Powered By Blogger

BẾN BẠCH ĐẰNG MỘT TRONG NHỮNG THẮNG CẢNH CỦA NGƯỜI SÀI GÒN TRƯỚC 1975

Bến Bạch Đằng trong ký ức của những tâm hồn hoài cổ của người Sài Gòn,  luôn là hình ảnh rất đẹp, nơi một góc trang trọng nào đó trong tâm thức, để họ có thể lưu lại một địa danh nổi tiếng với tên gọi là bến Bạch Đằng trước năm 1975.  Bến Bạch Đằng trong thời đệ nhất và đệ cộng hòa  ( 1955- tháng 4 năm 1975) là đoạn đường nằm dọc theo bờ sông Sài Gòn, kéo dài từ Hải Quân Công Xưởng (xưởng Ba Son) đến đầu con đường Hàm Nghi và nối tiếp với Bến Chương Dương. 

Bến Bạch Đằng chạy dọc đến hết địa phận Q.1 và giáp ranh với Q.5, đường này nối nối với Bến Hàm Tử, chạy theo hướng kênh Tàu Hủ vào quận 8 và đến cầu Chà Và.

Bến Bạch Đằng có diện tích lên đến hơn 20.000 m2, bao gồm bến cảng và công viên. Từ những năm sau khi được khánh thành và đưa vào hoạt động, nơi đây tập trung rất nhiều tàu thuyền từ các quốc gia khác nhau đến giao thương và phát triển kinh tế. Do thời bấy giờ đường hàng không, đường bộ và đường sắt chưa được phổ biến bằng đường thuỷ.

Nơi đây không chỉ là một bến cảng của các thương thuyền và cũng là nơi đặt trụ sở của Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH, vị trí nằm ngay khu vực của thủ đô miền nam VN, trước khi bị mất vào sự kiện tháng 4 năm 1975. Người Sài Gòn còn gọi nó là bến Tàu, tức là nơi để các thương thuyền cặp bến để bốc dở hàng hóa và còn là bến cặp của các chiến hạm Hải quân VNCH.

Nhắc đến bến Bạch Đằng trước 1975 là nhắc đến một địa danh rất đẹp của một Sài Gòn hiền hòa nhân bản, nơi thông thoáng, mát, với những trai thanh, gái lịch vào những dịp cuối tuần, đến đây để ngắm cái đẹp của một bến cảng quân sự và thương mại nổi tiếng của miền nam xưa. 

Bến Bạch Đằng, chạy dọc theo bờ sông Sài Gòn, rộng rãi, thoáng đãng, xưa từ thời Pháp thuộc, nơi đây là bến cảng thương mại nhộn nhịp bậc nhất ở miền nam. Dọc theo bên đường người ta còn thấy những hàng me, hàng cây dầu đứng trầm ngâm đổ bóng xuống mặt đường. Buổi chiều nơi bến Bạch Đằng, với những luồn gió mát từ sông thổi vào bờ sông hiu hiu mát, đủ làm dịu cái oi bức của thủ đô Sài Gòn trong những ngày hè nóng bức, làm dịu lòng du khách khi bước chân đến nơi đây để ngắm một góc cảnh đẹp của Sài Gòn xưa.


Ngược dòng thời gian về trước năm 1975, bến Bạch Đằng hiện diện như một bức tranh thủy mặc giữa lòng thủ đô của miền nam , phồn hoa , thanh lich với những nét chấm phá của bờ sông Sài Gòn, tàu thuyền quân và dân sự ra vào với cảnh tấp nập cất hàng hóa lên xuống từ các thương thuyền các nước.

Bến Bạch Đằng còn trong ký ức của những người lính Hải Quân VNCH, với những ngày phép hoặc  sau giờ làm giờ làm việc trong Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Vì nơi đây không chỉ là một bến cảng của thủ đô miền nam VN mà còn là nơi đặt bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH. Do đó sự hiện diện của những chàng thủy thủ và những người sĩ quan Hải quân là hình ảnh của một góc sinh hoạt nơi bến tàu Bạch Đằng. 

Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, là một tòa nhà uy nghi, quét vôi trắng được xây dựng theo kiến trúc Tây phương. Có huy hiệu mỏ neo và chữ Hải Quân Trại Bạch Đằng trắng nổi bật trên tấm bảng lớn màu xanh nước biển. Bộ Tư Lệnh Hải Quân trong trại Bạch Đằng này được xem là Bạch Đằng I. Cùng một con đường, nhưng đi sâu hơn vào bên trong là trại Bạch Đằng II, cũng được gọi là Trung Tâm Tạm Trú Hải Quân Sài Gòn. Nơi những khóa sinh tạm trú chờ khoá học hay binh sĩ chờ thuyên chuyển. Sau này Bạch Đằng II được dời về bên Kho Năm.


Những người lính Hải Quân trẻ trong bộ quân phục hải quân, với giầy đen bóng loáng, nón thì sạch sẽ ngay ngắn, bước ra từ cổng Bộ Tư Lệnh, ánh mắt sáng và nụ cười rộng mở. Họ đứng tựa lan can nhìn xuống dòng nước lững lờ trôi, nơi những chiếc ghe nhỏ, phà chở khách, tàu vận tải từ tốn qua lại nhịp nhàng. Phía bên kia sông là bến phà Thủ Thiêm, xanh mướt một màu cỏ non, thưa thớt mái nhà thấp, xa xa là rặng dừa, rặng bần soi bóng.

Buổi chiều, khi cái nắng gắt của Sài Gòn bắt đầu dịu lại. Những tiếng chát chúa như búa nện trên sắt từ cơ xưởng Caric, xưởng đóng các phà lớn ở miền nam, nằm bên kia sông thưa dần rồi im bặt. Bến phà cũng dần vắng khách qua lại. Bến Bạch Đằng trở thành nơi hội tụ của những tâm hồn tìm kiếm sự thảnh thơi. Đứng dưới chân Tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo uy nghi cao ngất nghểu tại công trường Mê Linh, người ta có thể cảm nhận rõ rệt những luồng gió mát nhè nhẹ thổi từ phía sông. Gió mang theo vị mặn mòi của biển xa, xua tan đi bao nhọc nhằn của một ngày dài. Nhìn sang bên kia bờ, bến Thủ Thiêm thời ấy vẫn còn là một vùng ngoại vi xanh mướt cỏ, rặng dừa nước soi bóng xuống dòng sông, tạo nên một dải lụa xanh mền mại  hoàn tòan đối lập với sự nhộn nhịp của  các sinh hoạt nơi Quận Nhất, một quận trung tâm của thủ đô miền nam xưa.


LỊCH SỬ BẾN BẠCH ĐẰNG


Bến Bạch Đằng là nơi cọ sát của các nền văn minh Tây phương với văn hóa Việt Nam khi chúa Nguyễn Hoàng tiến vào " Đàng Trong" để mở cõi phương Nam. 

Trở về quá khứ của những năm đầu thế kỷ 18, khi vùng đất Sài Gòn còn mang tên Gia Định, nơi đây đã còn lại một bến cảng quan trọng mang tên Bến Ngự. Được xây dựng vào thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Bến Ngự đóng vai trò là cửa ngõ giao thương chính của vùng đất phương Nam hiền hòa, nơi mà các thương gia từ khắp nơi quy tụ về đây để trao đổi hàng hóạ

Đén khi người Pháp đặt chân đến Sài Gòn vào giữa thế kỷ 19, họ đã nhận ra tầm quan trọng của vị trí này và tiến hành tái xây dựng với các công trình kiến trúc theo phong cách Tây Âu, trở thành một địa danh không thể thiếu trong chính sách phát triển của thủ đô miền nam với tên gọi Sài Gòn.

Những năm đầu thế kỷ 20, khu vực bến Bạch Đằng không chỉ phục vụ giao thông đường sông mà còn trở thành không gian giải trí, dạo chơi của người dân Sài Gòn. Hình ảnh "trên bến, dưới thuyền" đã trở thành nét đặc trưng gắn liền với nhịp sống của người Sài Gòn xưa

Vào thời Pháp thuộc, khi quy hoạch đô thị Sài Gòn, người Pháp đã xây dựng và phát triển bờ sông này, họ xây dựng bến cảng. Toàn bộ khu vực được chia thành nhiều bến, mỗi bến phục vụ một loại tàu thuyền khác nhaụ Khu vực từ cột cờ Thủ Ngữ đến công trường Mê Linh là nơi tàu thuyền trong và ngoài nước cập bến. Riêng khu vực từ Hải Quân Công Xưởng tức xưởng Ba Son, đến đối diện với tòa nhà Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH.

Con đường dọc bờ sông cũng đã từng mang những tên gọi khác nhau ở từng thời kỳ. Đoạn từ cầu Khánh Hội đến công trường Mê Linh năm 1865 mang tên Quai de Donnai, sau đổi là Quai Napoléon; năm 1870 đổi là Quai du Commerce; năm 1896 đổi là Quai Francis Garnier; ngày 26-4-1920 đổi là Quai le Myre de Vilers.
 
Đoạn từ công trường Mê Linh đến giáp công xưởng Hải Quân (nhà máy Ba Son), lúc đầu mang tên Quai Primauguet; ngày 26-4-1920 đổi là Quai d'Argonne. Năm 1955, Việt Nam Cộng hòa nhập 2 đường Le Myre Vilers và Argonne làm một và đổi tên là Bến Bạch Đằng, tên gọi Bến Bạch Đằng có từ đó.

Bờ bên kia sông Sài Gòn, đối diện trước tượng đức Thánh Trần, nơi công trường Mê Linh là bến phà Thủ Thiêm, nơi đón khách qua lại 2 bên bờ sông sông Sài Gòn. Một bến phà quan trọng, trong việc phục vụ việc đi lại của người dân 2 bên bờ sông Sài Gòn.









Bến Bạch Đằng nơi chất chứa một nhịp sống sinh động của người Sài Gòn xưa, nơi mà du khách có thể bắt gặp những hình ảnh của các chàng thủy thủ Hải Quân HQ.VNCH với chiếc nón trắng trên đầu, trong bộ quân phục màu trắng thẳng nếp, với nụ cười rạng rỡ sau những chuyến hải hành dài ngày. Họ bước thong thả bên những "bóng hồng" thướt tha trong tà áo dài hay váy xòe rất thời thượng của người thiếu nữ Sài Gòn thời đó. Tiếng cười nói giòn tan hòa vào tiếng sóng dập rì rào nhẹ nhàng vào thân các tàu hải quân của VNCH, đang cập cầu trước Bộ Tư Lệnh, xóa tan đi những âm thanh ồn ào của nhịp sống trên bờ sông Bạch Đăng.

Dưới chân Tượng Đức Thánh Trần, buổi chiều xuống chậm rãi pha trộng với tiếng ghe tàu chạy trên sông, như một khúc tình ca êm đềm. Tượng đức Thánh Trần đài cao, to uy nghi mà gần gũi, lặng lẽ nhìn dòng sông và nhìn những đổi thay của thời cuộc như một chứng nhân của thời cuộc. Người Sài Gòn vào thời ấy, không cần hẹn mà vẫn gặp nhau sau giờ làm việc hoặc trong những dịp cuối tuần, họ kéo nhau đến đây để thưởng thưởng thức luồng gió mát từ dòng sông Sài Gòn thổi nhẹ lên người. 

Các cô nữ sinh áo dài trắng của trường Trưng Vương khi tan học, tay ôm cặp sách, tóc dài bay nhẹ trong gió sông vây quanh gánh me ngào quen thuộc. Những “bóng hồng” ấy làm nổi bật cả một góc bến Bạch Đằng. Bến Bạch Đằng là khu vực gần trường nữ sinh Trưng Vương cũng như các nam sinh của trường Trung Học Võ Trường Toản và Trung Học Kỹ Thuật Cao Thăng. 

Ngoài các học sinh , nơi đây còn thấy sự hiện diện của các anh Thủy Thủ, vừa xong phiên trực, ghé lại mua ly nước mía, gói đậu phộng rang, hay ngồi uống sinh tố, rồi  đưa mắt lơ đãng nhìn ra bờ sông Sài Gòng để quên đi những nhọc nhằn trong những giờ làm việc mệt nhọc đã qua.




Những gánh hàng rong ở bến Bạch Đằng cũng hiền như chính con sông. Chị bán bắp nướng quạt than đỏ rực, mùi mỡ hành thơm quyện nức mũi với mùi nước sông ngai ngái thành một thứ hương vị rất riêng tư của bến Bạch Đằng. Ông cụ bán cà rem gõ leng keng mấy tiếng chuông nhỏ, lũ trẻ con chạy lại ríu rít. Tiếng cười nói hòa với tiếng ghe máy nổ giòn tan, tiếng sóng vỗ rì rào vào bờ đá, tất cả tạo thành một bản hòa âm bình dị mà khó quên của nhịp sống trên bến Bạch Đằng.


Có những buổi chiều, mấy anh Thủy Thủ trẻ đứng thành nhóm, vừa cười đùa vừa kể về những chuyện hải hành xa. Hay câu chuyện về Vũng Tàu, Cam Ranh, hay bến Qui Nhơn sau những chuyến tuần tiễu ngoài khơi, nghe vừa hào hứng vừa lãng mạn. 

Bến Bạch Đằng trong ký ức của những tâm hồn hoài cổ của người Sài Gòn, luôn là hình ảnh rất đẹp, nơi một góc trang trọng nào đó trong tâm thức, để họ có thể lưu lại một địa danh nổi tiếng với tên gọi là bến Bạch Đằng trước năm 1975. Bến Bạch Đằng trong thời đệ nhất và đệ cộng hòa ( 1955- tháng 4 năm 1975) là đoạn đường nằm dọc theo bờ sông Sài Gòn, kéo dài từ Hải Quân Công Xưởng (xưởng Ba Son) đến đầu con đường Hàm Nghi và nối tiếp với Bến Chương Dương. 

Bến Bạch Đằng chạy dọc đến hết địa phận Q.1 và giáp ranh với Q.5, đường này nối nối với Bến Hàm Tử, chạy theo hướng kênh Tàu Hủ vào quận 8 và đến cầu Chà Và.

Bến Bạch Đằng có diện tích lên đến hơn 20.000 m2, bao gồm bến cảng và công viên. Từ những năm sau khi được khánh thành và đưa vào hoạt động, nơi đây tập trung rất nhiều tàu thuyền từ các quốc gia khác nhau đến giao thương và phát triển kinh tế. Do thời bấy giờ đường hàng không, đường bộ và đường sắt chưa được phổ biến bằng đường thuỷ.

Nơi đây không chỉ là một bến cảng của các thương thuyền và cũng là nơi đặt trụ sở của Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH, vị trí nằm ngay khu vực của thủ đô miền nam VN, trước khi bị mất vào sự kiện tháng 4 năm 1975. Người Sài Gòn còn gọi nó là bến Tàu, tức là nơi để các thương thuyền cặp bến để bốc dở hàng hóa và còn là bến cặp của các chiến hạm Hải quân VNCH.

Nhắc đến bến Bạch Đằng trước 1975 là nhắc đến một địa danh rất đẹp của một Sài Gòn hiền hòa nhân bản, nơi thông thoáng, mát, với những trai thanh, gái lịch vào những dịp cuối tuần, đến đây để ngắm cái đẹp của một bến cảng quân sự và thương mại nổi tiếng của miền nam xưa. 

Bến Bạch Đằng, chạy dọc theo bờ sông Sài Gòn, rộng rãi, thoáng đãng, xưa từ thời Pháp thuộc, nơi đây là bến cảng thương mại nhộn nhịp bậc nhất ở miền nam. Dọc theo bên đường người ta còn thấy những hàng me, hàng cây dầu đứng trầm ngâm đổ bóng xuống mặt đường. Buổi chiều nơi bến Bạch Đằng, với những luồn gió mát từ sông thổi vào bờ sông hiu hiu mát, đủ làm dịu cái oi bức của thủ đô Sài Gòn trong những ngày hè nóng bức, làm dịu lòng du khách khi bước chân đến nơi đây để ngắm một góc cảnh đẹp của Sài Gòn xưa.

Ngược dòng thời gian về trước năm 1975, bến Bạch Đằng hiện diện như một bức tranh thủy mặc giữa lòng thủ đô của miền nam , phồn hoa , thanh lich với những nét chấm phá của bờ sông Sài Gòn, tàu thuyền quân và dân sự ra vào với cảnh tấp nập cất hàng hóa lên xuống từ các thương thuyền các nước.

Bến Bạch Đằng còn trong ký ức của những người lính Hải Quân VNCH, với những ngày phép hoặc sau giờ làm giờ làm việc trong Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Vì nơi đây không chỉ là một bến cảng của thủ đô miền nam VN mà còn là nơi đặt bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH. Do đó sự hiện diện của những chàng thủy thủ và những người sĩ quan Hải quân là hình ảnh của một góc sinh hoạt nơi bến tàu Bạch Đằng. 

Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, là một tòa nhà uy nghi, quét vôi trắng được xây dựng theo kiến trúc Tây phương. Có huy hiệu mỏ neo và chữ Hải Quân Trại Bạch Đằng trắng nổi bật trên tấm bảng lớn màu xanh nước biển. Bộ Tư Lệnh Hải Quân trong trại Bạch Đằng này được xem là Bạch Đằng I. Cùng một con đường, nhưng đi sâu hơn vào bên trong là trại Bạch Đằng II, cũng được gọi là Trung Tâm Tạm Trú Hải Quân Sài Gòn. Nơi những khóa sinh tạm trú chờ khoá học hay binh sĩ chờ thuyên chuyển. Sau này Bạch Đằng II được dời về bên Kho Năm.

Buổi chiều, khi cái nắng gắt của Sài Gòn bắt đầu dịu lại. Những tiếng chát chúa như búa nện trên sắt từ cơ xưởng Caric, xưởng đóng các phà lớn ở miền nam, nằm bên kia sông thưa dần rồi im bặt. Bến phà cũng dần vắng khách qua lại. Bến Bạch Đằng trở thành nơi hội tụ của những tâm hồn tìm kiếm sự thảnh thơi. Đứng dưới chân Tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo uy nghi cao ngất nghểu tại công trường Mê Linh, người ta có thể cảm nhận rõ rệt những luồng gió mát nhè nhẹ thổi từ phía sông. Gió mang theo vị mặn mòi của biển xa, xua tan đi bao nhọc nhằn của một ngày dài. Nhìn sang bên kia bờ, bến Thủ Thiêm thời ấy vẫn còn là một vùng ngoại vi xanh mướt cỏ, rặng dừa nước soi bóng xuống dòng sông, tạo nên một dải lụa xanh mền mại hoàn tòan đối lập với sự nhộn nhịp của các sinh hoạt nơi Quận Nhất, một quận trung tâm của thủ đô miền nam xưa.







Tên những đại lộ nổi tiếng nơi khu vực xung quanh bến Bạch Đằng, như đường Cường Để, Thống Nhất, Nguyễn Huệ hay Tự Do... nhắc nhớ về một nét đẹp khác của thời vàng son của không khí tự do, nơi tồn đọng những nét thanh lịch và sự tử tế hiện hữu trong từng lời chào, ánh mắt. Bến Bạch Đằng khi ấy trong lành không chỉ ở bầu không khí mà còn ở cái tình người thuần hậu của người gốc Sài Gòn.









Khi hoàng hôn buông xuống, mặt sông Sài Gòn  ánh lên màu cam hồng lóng lánh. Bóng rặng cây cổ thụ kéo dài trên nền gạch. Gió sông mát rượi làm tà áo dài bay nhẹ. Cả không gian như lắng lại trong khoảnh khắc giao hòa giữa trời và nước. Người ta đứng đó, không cần nói nhiều, cũng thấy lòng mình nhẹ nhàng và an bình.

Bến  Phà Thủ Thiêm đối diện với Công trường Mê Linh, sau 1963, là nơi đặt bức tượng Thánh Trần, lúc ấy còn hoang sơ, xanh rì một màu cây cỏ. Mỗi lần nhìn qua bên kia sông, thấy những thảm cỏ mướt và vài mái nhà đơn sơ, lòng chợt dâng lên một cảm giác thanh bình khó tả. Dòng sông như một tấm gương lớn, phản chiếu cả bầu trời và cả những ước mơ tuổi trẻ.


Nhớ lại bến Bạch Đằng trước 1975 là nhớ đến một góc về nhịp sống của người dân Sài Gòn.  Nơi nhìn thấy được bầu trời trong xanh không bị che khuất bởi những Building cao đồ sộ, không chen chúc xe cộ. Chỉ có gió, có nước, có tiếng cười và những ánh mắt tình tứ. Một Sài Gòn dịu dàng, mộc mạc mà sang. Một bến sông nơi người lính Thủy và người con gái thành phố có thể ngồi bên nhau, nhâm nhi ly nước mía, nhìn con tàu rời bến mà tin rằng ngày mai vẫn sẽ đẹp.

Cái đẹp ấy không nằm ở những công trình lớn lao, mà ở sự hiền hòa của dòng sông, ở nụ cười chân chất, ở những buổi chiều gió mát dưới chân Đức Thánh Trần. Và mỗi lần nhớ lại, lòng vẫn nghe man mát làn gió cũ, mang theo cả một trời kỷ niệm êm đềm của tuổi trẻ bên bến Bạch Đằng năm nào.


Bến Bạch Đằng là một góc Sài Gòn rất riêng biệt, nơi con người và thiên nhiên giao thoa dưới sự che chở của Đức Thánh Trần. Một kỷ niệm êm đềm về một vùng sông nước hiền hòa, nơi những anh Thủy Thủ hào hoa đã gửi gắm một phần thanh xuân đẹp nhất của mình để bảo vệ dòng sông, bến Bạch Đằng, và cái đẹp hiền hòa của nó. Một vẻ đẹp dịu dàng mà mỗi khi nhắc lại, lòng người lại bâng khuâng tiếc nuối những buổi chiều an bình đầy kỷ niệm ấy.

Bến Bạch Đằng ngày nay tuy còn đó, nhưng những hình ảnh đẹp ngày xưa của người Sài Gòn đã mất đi theo biến cố tháng 4-1975. 

Tạp ghi từ của Vị Mặn Quê Hương, ngày 1-3-2026