TỪ XƯỞNG ĐÓNG TÀU BA SON ĐẦU TIÊN ĐẾN HẢI QUÂN CÔNG XƯỞNG VIỆT NAM CỘNG HÒA.

Xưởng đóng tàu Ba Son là một cơ sở đóng tàu nằm bên sông Sài Gòn, rồi đến thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa, nơi đây đã từng tồn tại từ giữa thế kỷ 19 đến năm tháng 4 năm 1975. Trước tiên, nơi đây vốn là một Thủy xưởng được chúa Nguyễn Ánh cho xây dựng vào khoảng năm 1791, khu vực này về sau được người Pháp cải tiến thành một công xưởng tối tân để đóng tàu sắt đủ loại, lần lượt được cai quản bởi Hải quân Pháp, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Vào năm 1911, xưởng Ba Son được đánh giá là xây dựng và trang bị vào loại tối tân nhất khu vực Đông Nam Á.
Vì một lý do nào đó, tên của xưởng được đọc chệch từ tiếng Pháp, Bassin - ụ sửa tàu, hay Poissons - nhiều cá (theo Eugène Bonhoure trong Indo-Chine 1900 ), hay là tên một ông đốc công Nam bộ (theo học giả Vương Hồng Sển trong Sài Gòn năm xưa ), mà ngay từ những ngày đầu, người Việt đã từng gọi xưởng này là Ba Son.
Xuởng đóng tàu Ba Son (Shipyard)
Xây ụ tàu lớn Ba Son năm 1886
Ụ tàu Bason (docking)
Năm 1861, sau khi chiếm được Sài Gòn – Gia Định, người Pháp đã tạo ra các ụ đầu tiên tại thủy trại có từ thời Gia Long, để xây dựng căn cứ đóng tàu quan trọng cho Hải quân Pháp ở Viễn Đông và Thái Bình Dương.
Sau khi hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhượng ba tỉnh miền Đông Nam kỳ được triều đình Huế ký kết, ngày 28-4-1863, Pháp đã chính thức thông qua dự án xây dựng Arsenal de Saigon (xưởng đóng tàu Sài Gòn). Xưởng Ba Son nguyên là thủy xưởng của Nguyễn Ánh lập ra để đóng chiến thuyền. Xưởng Ba Son nằm trên ngã ba sông, nơi tiếp giáp giữa sông Sài Gòn và rạch Thị Nghè, có diện tích 26 Hecta, có đường ven sông 2000m, trong đó có 6 cầu cảng tổng cộng 750m. Nguyên xưa đây là vùng sình lầy nước đọng nên thường được dùng làm nơi đậu tàu và sửa chữa tàu. Sau khi chiếm được Sài Gòn - Gia Định, năm 1861 Pháp cho làm ụ tàu trên thủy xưởng thời chúa Nguyễn Ánh xây dựng, tức là mảnh đất Ba Son bây giờ.
Ngày 28/4/1863, Pháp chính thức thông qua dự án xây dựng thủy xưởng Ba Son tại Sài Gòn trực thuộc Bộ Hải quân Pháp. Năm 1884, Pháp cho đào và xây ụ lớn bằng đá, chi phí gần 8 vạn quan.
Năm 1866, để đáp ứng nhu cầu sửa chữa tàu bè, một ụ thuyền nổi đã được sản xuất từ Âu châu và mang qua Sài Gòn
1864 - Cảng nổi đang được xây dựng tại Sài Gòn
Đầu thập niên 1860, người Pháp đã có xưởng sửa chữa tàu thuyền tại l'Arsénal (Navy Yard) của hải quân Pháp tại Sài Gòn, tức là nhà máy Ba Son ngày nay. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu, cơ sở này không đáp ứng đủ yêu cầu, nên người Pháp đã quyết định thiết lập một cảng nổi (floating dock ) trên sông Sài Gòn để sửa chữa các tàu bè lớn cập cảng Sài Gòn. Cảng nổi này do công ty Randolph ở Glasgow của Scotland sản xuất từng bộ phận riêng rẽ. Tháng 5-1863 , các bộ phận này được chở bằng tàu qua Sài Gòn để lắp ráp từ tháng 1/1864 đến tháng 5/1866. Chiều dài cảng nổi đủ để tiếp nhận sửa chữa các tàu lớn nhất cập cảng Sài Gòn vào thời gian này. Cảng nổi Sài Gòn có kích thước : Chiều dài: 91,44 m / Chiều rộng vòng ngoài: 28,65m / Chiều rộng vòng trong: phía trên 21,33m ; phía dưới 13,71m; độ cao: 12,8m.
Khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, theo Niên giám Nam Kỳ 1910, "Arsenal (Ba Son) là một cơ sở quan trọng nhất của thuộc địa Nam Kỳ. Với trang bị hoàn chỉnh, hiện đại, Arsenal Sài Gòn có thể chế tạo những công trình hàng hải hoàn chỉnh cũng như những hạng mục sửa chữa tinh tế nhất. Arsenal Sài Gòn có thể chế tạo tất cả các bộ phận của tàu phóng lôi loại 1 với giá tiền thấp hơn và trong thời gian ngắn hơn, so với các xưởng chế tạo ở chính quốc.
Trong một bài viết nhan đề "L'Arsenal de Saigon, Eétablissement industriel", tác giả M.S viết: Arsenal thành lập năm 1884 dài 150m với đủ các phân xưởng nhưng chưa đủ điều kiện để sửa chữa các tàu lớn. Người Pháp thành lập Arsenal Sài Gòn không chỉ nhằm mục đích sửa chữa các tàu qua lại mà còn có thể chế tạo tàu biển. Arsenal trực thuộc Hải quân, có 2.500 thợ, trong đó có 60 người Âu, Xưởng có trường học nghề (gồm các ngành điện, nguội, mộc, đúc...). Ngoài việc sửa chữa và đóng tàu, Arsenal Sài Gòn còn nhận sửa chữa máy móc cho các nhà máy (như nhà máy đường Hiệp Hòa), cho nhà ga Sài Gòn v.v...
Buổi đầu, tham gia đóng, sửa tàu chỉ có những công nhân người Pháp hoặc người Hoa được thuê từ Macau, Hương Cảng, Thượng Hải, Singapore. Nhân công người Việt chỉ được thuê chặt cây, dựng lán trại, đào kênh, đắp đường...
Sau vài năm phát triển, Ba Son đã có những công nhân người Việt đầu tiên. Những người thợ đóng thuyền Việt Nam đã đi từ những ngành nghề kỹ thuật cổ truyền như: mộc, rèn, sơn, xảm... đến làm để quen với các kỹ thuật mới: điện, tiện, nguội, phay, bào, hàn, lắp ráp động cơ, máy móc...
Lần lượt các công trình được thi công: như các ụ tàu nhỏ, đốc nổi lớn, xưởng gạch ngói, xưởng nồi hơi, xưởng buồm dây, xưởng vỏ tàu, xưởng tời - mái chèo, xưởng gò - hàn, rèn - đúc, cần cẩu, máy dụng cụ được lắp ráp liên tục.. Xưởng sửa chữa và đóng tàu Ba Son đã thành hình với những công cụ mới và hoạt động kỹ nghệ sắt lần đầu xuất hiện ở Việt Nam. Từ đó các tàu nhỏ, tàu lớn, tàu chiến cũng như tàu buôn lần lượt nối nhau vào Ba Son nằm ụ để sửa chữa.
Năm 1890, Ba Son đã đóng chiếc tàu thủy đầu tiên. Đến năm 1894, Ba Son hạ thủy thành công 4 chiếc sà lan và một tàu thủy nhỏ. Đến năm 1899, Ba Son đóng thành công một chiếc tàu phóng ngư lôi hạng nhất, tiếp đó đóng thêm bốn tàu phóng ngư lôi nữa. Các kỹ sư Pháp đã nhận xét: “Kết quả rất tốt, đúng quy cách, đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật, thời gian thi công nhanh và tiết kiệm nhiều so với mua hoặc đóng ở Pháp”.Ba Son đã thật sự trở thành một xưởng đóng tàu lớn, tối tân nhất vào thời đó ở Đong Dương, mau chóng trở thành bộ phận kỹ nghệ mang tính sống còn với sự hiện diện của người Pháp tại Đông Dương. Chính vì vậy, Ba Son được đầu tư một cách đặc biệt, được tiếp xúc với những thành tựu khoa học kỹ thuật của Âu châu : xử dụng nước máy, máy hơi nước, điện... trong sản xuất. Ba Son, trở thành một cơ sở đóng tàu sớm nhất ở Đông Dương.
Ngày 27-4-1921, xưởng Ba-Son đã cho hạ thủy và chạy thử tàu Albert Sarraut, dài 85m, rộng 12m, cao 12m, độ mớm nước 5m9, trọng tải 3.100 tấn, sức máy 1.100 mã lực. Đây là chiếc tàu biển lớn nhất và trang bị tối tân đầu tiên được đóng ở Đông Dương.
Ba Son – Cơ xưởng Hải quân quan trọng bậc nhất xứ Nam kỳ
Cơ xưởng hải quân Ba Son trực thuộc Bộ Hải quân Pháp, ra đời vào năm 1884, không chỉ nhằm mục đích sửa chữa tàu bè qua lại hoặc lưu trú tại khu vực Viễn Đông mà còn chế tạo tàu biển. Dưới sự chỉ huy của Đô đốc-Tư lệnh Hải quân, cơ xưởng Ba Son gồm nhiều phân xưởng khác nhau, với 2.500 thợ chịu sự quản lý của 60 người Âu.
Thiết bị và khả năng của cơ xưởng Ba Son
Cơ xưởng Ba Son có khả năng lau chùi sửa chữa lòng tàu khá tốt nhưng chưa hoàn toàn thoả mãn nhu cầu của một hạm đội hiện đại. Thực tế, cơ xưởng này có một bể sửa tàu xây dựng vào năm 1884 dài 150m, phù hợp với phần lớn các tàu chiến và tàu buôn thường xuyên qua lại Sài Gòn nhưng lại không đáp ứng một số tuần dương hạm và tàu chở khách trọng tải lớn. Đối với những tàu có trọng tải vừa phải, thủy xưởng có một vũng tàu nhỏ dài 65m, một kho cảng nhỏ và một số bến bãi.

Ụ tàu lớn tại Thủy xưởng Ba Son, nguồn: sưu tầm
Phân xưởng làm tôn và phân xưởng làm chảo
Để sản xuất tôn, từ năm 1918, cơ xưởng đã cho xây dựng một phân xưởng tương đối rộng với các khu nhà sắt được trang bị hiện đại phục vụ các công trình xây dựng, nhất là trong lĩnh vực sản xuất tàu có trọng tải vừa và nhỏ. Ngoài ra, Ba Son còn có phân xưởng sản xuất chảo và các bộ ống.
Phân xưởng cơ khí
Vào những năm 40, cơ xưởng Ba Son không chỉ thực hiện việc bảo trì tàu ngầm, tàu hộ tống mà còn nỗ lực hoàn thiện bằng việc mua máy công cụ, hiện đại hoá phương pháp lao động và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công việc. Cơ xưởng đã mua một bộ gồm 5 máy tiện công suất lớn, một máy phay đa năng, một máy khoan xuyên tâm có độ chính xác cao và một chiếc máy rà điều khiển bằng hệ thống thuỷ lực.
Từ năm 1939 đến cuối năm 1943, cơ xưởng Ba Son đã cho xây dựng lại và hoàn thiện hệ thống nhà xưởng, gồm: 5 gian nhà lớn có trang bị cầu di động và một toà nhà 2 tầng gồm 5 phòng dùng làm văn phòng, phòng gửi đồ, và nhà kho.
Phân xưởng đúc
Do nằm xa Chính quốc nên cơ xưởng Ba Son phải tự túc trong việc nấu luyện kim loại. Đến năm 1943, phân xưởng này được trang bị: 1 lò hồ điện quang để sản xuất thép; 3 lò đúc gang hoạt động với năng suất đáng nể; 1 lò chạy bằng dầu mazút làm nóng chảy đồng; một số lò luyện hợp kim; 2 tủ sấy có kích thước lớn… Nhờ đó, phân xưởng này có khả năng thực hiện tất cả các hạng mục từ đơn giản đến phức tạp, phục vụ nhiều công trình hàng hải.
Từ năm 1938, người ta đã sử dụng một cây cầu di động trọng tải 25 tấn để đảm bảo giao thông tại phân xưởng này. Nhờ vào hệ thống thiết bị, sự khéo léo của các thợ đúc và sự quản lý tương đối tốt, phân xưởng đúc này có thể thực hiện việc đổ khuôn đa dạng nhất, phức tạp nhất trong giới hạn trọng tải cho phép bằng các dụng cụ làm nóng chảy.

Lễ hạ thủy tàu Albert Sarraut ngày 23/3/1922 tại Sài Gòn
Sau Ba Son, các nhà máy, cơ sở nghệ ở Sài Gòn lần lượt ra đời: năm 1866 - bến tàu Sài Gòn, năm 1869 - nhà máy sợi, máy cưa bằng hơi nước, năm 1877 - nhà máy xay lúa, năm 1885 - nhà máy rượu, năm 1886 - Bưu điện Sài Gòn, năm 1900 - Công ty Nước và điện Đông Dương... Sài Gòn đã trở thành một thành phố thương mại phồn vinh, một thương cảng có sức thu hút đặc biệt.
Sau khi hiệp định Genève được ký kết, quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương, Pháp chuyển giao Ba Son lại cho hải quân chính quyền Sài Gòn và được đổi tên là Hải quân công xưởng, đặt trực thuộc Bộ Quốc phòng.
XƯỞNG BA SON ĐƯỢC GỌI LÀ HẢI QUÂN CÔNG XƯỞNG THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA.
Huy hiệu Hải-Quân Công-Xưởng, HQVNCH của
Mr. Steven Loomis, US Navy, NAG/VNNSY 1970/71.
Huy hiệu Hải-Quân Công-Xưởng, HQVNCH của Mr. Steven Loomis, US Navy, NAG/VNNSY 1970/71.
Hải-Quân Công-Xưởng mà ta thấy sau này, chỉ chiếm một phần phía Đông-Nam của Xưởng cũ, số thợ làm việc cũng ít hơn. Tuy vậy, Hải-Quân Công-Xưởng vẫn còn là một trong những Thủy-xưởng lớn nhất Đông-Nam Á Châu. Hải-Quân Công-Xưởng gồm 87 tòa nhà; mỗi tòa nhà được sử-dụng như một cơ-xưởng.
Ngoài các cơ-xưởng còn có hai ụ chìm; một ụ dài 520 feet và ụ kia dài 119 feet; một ụ nổi có khả-năng sửa tàu nặng một ngàn tấn; bốn đường rầy, bảy cần trục lưu-thông, một lò nấu chảy. Các cơ-sở đó tọa lạc trên 53 mẫu đất.
Nói tổng-quát, Hải-Quân Công-xưởng là một đơn-vị lớn, có hơn 4,000 thợ dân-chính và gần 1,000 quân-nhân các cấp có khả-năng nghề-nghiệp để đảm-nhiệm những công-việc sau:
– Sửa chữa đại-kỳ, định-kỳ.
– Sửa chữa bất-thường
– Tân-trang và chế-tác chiến-đĩnh.
Các ghe Hải-Thuyền, ghe Ciment lưới gà được sản xuất từ HQCX.
Với cần trục cao và ụ lớn nhứt tại VN ngoài việc sửa chữa cho các chiến-hạm HQ, HQCX còn giúp cho thương-thuyền VN được vào ụ để tu-bổ lườn tàu.
Phụ-Tá Giám-đốc HQCX là hai vị Phó Giám-Đốc về Hành-Chánh và Kỹ-Thuật. HQCX chia ra 4 ty: Ty Hành-Chánh Nhân-Viên, Ty Điều-Hành Công-Xưởng, Ty Kế-Hoạch Trù-Liệu Ty Tiếp-Liệu, Khu Tu-Bổ Vận-Chuyển.
https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/0c/Minesweeper_in_dry_dock_of_Saigon_Naval_Shipyard_c1968.jpg/475px-Minesweeper_in_dry_dock_of_Saigon_Naval_Shipyard_c1968.jpg
GĐ/HQCX
Phó GĐ/HC
Phó GĐ/KT
Ty HCNV
Ty DHCX
Ty KHTL
Ty TL
KhuTu Bổ và Vận Chuyển
Các xưởng trực thuộc gồm:
Xưởng Buồm
Xưởng Điện Tử
Xưởng Điện Khí
Xưởng Đồng
Xưởng Mộc
Xưởng Động-Cơ
Xưởng Hải-Pháo
Xưởng Đúc
Xưởng Tiện, Nguội
Ảnh của Mr. Steven Loomis, US Navy, NAG/VNNSY 1970/71.
Ngay từ khi thành-lập, HQCX được tiếng là nơi trả lương rất hậu. Công-nhân có quy-chế như công-chức chính-phủ. Tuy vậy vào giữa thập-niên 1960, một biến-cố đột-ngột đã xảy ra, làm cho tình-trạng thiếu-thốn nhân-viên trầm trọng. Khi các công-ty thầu-khoán ngoại-quốc theo người Hoa-Kỳ vào làm ăn ở Việt-Nam, họ trả lương thợ lành nghề nhiều lần lớn hơn mức trung-bình cho xứ ta. Một số nhân-viên giỏi của HQCX đã bỏ đi. Năm 1965-1968, Hải-Quân Công-xưởng mất 640 trong 1,500 thợ bỏ đi làm các hãng trả tiền nhiều-hơn.[407] Rút tỉa kinh-nghiệm này, ban Giám-Đốc nghiên-cứu lại chương-trình thâu-nhận, huấn-luyện cùng thay đổi khế-ước. Sau đó tình-trạng nhân-viên mới dần dần trở lại mức điều-hòa.
HOẠT ĐỘNG CỦA HQCX THỜI VNCH.
Hải quân công xưởng Sài Gòn (HQCSSG), thuộc Bộ chỉ huy yễm trợ tiếp vận hải quân Việt Nam Cộng Hoà là một trong những thủy xưởng lớn nhất vùng Đông Nam Á vào thời điểm thập niên 50, 50 và 70. HQCX đã từng đóng những chiến đỉnh với lớp vỏ bằng xi măng để đáp ứng với những nhiệm vụ tuần tiểu trên sông ngòi. Các chiến đỉnh này do Đại tá Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà Đoàn Ngọc Bích thiết kê.
Chiến đỉnh xi măng do Đại tá Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà Đoàn Ngọc Bích thiết kế - bên trong làm bằng lưới thép, bên ngoài trám xi măng .
Ngoài công việc Sửa chữa đại kỳ, định kỳ và sửa chữa bất thường các loại chiến hạm Hải quân VNCH, HQCXSG còn thiết kế và đóng mới các loại duyên đỉnh như: Ghe chủ lực (Command Junk), ghe thiên Nga – Yabuta và Ferro Cement để cung cấp theo nhu cầu trang bị cho các duyên đoàn thuộc 5 vùng duyên hảị
Hình giang đĩnh VIPER 2C của Mr. Steven Loomis, US Navy, NAG/VNNSY 1970/71.
Năm 1970, một loại giang đĩnh xung kích mang tên VIPER hoạt động trên sông rạch, đã được HQCXSG thiết kế và đóng mới 6 chiếc, được công nhận thành công sau những lần thí nghiệm vận chuyển với vận tốc tối đa lên đến 23 hải Lý một giờ.
Đặc tính kỷ thuật Xung kích đĩnh VIPER.
Trọng tấn: 4.2 tấn.
Kích thước: dài 8m; rộng 2.8m; tầm nước 0.50m.
Vận tốc tối đa: 23 hải lý/giờ.
Máy chánh: 2 máy 16V53.
Vũ khí trang bị: 1 đại liên M60 và cối trục xạ phía trước; 1 đại liên M60 phía sau.
Nhân viên: 1 Hạ sĩ quan và 2 đoàn viên.
Họa đồ kiến truc xung kích đĩnh VIPER 2A của Mr. Loomis, Steven, một cựu binh hải quân Hoa Kỳ phục vụ tại hải quân công xưởng Sài Gòn năm 1970-1971.
Hoạ đồ kiến trúc phần vỏ Xung kích đĩnh VIPER 2A của Mr. Steven Loomis, US Navy, NAG/VNNSY 1970/71.
Hình ảnh xung kích đĩnh VIPER 2 A/2C vận chuyển trên sông Lòng Tàu Nhà Bè năm 1970 của Mr. Loomis, Steven, một cựu binh hải quân Hoa Kỳ phục vụ tại hải quân công xưởng Sài Gòn năm 1970-1971.
Hình giang đĩnh VIPER 6 của Mr. Steven Loomis,
US Navy, NAG/VNNSY 1970/71.
Hoạ đồ kiến trúc phần vỏ Xung kích đĩnh VIPER 2A của Mr. Steven Loomis, US Navy, NAG/VNNSY 1970/71.
Hình ảnh xung kích đĩnh VIPER 2 A/2C vận chuyển trên sông Lòng Tàu Nhà Bè năm 1970 của Mr. Loomis, Steven, một cựu binh hải quân Hoa Kỳ phục vụ tại hải quân công xưởng Sài Gòn năm 1970-1971.
Hình giang đĩnh VIPER của Mr. Steven Loomis, US Navy, NAG/VNNSY 1970/71.
Hình giang đĩnh VIPER 2A của Mr. Steven Loomis, US Navy, NAG/VNNSY 1970/71.
Vũ Thái An,người lính VNCH.
tổng hợp từ nhiều nguồn, ngày 23-3-2026
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét