ĐẾ CHẾ MỸ VÀ CÁI MẶT NẠ DÂN CHỦ
Nguồn tin từ Telepolis, với phần bình luận của Robert Schwierkus: Chính sách đối ngoại của Mỹ chưa bao giờ hòa bình như nhiều người vẫn tin. Một nhà sử học chỉ ra lý do tại sao đường lối của Trump không phải là một bước đột phá, mà là sự trung thực. (Phần 3 và Kết luận)
Phần đầu của phân tích này đã đề cập đến một số khía cạnh chung của khái niệm "đế chế" và ý nghĩa của nó đối với tình hình Âu châu hiện nay.
Phần thứ hai đề cập đến câu hỏi liệu những hồi ức hiện tại về lịch sử đế quốc Nga chủ yếu được giải thích bởi "bản chất Nga" hay bởi các điều kiện trong hệ thống quốc tế mà nước Nga hậu Xô Viết đang sống.
Đặc biệt liên quan đến những điều kiện này, việc xem xét lịch sử đế quốc và hiện tại của Hoa Kỳ, quốc gia trái ngược hoàn toàn với Nga, đã đạt đến đỉnh cao quyền lực sau khi Chiến tranh Lạnh lần thứ nhất kết thúc, là điều hợp lý. Quan điểm này dựa trên lập luận đã được thiết lập ở phần trước rằng chính sách đối ngoại của Nga không thể được giải thích một cách thực tế nếu bỏ qua tác động của chính sách đối ngoại của Mỹ.
Tương tự, một sự hiểu sai lệch về lịch sử Hoa Kỳ đang lan rộng. Do đó, một khía cạnh trọng tâm của phân tích này sẽ là đặt câu hỏi về những quan điểm hiện đang thịnh hành trong diễn ngôn chính trị Tây phương, mà, tóm lại, đại diện cho luận điểm rằng "[chúng ta đang ở giai đoạn đầu của một kỷ nguyên đế quốc mới, rời xa truyền thống của Hoa Kỳ với tư cách là một bá chủ nhân từ tôn trọng luật pháp quốc tế trong nửa sau thế kỷ 20]."
Trong bối cảnh những quan điểm như vậy, người ta thường nhấn mạnh rằng chính sách đối ngoại có vẻ thất thường của Trump thể hiện một kiểu quay trở lại chủ nghĩa đế quốc thô bạo của Mỹ trong quá khứ. Điều này được cho là hiển nhiên, trong số những điều khác, ở chỗ "[những] lý do biện minh cho những màn phô trương quyền lực và hành vi bạo lực của Trump [...] thường mâu thuẫn, tùy tiện hoặc hoàn toàn bịa đặt." Theo quan điểm này, Hoa Kỳ hiện đang quan tâm "đến quyền lực vì chính nó và thậm chí còn hơn thế nữa đến các cơ hội lợi nhuận."
Nhưng liệu đây có thực sự là một sự phát triển mới khi người ta xem xét một cách khách quan 250 năm chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ? Trái ngược với những cách giải thích như vậy, lập luận sau đây cho rằng các hiện tượng đang được xem xét không đại diện cho sự đoạn tuyệt thực sự với truyền thống đế quốc của Hoa Kỳ, mà cùng lắm chỉ là sự thoái lui về mặt hình thức từ lối hùng biện tự do, "mâu thuẫn giữa việc áp đặt dân chủ, thực thi tự do và bóc lột giải phóng", sang một hình thức truyền đạt trực tiếp hơn về lợi ích của Hoa Kỳ.
Từ Đế chế Lục địa đến Đế chế Bán cầu
Như Niall Ferguson đã lập luận một cách thẳng thắn đáng ngạc nhiên, mâu thuẫn này thực tế đã được khắc sâu trong ADN của Hoa Kỳ. Theo nghĩa này, Hoa Kỳ, mặc dù được hình thành trong lò luyện của một cuộc chiến chống đế quốc, đã thực hiện những bước đi đầu tiên hướng tới đế chế sau khi sáp nhập Texas năm 1845, California năm 1848, Alaska năm 1867, và Philippines, Puerto Rico, Hawaii và Guam năm 1898.
Thật vậy, lịch sử thế kỷ 19 của họ có thể được kể như một quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa đế quốc lục địa sang chủ nghĩa đế quốc bán cầu.
Về mặt tư tưởng, việc bành trướng lục địa ban đầu được biện minh, cũng giống như các quốc gia đế quốc trước đây và hiện nay, bằng cách viện dẫn một "vận mệnh hiển nhiên" được cho là để thống trị lục địa Bắc Mỹ và, bằng cách đó, văn minh hóa cư dân bản địa. "Trên thực tế," như Ferguson thừa nhận, "việc bành trướng đạt được thông qua sự kết hợp giữa lòng tham đất đai, lòng nhiệt thành tôn giáo và sức mạnh quân sự - chính xác theo thứ tự đó."
Rất lâu trước khi việc sáp nhập phần lớn Bắc Mỹ hoàn tất, và trước khi họ có khả năng hiện thực hóa những tham vọng này, Hoa Kỳ đã nhắm đến toàn bộ Tây bán cầu. Không có gì đáng ngạc nhiên, mâu thuẫn vốn có trong tinh thần Mỹ đã thấm nhuần vào lời lẽ của giới tinh hoa quyền lực ở Washington:
Nguồn gốc của chiến lược vĩ mô của Mỹ là một sự phủ định anh hùng; "học thuyết" được Tổng thống James Monroe tuyên bố năm 1823, trong đó thiết lập "như một nguyên tắc" "rằng các lục địa châu Mỹ, do vị thế tự do và độc lập mà chúng đã và đang nắm giữ, từ nay trở đi sẽ không được coi là đối tượng thuộc địa hóa trong tương lai của bất kỳ cường quốc châu Âu nào."
Ngoài câu chuyện lý tưởng hóa này, vốn gợi ý về sự giải phóng chung của tất cả các tiểu bang châu Mỹ khỏi ách thống trị thực dân của Âu châu, hiện nay người ta thường chấp nhận rằng "mối quan tâm chính của tổng thống là coi Nam Mỹ như một khu vực mở rộng kinh tế cho Hoa Kỳ." Về vấn đề này, câu hỏi đặt ra là sự khác biệt về chất lượng giữa điều này và cái gọi là "Học thuyết Donroe" là gì ?.
Luận điểm cho rằng có một giai đoạn giữa Học thuyết Monroe và Học thuyết Donroe mà giới tinh hoa Hoa Kỳ không ngầm coi thường châu Mỹ Latinh và xem nó như "sân sau" của riêng họ khó có thể dung hòa với các bằng chứng liên quan.
Trên thực tế, hầu như không có gì tượng trưng cho tuyên bố quyền lực toàn cầu của Hoa Kỳ, điều vẫn tồn tại cho đến ngày nay, một cách công khai hơn là việc tự gọi mình là " Mỹ Châu". Như Daniel Immerwahr đã mô tả, đây là một sự thay đổi mà các nhà quan sát đương thời ngày càng nhận thấy vào khoảng năm 1900. Cho đến lúc đó, diễn ngôn của Hoa Kỳ chủ yếu đề cập đến Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sau năm 1898, người ta nhận thấy rằng 'những nhà hùng biện và nhà văn xuất sắc nhất', những người cảm thấy rằng 'Hoa Kỳ' không còn mô tả chính xác bản chất đất nước họ, đã chuyển sang xử dụng 'Mỹ'.
Điều quan trọng cần lưu ý trong bối cảnh này là cấu trúc chính trị mong muốn của Hoa Kỳ đã nhiều lần là chủ đề tranh luận của giới tinh hoa và, tất nhiên là ít quan trọng hơn, của quần chúng, đặc biệt là về vai trò mà Washington nên đóng trên phạm vi toàn thế giới. Stephen Wertheim đã chứng minh một cách thuyết phục rằng các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ từ lâu đã tìm cách duy trì "các cuộc trao đổi [quốc tế] hòa bình, ít nhất là bên ngoài Mỹ châu, mà không bị vướng vào các xung đột chính trị và quân sự ở Âu châu và Á châu."
Việc Hoa Kỳ can thiệp vào Chiến tranh Thế giới thứ nhất nhưng sau đó rút lui chắc chắn là một lập luận thuyết phục cho quan điểm này. Tương tự, việc Hoa Kỳ thiết lập được chỗ đứng chính trị và quân sự ở cả Âu châu và Á châu sau khi can thiệp vào Chiến tranh Thế giới thứ hai là bằng chứng không thể phủ nhận rằng lập trường này đã thay đổi trong thời gian đó.
Đã có rất nhiều bài viết về sự xuất hiện và tầm quan trọng của cái gọi là "trật tự quốc tế dựa trên luật lệ", mà theo quan điểm thông thường, Hoa Kỳ đã đóng vai trò hàng đầu trong việc xây dựng sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc. Tuy nhiên, ý tưởng thực sự cốt lõi của trật tự này và "chủ nghĩa quốc tế tự do" liên quan lại ít được thảo luận công khai hơn.
Theo Wertheim, khái niệm "quyền bá chủ/ưu việt toàn cầu" bắt đầu được chú ý vào đầu những năm 1940, khi Hoa Kỳ đối mặt với khả năng hai cường quốc bá chủ khu vực, Đế chế thứ ba và Đế quốc Nhật Bản, thiết lập vị thế của mình ở Âu châu và Á hâu. Về bản chất, chiến lược bá chủ này của Hoa Kỳ cho rằng sức mạnh quân sự vượt trội của Hoa Kỳ là cần thiết để bảo đảm một trật tự thế giới tốt đẹp. Nó được giả định rằng, một cường quốc bá chủ nhân văn, phải đóng vai trò là cơ quan thiết lập trật tự thế giới dùng để ngăn chặn trật tự quốc tế rơi vào hỗn loạn hoặc chuyên chế. Hơn nữa, Hoa Kỳ được cho là thực thể duy nhất phù hợp với vai trò này.
Một lần nữa, không có gì đáng ngạc nhiên khi ngay cả trong khuôn khổ tham vọng thế giới dường như mang tính cách mạng của Washington, người ta vẫn tìm thấy nghịch lý của việc cố gắng thực hiện một loại chủ nghĩa chống đế quốc bằng các phương pháp đế quốc:
Nói cách khác, cách duy nhất để thực hành chủ nghĩa quốc tế, để kiềm chế và vượt qua chính trị quyền lực, là phải làm chủ chính trị quyền lực. Hoa Kỳ đã tạo dựng một đế chế bá quyền toàn cầu của mình bằng cách che giấu khéo léo mâu thuẫn cơ bản này.
Theo Wertheim, quan niệm tự thân của Hoa Kỳ về việc có quyền hợp pháp đối với bá quyền toàn cầu kể từ đó đã trở thành một tiên đề không thể nghi ngờ ở Washington. Việc hình ảnh tự thân như vậy, và các thực tiễn chính trị bắt nguồn từ đó, sớm muộn gì cũng sẽ gặp phải sự phản kháng có lẽ có thể được coi là một quy luật lịch sử.
Thực tế về sức mạnh của Hoa Kỳ và những hậu quả của nó
Năm 2005, Stephen Walt viết rằng việc mô tả Hoa Kỳ là quốc gia hùng mạnh nhất kể từ thời La Mã đã trở thành một câu nói sáo rỗng. Tuy nhiên, cũng như hầu hết các câu nói sáo rỗng khác, câu này cũng chứa đựng một khía cạnh thực tế quan trọng. Phù hợp với tiên đề đã nêu, Walt nhận thấy rằng cuộc tranh luận trong nước về vị thế bá chủ của Hoa Kỳ, trong hầu hết các trường hợp, chỉ giới hạn ở cách tốt nhất để xử dụng sức mạnh to lớn này.
Hơn nữa, Walt chỉ ra rằng phần còn lại của thế giới coi bá quyền của Hoa Kỳ ngày càng gây bất ổn và đang bận tâm đến việc họ có thể làm gì để kiềm chế sức mạnh của Hoa Kỳ. Kết luận, ông kêu gọi Washington kiềm chế, lập luận rằng Hoa Kỳ cần học cách tiến hành chính sách đối ngoại của mình một cách khôn ngoan và kiềm chế hơn.
Hoa Kỳ phải học cách tiến hành chính sách đối ngoại của mình một cách khôn ngoan và kiềm chế hơn. Trong bối cảnh leo thang hiện nay ở Trung Đông, Walt, nhắc lại lời cảnh báo trước đó của mình, đã chỉ trích gay gắt chính quyền Trump. Tuy nhiên, ngay cả ông ta cũng mắc lỗi phân tích hoặc quá dễ dãi trong lời chỉ trích khi tuyên bố rằng Mỹ "trong 75 năm qua đã khá thành công" trong việc "xử dụng quyền lực một cách kiềm chế, tuân thủ các chuẩn mực được chấp nhận rộng rãi bất cứ khi nào có thể, và nỗ lực tạo ra các thỏa thuận với những bên khác có lợi cho tất cả các bên liên quan."
Trên thực tế, những thất bại của Washington về vấn đề này, và của Tây phương nói chung, đặc biệt là sau khi Chiến tranh Lạnh lần thứ nhất kết thúc, là rất nhiều.
Cũng giống như Hiệp ước La Mã "ban đầu chỉ mang tính tự lợi", một đánh giá khách quan về chiến lược bá quyền toàn cầu của Mỹ ít nhất cũng cho thấy động cơ như vậy; nói một cách thực tế, nó không dẫn đến kết luận nào khác. Như đã chỉ ra ngay từ đầu, nhiều điều cho thấy giai đoạn hiện tại chỉ đơn thuần là sự thoái lui về mặt giao tiếp, trở lại trạng thái mà giới tinh hoa Mỹ ưu tiên sự trung thực kiểu La Mã và ngừng giả vờ "rằng họ tạo ra đế chế của mình vì bất kỳ lý do nào khác ngoài lợi ích [của Washington]."
Việc liệu người ta có mô tả Hoa Kỳ là một đế chế hay không phụ thuộc vào cách định nghĩa thuật ngữ này, nhưng có lẽ điều đó chỉ là thứ yếu trong bối cảnh thực tế về sức mạnh của Hoa Kỳ. Nếu theo quan điểm của một nhà sử học Hoa Kỳ như Daniel Immerwahr, thì ngày nay thuật ngữ này chủ yếu được xử dụng như một thuật ngữ miệt thị, một đặc điểm không mấy thiện cảm. Đế chế, là những bạo chúa áp bức các quốc gia yếu hơn. Không khó để lập luận rằng Hoa Kỳ mang tính đế quốc theo khía cạnh này.
Tuy nhiên, thuật ngữ đế chế không chỉ là một thuật ngữ miệt thị. Nó cũng là một cách để mô tả một quốc gia, dù tốt hay xấu, sở hữu các căn cứ và thuộc địa [bên ngoài lãnh thổ]. Về mặt này, đế chế không chỉ mô tả đặc điểm của một quốc gia, mà còn cả hình thức của nó. Và theo định nghĩa này, Hoa Kỳ chắc chắn đã từng là một đế chế và vẫn là một đế chế cho đến ngày nay.
Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20-4-2026

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét