Minh Triết hay người mẩu 300 chiếc áo dài Nguyễn Thị Kim Ngân để có thể biết sự thật về nền giáo dục của VNCH ra sao??, vì hai người này có học ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, là sinh viên ở miền nam trước 1975.

Nếu được gọi là giỏi, đáng được kính trọng, thì VĐH phải học làm sao như Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường (1909 –1997là một luật sư, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học VN. Năm 23 tuổi (1932) ông đỗ liên tiếp hai bằng Tiến sĩ tại Pháp, còn như VĐH không đáng xách dép cho ông Nguyễn Mạnh Tường. Rất tiếc!vì quá giỏi nên cụ Tường bị đảng vất ra lề đường vì ganh tị với tài học uyên bác của ông. Nhìn cái học của VĐH , để so sánh với lại một vài lãnh tụ khác như:

*Bà Thái Anh Văn, Tổng Thống Đài Loan, năm 22 tuổi đã tốt nghiệp cử nhân, năm 24 tuổi đậu Thạc sĩ và 4 năm sau tức 28 tuổi đã lấy được học vị Tiến sĩ trường Kinh Tế Khoa Học Chính Trị Luân Đôn.

*Ông Wolfgang Schäuble, hiện là Chủ Tịch Quốc Hội Liên Bang Đức hoàn thành tiến sĩ luật năm 1971 (28 tuổi).

Trong khi Vương Đình Huệ ở tuổi 28 mới lộn được cái bằng cử nhân trong lưng quần, vậy mà truyền thông gia nô của đảng tâng bốc là một học sinh giỏi (?!). Đúng là tài bố láo nhất vũ trụ của băng đảng Mafia csvn và đám truyền thông gia nô. Đám này, là đám trời sinh ra không có dây thần kinh thẹn và xấu hổ.

Nói một cách trung thực, học như Vương Đình Huệ là loại ngu đần, chứ giỏi cái con khỉ khô gì. Còn phó TS của VĐH, nếu có học và tốt nghiệp thực sự, thì chỉ xử dụng được ở các nước trong hệ thống XHCN. Xách bằng phó TS của VĐH đem qua các nước tư bản phương tây , không kiếm được một việc làm để dung thân.

Đảng chỉ lòe được người dân VN và đám bần cố nông trong đảng về sức học của ông Tân CT Quốc Hội chxhcnvn.

GIA THẾ VƯƠNG ĐÌNH HUỆ:

Được biết truyền thông gia nô còn tung hê Vương Đình Huệ là một trong những Chính trị gia có ít tai tiếng nhất trên MXH cũng như trên báo chí sau ông Phạm Bình Minh (?!). Ông Vương Đình Huệ hiện nay có 1 vợ và 2 con:
1. Vợ ông Vương Đình Huệ là bà Nguyễn Vân Chi sinh năm 1966 cùng quê Nghệ An, hiện bà Chi là đại biểu Quốc hội khóa 14, là Ủy viên thường trực ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội, Phó Chủ tịch Nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Adécbaigian.

2. Con trai Vương Hoàng Phương hiện đương kim thường trực Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Nơi công tác Trung ương đoàn thanh niên cùng cơ quan với Nguyễn Minh Triết con trai cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
3. Cô con gái Vương Hà My, sinh năm 2000, hiện đang theo học tại trường đại học Oberlin College ở tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ.
Trường đại học Oberlin College là một trường đứng Top 26 trong hệ thống Giáo dục Khai phóng (Liberal Art Colleges) có mức học phí 56,822 USD/năm.
Trường có thế mạnh rất lớn ở Âm nhạc, trường còn thu hút học sinh bởi các chuyên ngành: Hóa Sinh, Neurosciences, Môi trường, Chính trị ... Điều đặc biệt nhất ở Oberlin đó là chương trình học Experimental College (ExCo).


Ttrường Oberlin College mà Vương Hà My đang theo học có xấp xỉ 100 du học sinh người Việt Nam, đa số là con các quan tham ở miền Bắc đang theo học. Học phí của trường này trị giá 47.600 USD/năm (1,8 tỷ đồng). Hiện tại Vương Hà My đang theo học tại đây nhưng không ở trong ký túc xá của trường mà Hà My có nhà riêng, có xe riêng tự lái hàng ngày tới trường.
Trong giới quan chức cộng sản Việt Nam không chỉ riêng con gái của ông Vương Đình Huệ đi du học ở nước ngoài đặc biệt là ở Mỹ, kể cả con trai ông Nguyễn Xuân Phúc là Nguyễn Xuân Hiếu cũng từng học ở Mỹ và hiện nay đang làm ở VCCI, con gái ông Võ Văn Thưởng hiện nay cũng đang theo học tại Mỹ, hay hai cậu con trai của cựu Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung hiện nay đang theo học tại nước tư bản giãy chết này.

Gia đình VĐH thì có hai đời lào thông học thuyết Marx Lênin, tận tình chống Mỹ cứu nước (bố con VĐH), để rồi ngày nay tới đời con gái VĐH, thì lại đu càng qua Mỹ để học ở nước đại tư bản đang giãy chết đành đạch. Người dân thật không hiểu VĐH đã dạy con gái mình là Vương Hà My như thế nào? để rồi hôm nay đã trở thành phản động.

Đời ông và bố của Vương hà My cả một đời chống Mỹ, con gái VĐH, thì từ lúc còn trẻ đã biết chạy theo bám chân đế quốc Mỹ để kiếm bơ thừa canh cặn...như vậy là tấm gương tốt, tiêu biểu cho các đầu lĩnh Pắc Bó và đám quan tham trong đảng csvn.
XEM THÊM:

1.Ai nâng đỡ Vương Đình Huệ
2. Vương đình Huệ muốn làm vua?
3. Tiểu sử VĐH:

Tổng hợp từ Hậu Duệ VNCH Võ Thị Linh 08.04.2021

THÁNG TƯ ĐEN BUỒN

“Đạn bay, nợ trả hồn sông núi
Kiếm gãy, ơn đền chuyện sử xanh”
Hào Kiệt Phương Nam - Hải Quân Trung Tá VNCH Hà Ngọc Lương
Anh dũng tự sát cùng vợ và 3 con tại Nha Trang
Hải Quân Trung Tá Kỹ Sư Hà Ngọc Lương sinh năm 1937 tại Hà Nội, cựu học sinh trường Trung Học Nguyễn Trãi, Hà Nội và Trung Học Chu Văn An, Sài Gòn, cựu sinh viên Đại Học Khoa Học Saigon. Vì lòng yêu nước tràn đầy, ông đã rời bỏ giảng đường để ghi tên vào Khóa 9 (Ðệ Nhất Nhân Mã) Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Liên tiếp trong 3 kỳ thi Alfa, Chuẩn Úy, và Mãn Khóa, ông đều đậu Thủ Khoa, nên được các chiến hữu mến mộ. Xem thêm khóa 9 đệ nhất Nhân Mã: https://groups.google.com/g/70ab/c/ImqgTfmNiVI

Sau khi mãn khóa vào tháng 05 năm 1961 với cấp-bậc Thiếu-Uý, ông đã phục vụ tại Hộ Tống Hạm Vân Đồn, Hộ Tống Hạm Đống Đa II. Sau đó, ông đi du học Hoa Kỳ, và trở về làm Hạm Trưởng Tuần Duyên Hạm Diên Hải, Hạm Trưởng Trợ Chiến Hạm Linh Kiếm, rồi về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, phục vụ tại Khối Quân Huấn.
Ông đi du học Hoa Kỳ lần thứ hai và tốt nghiệp bằng Kỹ Sư Cơ Khí, trở về, ông được bổ nhêm làm Quản Đốc công tác sửa chữa chiến hạm tại Hải Quân Công Xưởng. Sau cùng, ông làm Giám Đốc Quân Huấn, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.
Ngày 4/4/1975, khi Nha Trang di tản vào Saigon, theo gương Phan Thanh Giản, Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương cùng phu nhân, Bà Lê Thị Kỳ Duyên, và 3 con đã tuẫn tiết ngay tại Phòng Văn Hóa Vụ.
Điều đau lòng nhất là khi bọn cộng sản đến tiếp thu, thấy 5 thi hài trong Phòng Văn Hóa Vụ, bọn chúng đã độc ác cho chôn vùi tạm bợ trên một mô đất cạnh bờ biển. Hải Quân Thiếu Tá Hà Tấn Thể đã cùng với vợ chồng Giáo Sư Lê Quốc Khánh và một đàn em, bốc mộ lên, tẩm liệm và đặt áo đại lễ cùng mũ Sĩ Quan trong quan tài người Anh Hùng rồi đem đi chôn tại nghĩa trang nằm dọc hai bên Quốc Lộ 1.
Để ghi dấu công ơn người Anh Hùng Việt Nam, chỉ có một tấm biển gỗ mang dòng chữ: “Nơi an nghỉ của gia đình Hà Ngọc Lương – Lê Thị Kỳ Duyên”.
***
Sáng ngày 01/4/1975 tại Cư Xá Sĩ Quan Hải Quân đường Lê Văn Duyệt, Nha Trang.
Trung Úy Gia vừa ngừng xe trong sân cư xá nói to:
– Di tản! Lệnh Đô Đốc: di tản vào Sàigòn!
Phu quân tôi (HQ Thiếu Tá Hà Tấn Thể, Khóa 12 Đệ Nhất Song Ngư) bước vội ra cửa. Hình như anh không muốn lệnh di tản đến sớm như vậy nên anh hỏi:
– Ngay bây giờ?
– Vâng, ngay bây giờ. Gia đình nào còn sót, chưa đi kịp chiều hôm qua, mau lên xe tôi chở xuống bến cảng. Tàu sắp nhổ neo.
Tôi từ trong nhà bước ra, đứng bên cạnh phu quân tôi. Tôi cố thuyết phục anh lần cuối:
– Anh nên di tản một mình vào Saigòn ngay. Đây là chuyến xe chót về chở những gia đình nào còn sót lại. Nếu không, anh sẽ bị kẹt lại. bọn công sản tràn vào sẽ bắn chết anh. Tin đồn em nghe chắc sẽ có “trung lập”, khi ấy anh lại về với mẹ con em.
Giọng anh buồn, trầm hẳn xuống:
– Em mang thai gần ngày sanh, sợ chen lấn xuống tàu có thể chết cả mẹ lẫn con, không dám theo anh di tản. Nhưng anh nỡ lòng nào bỏ em và các con mà đi cho đành. Thôi anh chấp nhận ở lại. Thà sống cực khổ với chế độ cộng sản còn hơn là không có em và con trong cuộc đời. Anh đã nói với em nhiều đêm rồi.
– Nhưng bọn cộng sản vào sẽ bắn chết anh!
– Chắc không đến nỗi vậy đâu em. Nếu giết hết quân cán chính thì chúng nó sống với ai ở miền Nam này.
Nói tới đây, tôi thấy Trung Tá Hà Ngọc Lương, vợ và ba đứa con bước ra khỏi nhà. Trong tay anh chị Lương, mỗi người một xách tay nhỏ. Anh Lương nhìn thấy vợ chồng tôi đang đứng yên lặng buồn rầu trước cửa nhà, anh ngạc nhiên hỏi:
– Sao Thiếu Tá và chị còn đứng đây không lên xe? Các cháu và túi xách đâu?
Giọng buồn nhưng dứt khoát, anh Thể nói nhanh:
– Gia đình tôi ở lại, không di tản, Commandant!
– Tại sao?
– Như Commandant thấy đó, vợ tôi mang thai gần đến ngày sanh, sợ chen lấn xuống tàu có thể nguy hiểm đến tánh mạng cả mẹ lẫn con, không dám đi. Tôi quyết định ở lại với vợ con tôi. Thôi gia đình Commandant đi bình yên.
Chị Lương đứng gần chồng. Chị nói gì bên tai anh Lương, tôi nghe không rõ. Tôi chỉ nghe anh Lương đáp lời vợ giọng hơi gắt:
– Anh bảo em lên xe!
Chị Lương miễn cưỡng lên ngồi băng ghế sau với các con, nét mặt hờn dỗi. Tôi bước đến bên xe, nắm bàn tay chị. Giọng tôi hơi nghẹn lại vì xúc động:
– Thôi anh chị và các cháu đi an lành. Nghe đồn chắc sẽ trung lập. Hy vọng sau này chúng mình sẽ lại gặp nhau.
Chị Kỳ Duyên (nhủ danh của chị Lương) gượng cười, siết chặt tay tôi:
– Vâng, hy vọng chị em mình sẽ gặp nhau!
Bỗng tôi thấy Trung Tá Lương cho tay vào túi rút chùm chìa khóa quăng về phía phu quân tôi. Anh Thể chụp lấy. Cả hai không nói một tiếng nào. Chiếc xe lao ra cổng.
***
Quân đội miền Nam đang di tản chiến thuật. Nha Trang bỏ ngỏ, bọn cộng phỉ sẽ tràn vào đây trong chốc lát. Chúng tôi đi tạm trú chỗ khác vì lẽ ấy. Ngồi trên xe với chồng và các con, bên cạnh chỉ 2 túi xách nhỏ. Một, đựng vài bộ quần áo cho cả nhà và túi kia đựng áo trẻ sơ sinh, khăn lông, tã lót cho đứa con tôi đang mang trong bụng. Từ lúc lên xe, chúng tôi không ai nói một lời. Trong lòng mỗi người đều có những ý nghĩ và cảm xúc riêng tư không muốn nói ra.
Ngoài đường phố, dân chúng vội vã, tấp nập đi lại. Trên mặt người nào cũng lộ vẻ hoảng hốt lo âu. Đó là những dân lành đã trốn chạy cộng sản từ các tỉnh miền trung và cao nguyên đổ về. Nhìn cảnh màn trời chiếu đất họ đang gánh chịu, tôi không cầm được nước mắt. Tôi đưa tay lên gạt nhanh hàng nước mắt đang chảy tràn trên má. Nhìn lại mình, tôi cũng đang chạy trốn cộng sản như họ. Chỉ khác một điều: chúng tôi chạy đến một nơi có chỗ tá túc chớ không phải ở đường, ở chợ như họ.
Chiều và tối đêm đó có nhiều tiếng súng nổ. Không phải tiếng súng bắn nhau giữa hai bên. Đó là tiếng súng của bọn người vô lương tâm, lợi dụng thời gian chưa có chính quyền và luật pháp, đi cướp bóc của người dân. Chúng tôi nhìn nhau thở dài.
Hôm sau, trưa ngày 2/4/75, lũ cộng phỉ tiến vào thành phố Nha Trang. Xe tăng đi trước bộ đôi đi sau. Tưởng đoàn quân chiến thắng oai hùng lắm. Té ra chỉ là một lũ thổ phỉ ô hợp toàn trẻ con mới lớn, gầy ốm xanh xao vừa mới từ trong rừng rú chui ra. Ôi, nếu chẳng phải nhờ may mắn và viện trợ hùng hậu của khối cộng sản quốc tế quan thầy thì làm sao bọn thổ phỉ ốm đói từ phương bắc đó có thể vào được thành phố này một cách dễ dàng như vậy!
Sáng ngày 4/4/1975, gia đình tôi dắt díu nhau về lại Cư Xá Sĩ Quan Hải Quân Lê Văn Duyệt. Chúng tôi về trông coi đồ đạc trong nhà kẻo bọn trộm cướp cạy cửa lấy đi.
Vừa bước chân vô cư xá, tôi cảm thấy rờn rợn thế nào ấy! Cách đây mấy ngày sân cư xá tưng bừng nhộn nhịp. Trẻ con chơi đầy sân, cười đùa vui vẻ. Giờ đây sao hoang vắng quá! Chúng tôi vào nhà, khóa trái cửa lại, dặn các con chỉ được chơi trong nhà, cấm không được mở cửa ra sân.
***
Trưa hôm sau, vừa về đến nhà, sau khi ra đường phố nghe ngóng tin tức, anh Thể nói với tôi:
– Anh vừa kéo dây kẽm gai cài cổng cư xá lại rồi đó em. Anh sợ bọn trộm cướp vào cạy cửa lấy trộm đồ đạc của các anh chị đã di tản. Nếu sau này, các anh chị về còn có quần aó đồ đạc dùng.
– Nhưng ban đêm khi chúng mình ngủ, chúng cạy cửa vào lấy trộm, làm sao mình giữ được hở anh?
– Ngoài khả năng của mình thì chịu chớ biết làm sao em!
Chợt nhớ ra, tôi nói với anh Thể:
– Ban nãy lúc anh đi vắng, có người vào căn nhà của anh Đặng Hữu Thân, chở đồ đạc đi.
Em tưởng bọn trộm cướp em sợ qúa. Nhưng em cũng thương anh chị Thân, sợ mất đồ đạc của họ, tội nghiệp. Em ráng lấy can đảm ra can thiệp. Thì ra đó là ông cụ thân sinh của anh Thân. Cụ xuống chở đồ đạc của anh chị Thân về cất giữ dùm cho con đó mà.
Anh Thể tỏ ý mừng:
– Vậy à! Vậy thì anh bớt trách nhiệm giữ nhà cho một người bạn cùng khóa.
Tôi trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi nói:
– Đồ đạc trong cư xá này nếu mất mát, mình không chịu trách nhiệm với ai cả. Nhưng với anh chị Lương, mình có phải có chút trách nhiệm. Khi đi, anh Lương quăng chùm chìa khóa cho anh. Tuy anh Lương không nói tiếng nào, nhưng mình phải hiểu là anh anh ấy gởi nhà cho chúng ta. Nay mai bọn cộng sản vào tiếp thu cư xá này, đồ đạc trong tất cả mọi nhà đều thuộc về tay bọn chúng nó. Sẵn có chìa khóa anh Lương đưa, chúng ta nên lấy cất dùm anh chị một ít đồ đạc. Mai kia anh chị Lương về lại Nha Trang, anh chị còn có ít đồ đạc dùng. Khi đi, em thấy anh chị chỉ đem theo có 2 túi xách nhỏ.
Anh Thể thoáng suy nghĩ rồi nói:
– Ừ, em tính vậy cũng phải. Mình nên cất giữ dùm anh chị một ít đồ dùng như quần áo và ít đồ có giá trị tiền bạc.
Chúng tôi đem về cất giữ dùm anh chị Lương: 1 xe Honda, 1 Tivi, 1 đàn organ, một quạt máy và một vali đựng quần áo, mỗi người vài bộ. Tối hôm đó chúng tôi cảm thấy rất vui vì chúng tôi đã làm một việc tốt cho bạn bè.
Trung Tá Lương là một người bạn được chúng tôi thương mến và kính trọng nhất trong Cư Xá Sĩ Quan Hải Quân Lê Văn Duyệt. Anh trầm lặng hiền lành ít nói. Anh gốc người Bắc, giọng nói dịu dàng trầm ấm. Anh là một sĩ quan tài hoa tuấn tú. Anh đã đậu Thủ Khoa, Khóa 9 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.
Sau khi đi du học Mỹ 2 năm, anh được điều về Trung tâm Huấn Luyện Hải quân Nha Trang, giữ chức Trưởng Phòng Văn Hóa Vụ. Chúng tôi mến anh vì nết, trọng anh vì tài. Anh Lương cùng họ Hà với anh Thể, nhưng không cùng chung một huyết thống. Hai anh chỉ là bạn, đúng ra là niên trưởng nhưng thương mến nhau như anh em trong nhà. Căn chung cư anh chị Lương và căn chung cư của chúng tôi ở cạnh nhau nên chị Lương và tôi thường xuyên qua lại với nhau.
Chiều ngày 5/4/75 trong lúc anh Thể ra ngoài nghe ngóng tin tức, tôi ở nhà với các con. Tôi đang nấu cơm dưới bếp thì có tiếng gõ cửa. Tôi bước lên mở cửa thì thấy một người đàn ông, trên mặt còn in nét kinh hoàng:
– Chào bà. Xin lỗi, ông nhà là sĩ quan làm việc trong Trường Sinh Viên Sĩ Quan NhaTrang phải không?
Tôi thận trọng, ngập ngừng:
– Xin hỏi.., ông là ai?
– Thưa bà, trước đây tôi là một người lính làm việc trong Trường Sinh Viên Sĩ Quan. Tôi vừa đến đó dò la tin tức thì tôi được biết một sĩ quan đã tự sát chết cùng với vợ và ba đứa con tại văn phòng Văn Hóa Vụ.
– Trời! Gia đình ai vậy, anh biết không?
– Thưa bà, tôi không nhận diện được ai vì xác chết đã sình lên. Ông ấy mang lon Trung Tá, ngồi chết gục trên ghế, vợ và các con nằm chết trên tấm thảm trải trên nền nhà.
Tôi kinh hãi kêu lên:
– Gia đình ai đã chết thảm như vậy hở trời! Phòng Văn Hóa Vụ, 3 đứa con …. chắc gia đình anh Lương!
– Thưa bà, tôi lên đây xem sĩ quan nào còn kẹt lại không. Nếu còn ở lại xin xuống nhận diện xem ai. Cùng là bạn bè, dễ nhận mặt nhau hơn.
– Nhà tôi, Thiếu Tá Hà Tấn Thể, còn kẹt lại. Anh ấy vừa di vắng. Khi nhà tôi về, tôi nói lại và anh ấy sẽ xuống sau. Cám ơn anh đã báo tin.
Người lính Hải Quân chào tôi rồi ra đi.
Anh Thể về, nghe tôi thuật laị, không chậm một giây, anh phóng Vespa ra cổng thẳng xuống Quân Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.
Vừa mở cửa văn phòng Văn Hóa Vụ của Trung Tá Hà Ngọc Lương, mùi tử khí của năm xác chết đã lâu ngày, tanh hôi nồng nặc đã làm cho anh Thể chóng mặt, buồn nôn, lảo đảo muốn té. Khắp người anh nổi da gà. Anh cố nén cơn buồn nôn, ráng giữ bình tĩnh, cố gắng tiến từ từ đến những người đã chết từ nhiều ngày trước.
Anh Thể chăm chú nhìn kỹ 5 xác chết. Xác đã sình, hơi khó nhận diện. Nhưng rồi anh cũng nhận ra. Anh Lương gục chết trên ghế, trong tư thế nửa nằm nửa ngồi, cây colt nằm gần bàn tay anh. Mặt anh Lương bị méo vì viên đạn đi xuyên qua. Mắt anh đã có dòi nhỏ đục khoét.
Chị Lương và 3 đứa con, nằm chết dưới tấm drap trải trên nền nhà. Tất cả đã bị bắn vào đầu. Có lẽ anh Lương đã bắn vợ con trong lúc họ đang ngủ. Trong phòng giấy tờ quan trọng của gia đình anh bị tung tóe vung vãi khắp nơi. Hai túi xách ngày anh mang theo, anh Thể không thấy đâu.
Vài người tò mò nhìn vào, nhưng mùi tanh hôi đã làm cho họ bước vội tránh đi.
Anh Thể phóng xe về báo tin cho tôi. Vừa nghe qua, tôi òa lên khóc nức nở:
– Trời ơi! sao lại chết thảm thế này! Tội nghiệp gia đình anh chị Lương qúa! Làm sao bây giờ đây anh?
Nãy giờ anh Thể ngồi hai tay ôm đầu gục xuống, nghe tôi hỏi, anh ngẩn đầu lên ôn tồn nói:
– Chúng ta phải chôn cất gia đình anh chị và các cháu, em à! Tình bạn bè, tình chiến hữu, chúng ta phải chứng tỏ trong lúc này. Anh biết thân nhân họ hàng anh Lương đều ở Saigòn. Nhưng bên chị Lương, có ai ở Nha Trang không em?
Nghe đến chữ họ hàng, tôi chợt nhớ ra. Tôi nói nhanh:
– A, chị Lương có người anh đang dạy tại Trường Võ Tánh, tên ông là Khánh.
– Vậy thì chúng ta tìm ông Khánh cho ông ấy biết tin ngay đi. Nhưng biết nhà ông Khánh ở đâu mà tìm đây?
– Việc ấy anh để em lo. Muốn tìm nhà thầy giáo thì phải hỏi học trò!
– Vậy em đi ngay đi! Còn phần anh, anh phải đi mua 5 cái hòm.
– Nếu tìm được ông anh chị Lương, anh sẽ phối hợp với ông lo việc chôn cất. Bằng không, chúng mình phải tự lo tất cả công việc thôi. Xác đang sình thối, phải chôn ngay mới được. Anh đi lo công việc đây!
Nói rồi anh Thể phóng vespa nhanh ra cổng.
Quá thương xót và hãi hùng cái chết của gia đình anh chị Lương, tôi quên mất mình đang mang thai gần ngày sanh, tôi phóng lên chiếc xe đạp mini lao đi tìm nhà ông Khánh. Dọc đường gặp em nào có dáng dấp học sinh, tôi đều dừng lại hỏi thăm nhà giáo sư Khánh đang dạy Pháp Văn tại trường Võ Tánh.
Sau gần một giờ tìm kiếm, tôi đã ở trong phòng khách nhà ông Khánh. Nhìn nét hãi hùng in trên mặt tôi, bà Khánh hỏi ngay:
– Chị đến đây chắc có việc quan trọng cần nói?
Tôi chưa kịp trả lời thì lúc đó ông Khánh từ phòng trong bước ra chào tôi. Tôi vắn tắt kể vụ tự sát của gia đình Trung Tá Lương. Vừa nghe qua ông Khánh đã oà lên khóc nức nở. Ông ôm đầu rên rỉ:
– Kỳ Duyên ơi, sao em lại bị chết thảm như vầy! Chú Lương ơi, sao chú nỡ bắn vợ con rồi tự sát như thế! Người ta sống được, mình sống được chớ! Cách đây một tuần chú nói với tôi “Nếu bọn cướp cộng sản tràn vào, em sẽ bắn vợ con rồi tự sát chứ em không sống với bọn nó đâu. Em đã lắp sẵn đạn trong khẩu Colt của em. Em thề không đội trời chung với bọn cộng sản”. Tưởng chú nói là nói vậy, ngờ đâu chú làm thật. Thảm thiết quá chú Lương ơi!
Trước hoàn cảnh này lòng tôi cũng đau xót lắm. Nhưng tôi cố gắng nuốt nuớc mắt chảy ngược vào trong, tôi ôn tồn an ủi ông:
– Xin ông bớt thương cảm. Dù ông có than khóc bao nhiêu, anh chị Lương và các cháu cũng không sống lại được. Xác đã sình chương, cần được chôn ngay. Anh Thể tôi đang đi mua hòm. Ông nên xuống ngay Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân cùng với nhà tôi lo việc chôn cất.
Khi anh Thể cùng ông bà Khánh xuống phòng Văn Hóa Vụ, nơi gia đình Trung Tá Lương đã tự sát, thì phòng trống trơn! Phòng đã được dọn dẹp, khử trùng sạch sẽ! Anh Thể hỏi tụi bộ đội vừa mới tiếp thu trường thì được biết bọn nó tưởng xác chết vô thừa nhận, sợ dơ dáy truyền nhiễm nên chúng nó đã dem chôn ngoài bãi cát bên cạnh bờ biển.
Anh Thể và ông Khánh nhờ một tên bộ đội dẫn đi chỉ chỗ những thi thể bọn bộ đội cộng phỉ vừa mới chôn. Nhìn 5 nấm mộ mới lấp đất sơ sài, anh Thể thương bạn qúa, anh không nỡ để bọn cộng phỉ chôn gia đình bạn anh một cách cẩu thả sơ sài như vậy. Vả lại 5 chiếc hòm đã chở xuống, không đặt họ vào đó nằm cho ấm áp, đau xót buồn tủi cho họ biết chừng nào!
Anh Thể bàn với ông bà Khánh, đào xác lên, tẩm liệm sạch sẽ rồi đem ra nghĩa trang Đồng Đế chôn cho mỗi người trong gia đình có được một nấm mồ. Ông bà Khánh nghe anh Thể hết lòng với gia đình em mình như thế, mừng qúa đồng ý ngay. Ông bà Khánh đã tìm thuê người dến giúp, nhưng lúc đó nước mất nhà tan rồi, ai cũng chán nản đến tận cùng con tim khối óc nên chẳng ai nhận lời cả. Vậy là việc đào xác lên rồi tẩm liệm chôn cất chỉ có anh Thể, ông bà Khánh và một cậu thanh niên nhỏ tuổi. Chắc là con hay cháu của ông bà.
Giáo sư Lê Quốc Khánh là một người đàn ông thể chất yếu đuối nhưng tình cảm thì chứa chan. Mỗi lần đào một xác lên, vừa trông thấy mặt là ông Khánh qúa xúc động, đứng không vững, ông ngã qụy xuống, ôm mặt khóc nức nỡ. Bà Khánh thì cứng rắn hơn chồng. Bà là một người đàn bà lanh lợi, tháo vác, quyền biến. Có thể nói bà là một phụ tá đắc lực cho anh Thể trong việc chôn cất tập thể này.
Trong lúc đào xác lên để tẩm liệm, anh Thể quá kính phục sự can đảm bất khuất của Trung Tá Hà Ngọc Lương, nên anh quyết định an táng niên trưởng anh như một Chiến Sĩ Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân. Anh Thể về mở tủ áo anh Lương, lấy bộ đại lễ binh chủng Hải Quân đem xuống mặc cho bạn.
Nhưng lúc đó xác anh Lương đã chương lên, mặc không vừa. Quần thì mặc được nhưng nút quần cài không được, áo thì quá nhỏ so với thân xác. Anh Thể đành đắp chiếc áo đại lễ có gắn nhiều huy chương lên thi thể bạn. Chiếc mũ cát cấp tá, anh trang trọng đội lên đầu niên trưởng anh.
Thời điểm đó, NhaTrang đã rơi vào tay bọn giặc cướp cộng sản bắc việt nên anh Thể không tìm đâu ra được Lá Cờ Tổ Quốc Vàng Ba Sọc Đỏ phủ lên quan tài anh Lương. Chiến hữu anh sống chiến đấu cho lá cờ nào, màu áo nào thì, khi bạn anh nằm xuống, phải được chôn theo màu cờ và sắc áo đó. It ra Trung Tá Lương phải được tẩm liệm với bộ đaị lễ Hải Quân để khỏi tủi vong linh người quá cố.
Trong lúc anh Thể về lấy bộ đại lễ của anh Lương, tôi đã đưa them một ít quần áo của chị Kỳ Duyên và các cháu, gởi anh Thể đem xuống để bà Khánh “bỏ theo” trong quan tài họ.
Trên 5 nắm mồ mới lấp đất, anh Thể đóng tấm gỗ tạp trên viết hàng chữ bằng sơn
“NƠI AN NGHỈ CỦA GIA ĐÌNH HÀ NGỌC LƯƠNG & LÊ THỊ KỲ DUYÊN”
Ông bà Lê Quốc Khánh rất cảm động về tình bạn giữa anh Thể và anh Lương. Khi công việc tạm xong, ông Khánh ngõ lời cám ơn anh Thể đã hết lòng hết dạ với gia đình người em gái và em rể ông. Anh Thể nghe vậy gạt đi, nói: “Nghĩa tử là nghĩa tận. Bạn bè cùng binh chủng, cùng đơn vị, chẳng giúp nhau vào lúc này thì còn lúc nào nữa đâu! Xin anh đừng nói đến lời cám ơn, chúng tôi buồn.”
Ngày 19-5-1984, (trước 2 ngày gia đình chúng tôi trốn đi vượt biên), anh Thể và tôi từ Cam Ranh ra Nha Trang, đến nghĩa trang Đồng Đế viếng mộ anh chị Lương lần cuối. Tôi đã òa khóc khi thấy 5 nắm đất thấp lè tè đầy cỏ daị. Tấm bảng gỗ anh Thể đóng ngày nào trên hàng mộ, nay đã ngã xuống mục nát tự bao giờ. Chín năm trôi qua rồi còn gì! Chín năm dưới ngục tù cộng sản, sắt còn phải chảy, đá còn phải tan, huống gì một tấm gỗ tạp!
Với nén nhang trong tay, tôi đã thì thầm tâm sự với chị Kỳ Duyên: “Gia đình chúng tôi đã không đủ can đảm và gan dạ như gia đình anh chị nên chúng tôi đã trải qua 9 năm khổ đau cùng cực và trăm bề tủi nhục. Nay chúng tôi quyết ra đi tìm tự do và tương lai cho các cháu. Anh chị sống khôn thác thiêng, xin phù hộ cho chúng tôi trót lọt trên bước đường vượt thoát đầy nguy hiểm này. Nếu bị bọn phỉ quyền bắt lại, chúng tôi chắc phải tìm lối thoát cuối cùng như anh chị chứ làm sao sống nổi với lũ quỷ đỏ khát máu và man rợ này. Thôi trời đã về chiều, chúng tôi phải về Cam Ranh cho kịp chuyến xe đò. Anh chị và các cháu hãy nằm yên an nghỉ…”
Tôi gục xuống nấm mồ hoang vu thấp lè tè đầy cỏ dại của chị Lương khóc nấc lên....
(Sài Gòn trong tôi/ Nguyễn Thi Thể Lý)
Thắp nén hương lòng tưởng nhớ anh
Gương người chiến sĩ sáng long lanh
Đạn bay, nợ trả hồn sông núi
Kiếm gãy, ơn đền chuyện sử xanh
Cầu Đá ngàn năm con sóng vỗ
Nha Trang muôn thuở biển vinh danh
Khi về bến cũ dừng chân vái
Dân trí kiêu hùng sẽ tiến nhanh!
Lối Thoát Cuối Cùng

SUU TẦM TRÊN MẠNG