Powered By Blogger
ÔN CỐ TRI TÂN

NÉT SON CỦA QUỐC HỘI CỦA VNCH

(CAN ĐẢM ĐỐI DIỆN VỚI ĐỐI LẬP THÂN CỘNG)

Hạ viện VNCH

Quốc Hội của của các nước văn minh không cộng sản là một cơ quan chính trị của Quốc Gia, biệt lập và độc lập đối với Hành Pháp. Trong một nước dân chủ thực sự, luật pháp muốn có hiệu lực và công bằng phải được Cơ Quan “ chuẩn y hay bác bỏ ” tách rời khỏi Hành Pháp quyết định, để giữ mức thăng bằng và giới hạn quyền lực của Hành Pháp đối với dân chúng. Tại các nước có nền dân chủ tiến bô lâu đời, trong quốc hội thường có phe đối lập và các phe này thường là các chính đảng không nắm đa số trong Quốc hội ( phe đa số là chính đảng hoặc liện hiệp để cầm quyền).

NHIỆM VỤ CỦA QUỐC HỘI
Đề cập đến nhiệm vụ của Quốc Hội, được Walter Bagehot liệt kê như sau:- Nhiệm vụ đại diện cho dân chúng.- Kiểm soát luật pháp.- Kiểm soát và hướng dẫn đường lối chính trị Quốc Gia .- Chọn lựa đúng đắn một Chính Phủ để điều hành Quốc Gia .Walter Bagehot, người Anh, cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhứt của quốc Hội là làm sao chọn lựa những người có khả năng thích hợp vào cơ chế Hành Pháp để điều hành Quốc Gia thật hiệu quả. (https://de.wikipedia.org/wiki/Walter_Bagehot).
Nếu Quốc Hội lựa chọn được Chính quyền xứng đáng, thì nhiệm vụ kiểm soát luật pháp cũng như hướng dẩn đường lối chính trị quốc Gia sẽ giảm bớt nhiều xáo trộn xã hội. Nhiệm vụ chính của Quốc Hội là chuẩn y hay bác bỏ dự án luật từ bên hành pháp đưa qua và công bố. Dĩ nhiên có nhiều phương cách để chuẩn y hay bác bỏ . Có thể có loại chuẩn y “ nhắm mắt ký đại ”, hay nói theo ngôn ngữ là làm “nghị gù, nghị gật ” giống như các con Robot trong quốc hội của CHXHCNVN. Nhưng dù là đóng góp ý kiến, đồng thuận,..cho phép, nhiệm vụ chính của Quốc Hội không phải là lập pháp ( làm ra luật), mà là góp ý kiến , chuẩn y hay bác bỏ luật. Như vậy Lập Pháp không có nghĩa là làm ra luật , mà “ làm thế nào để luật được ban hành là một đạo luật hữu lý và có lợi cho quốc gia ”. Bởi lẽ khi chúng ta chọn dân biểu vào Quốc Hội chúng ta không đòi buộc họ phải có Cữ Nhân hay Tiến Sĩ Luật, có khả năng chuyên môn để làm luật, soạn thảo luật. Vấn đề “ soạn thảo luật ” sẽ được giao cho một ủy ban chuyên môn có trách nhiệm soạn thảo chớ không phải Quốc Hội.
Quốc Hội không phải là nơi để nhường nhịn nhau, để tâng bốc nhau, không phải để đồng thuận, đồng lòng, không phải là sân chơi của các con Robot dùng để gật mà là nơi để cất lên tiếng nói khác chiều nhau, phân tích lợi hại một vấn đề được phe cầm quyền đưa ra , tranh luận gay gắt với nhau, thậm chí đến việc tố cáo nhau…v..v.. Qua đó mới lòi cái hại, cái dốt ra, lòi cái tham nhũng, cái dở hơi... Từ đó đúc kết lại những ý kiến xây dựng hoàn hảo nhất, những điều luật được lòng dân theo ý dân, và cũng từ tranh cãi đó sẻ có được điều tốt đẹp nhất mà thế giới văn minh hiện đang được hưởng. VNCH trong quá khứ đã từng có một quốc hội với sinh hoạt hoàn toàn dân chủ và tự do như thế! Trong QH của VNCH đảng cầm quyền tuyệt đối như đảng Dân Chủ của Ông Thiệu, cũng chi có tối đa 49% số ghế của QH, đa số 51% còn lại để dành cho phe đối lập.
Bởi thế người cộng sản VN thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chánh trị Dân Chủ. Tính cách tương đối này được thể hiện qua sự tự do tuyển cử. Tự do tuyển cử tức là tự do trình ứng cử viên, tự do cổ động và nhất là sự bảo đảm tính cách chân thành của kết quả cuộc bầu cử, đồng nghĩa với đảng csVN đã chấp nhận khai tử số phận mình trong chính trường VN.

QUỐC HỘI VNCH
Người dân miền nam may mắn từng được sống trong một chế độ tự do tuy không có là bao trước năm 1975, nhưng đó chính là ước mơ của các phong trào đấu tranh và các người yêu dân chủ ngày hôm nay, họ đang ra sức cố gắng để có được những hạnh phúc về một thể chế chính trị thông thoáng mà người miền nam đã từng có trước đây.
Người dân miền bắc và nhân dân c nước sau 1975 chưa hề có được cái hạnh phúc đó. Bao nhiêu thế hệ đều phải sống trong chế độ phi dân dân chủ, không được may mắn có một quốc hội đúng nghĩa đại diện cho dân. Trong chế độ độc tài toàn trị hiện hành nhà nước cho ra đời một loại " Dân Chủ XHCN" thứ dân chủ rổng ruột, được sơn son mạ vàng bằng lớp sơn dân chủ gỉ hiệu gọi là Dân Chủ XHCN, mà QH là một căn nhà chứa 500 Robot đại diện cho đảng, chưa bao biết đại diện cho dân. Những con Robot này đồng lòng và đồng thuận với đảng csVN. Căn nhà gọi là QH là nơi nuôi dưng những con Robot bằng tiền thuế của nhân dân. Một khi cần sai vặt thì chúng mới cử động, còn không thì im lặng trở về nguyên trạng là đống sắt vô tri vô giác. Chưa bao giờ thấy Quốc Hội của nhà nước độc tài làm hay chuẩn y một đạo luật theo ý nguyện của dân. Những con Robot đại biểu dân chính là những động vật chỉ làm theo ý đảng, nhưng lại bắt dân bầu để che mắt quốc tế và các giai cấp còn đang mê muội về cách hình thành một nhà nước XHCN.

Đệ nhất cộng hoà Việt Nam (1955-1963), với một chính phủ được thành lập sau cuộc trưng cầu dân ý (bầu cử tự do) năm 1955 ở miền Nam Việt Nam. Thủ tướng Ngô Đình Diệm được toàn dân miền nam tín nhiệm thay thế Bảo Đại làm Quốc trưởng. Sau đó Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tổ chức bầu Quốc hội Lập hiến cho Quốc gia Việt Nam. Quốc hội này ban hành Hiến pháp đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hòa. Người đứng đầu là tổng thống Ngô Đình Diệm với lập trường chống cộng sản triệt để. Quốc hội Lập hiến chính thức ban hành Hiến pháp (26/10/1956).https://baovecovang2012.wordpress.com/…/hien-phap-vnch-1956/

Mô hình đa đảng của quốc hội đệ nhất và đệ nhị cộng hòa

Quốc hội có một viện duy nhất gồm 123 dân biểu với nhiệm kỳ ba năm chọn theo từng đơn vị bầu cử. Một số ghế dành riêng cho các sắc tộc thiểu số như năm 1955 thì người Thượng có bốn ghế, đến năm 1959 thì giảm còn hai ghế.
Dân biểu và tổng thống được chọn bằng cách đầu phiếu kín và trực tiếp. Ông Trương Vĩnh Lễ được bầu làm Chủ tịch Quốc hội còn Vũ Quốc Thông làm Phó Chủ tịch và Nguyễn Phương Thiệp làm Tổng Thơ ký.
Tổng số ghế trong quốc hội được chia như sau: Phong trào Cách mạng Quốc gia có 66 ghế, Tập đoàn Công dân Vụ 18, Đảng Công nhân 10, Phong trào Tranh thủ Tự do 7, Đảng Dân chủ Xã hội (đối lập) 2, Đảng Đại Việt (đối lập)1, Độc lập (không liên kết) 19. các dân biểu Quốc hội trải qua 3 đợt tuyển cử năm 1956, 1959, và 1963. Dân biểu đắc cử niên khóa 1963, chưa kịp chấp chính thì xảy ra cuộc đảo chính Tháng Mười Một và sau đó bị bãi nhiệm bởi các tướng lãnh đảo chánh.
Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam (1967-1975) là chính thể dân sự của Việt Nam Cộng Hòa thành lập trên cơ sở của bản Hiến Pháp tháng 4 năm 1967 và cuộc bầu cử tháng 9 năm 1967. Ngày 1 tháng 11 năm 1967 được xem là ngày chính thức thành lập nền Đệ nhị Cộng hòa. Nền đệ nhị cộng hoà là một nhà nước với một quốc hội lưỡng viện: Hạ viện và Thượng Viện

Hiến Pháp 1967 của VNCH
Bầu cử Quốc hội lập hiến vào ngày 3 tháng 9. Theo đó 118 đại biểu đắc cử gồm nhiều thành phần và đến 1 tháng 4 năm 1967 thì ra tuyên cáo bản Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam. Hiến pháp này là cơ sở pháp lý của Việt Nam Cộng hòa cho đến 30 tháng 4 năm 1975.http://www.hqvnch.net/default.asp?id=267&lstid=178
Quốc hội dưới thời Việt Nam Cộng hòa đã thu hút được sự tham gia rộng rãi của nhiều nhóm. Lần bầu Thượng viện đầu tiên đã diễn ra cùng lúc với cuộc bầu cử Tổng thống vào đầu tháng 9-1967. Thượng viện với 60 ghế [nghị sĩ] đã được chọn lựa với một hệ thống liên danh từng mười người một; sáu liên danh thu được nhiều phiếu nhất sẽ đắc cử. Trong số 64 liên danh xin ứng cử có 48 liên danh được chấp thuận. Hai liên danh thuộc nhóm Phật giáo đấu tranh [ gọi là nhóm Phật giáo Ấn Quang] của Thích Trí Quang nằm trong số bị khước từ. Một liên danh Phật giáo ôn hòa được chấp thuận nhưng không thắng cử. Các liên danh của Hòa Hảo, Nguyễn Cao Kỳ và Trương Đình Dzu được chấp nhận nhưng thất cử. Các liên danh đắc cử bao gồm cả những người ủng hộ lẫn chống đối Ngô Đình Diệm, nhưng nói chung họ có thiện cảm với Nguyễn Văn Thiệu.


ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ CHẤP NHẬN PHE PHẬT GIÁO PHÁ HOẠI VÀÒ QH

Ba năm sau, một nửa số thượng nghị sĩ, những người đã hết thời hạn ba năm [nhiệm kỳ thông thường của thượng nghị sĩ là sáu năm và cứ ba năm thì bầu lại một nửa Thượng viện], sẽ ra tranh cử lần nữa hoặc từ nhiệm. Trong cuộc bầu cử Thượng viện năm 1970, mười sáu trong số mười tám liên danh ra ứng cử được chấp thuận và liên danh của nhóm Phật giáo Ấn Quang do Thích Trí Quang đứng đầu là một trong ba liên danh đắc cử. Trong số những nghị sĩ mới sau cuộc bầu cử này có những người theo đạo Hòa Hảo và Cao Đài, một người Khơ me theo Phật giáo Tiểu thừa [Theravada Buddhism hay còn gọi là Phật giáo Nguyên thủy] và một người Chăm theo đạo Hồi. Kết quả bầu cử lần này đã gia tăng đáng kể con số các thượng nghị sĩ đối lập hoặc phê phán Chính phủ
Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.

Quốc Hội VNCH

CÁCH TỔ CHỨC QUỐC HỘI CHXHCNVN

Theo lời Chánh văn phòng Hội đồng bầu cử Quốc gia Nguyễn Hạnh Phúc ( Tổng thư ký Quốc hội Khóa XIII), Mặt trận Tổ quốc đã chọn xong 870 Ứng cử viên Quốc hội khoá XIV gồm 11 người tự ứng cử, 97 người ngoài Đảng, 339 người là phụ nữ, 204 ngươi dân tộc thiểu số, 168 người tái cử và 268 người dưới 40 tuổi. Không có ứng cử viên “Việt kiều” nào được chui đầu vào trò xiếc bầu cử này.
Theo báo Tổ Quốc, số Đại biểu được chọn sẽ là 500 người, nhưng ưu tiên được đảng “đặt đâu dân bầu đó” đã quy họach xong từ trước ngày bầu cử cho tất cả 19 Ủy viên Bộ Chính trị, đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Ông Trọng Lú là một trong số 4 Lãnh đạo chủ chốt, đã được bố trí ứng cử tại đơn vị bầu cử số 1 TP Hà Nội, gồm quận Ba Đình, Hoàn Kiếm và Tây Hồ.
Kế đến là Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân ứng cử tại đơn vị bầu cử số 1, TP Cần Thơ, gồm quận Ninh Kiều, Cái Răng, và huyện Phong Điền.
Người thứ ba là Chủ tịch nước Trần Đại Quang ứng cử tại đơn vị bầu cử số 1 TP HCM, gồm quận 1, quận 3 và quận 4.
Và thứ tư là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ứng cử tại đơn vị bầu cử số 3, TP Hải Phòng gồm quận Kiến An, Đồ Sơn và các huyện An Lão, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo.
15 Ủy viên Bộ Chính trị còn lại từ Thường trực Ban bí thư Đinh Thế Huynh cho đến Bí thư Thành ủy TP HCM Đinh La Thăng cũng đã được chia ghế từ Bắc vào Nam.
Như vậy thì bầu cử làm gì cho tốn tiền và phí phạm thời giờ vàng ngọc của dân? Nhân dân cũng muốn thách đố xem có đơn vị bầu cử nào nào dám đánh trượt người của Bộ Chính trị không để chứng minh cho câu nói “dân chủ thế này là cùng, không thể dân chủ hơn” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 18/1/2016?
Ngặt nỗi đảng đã mắc bệnh đãng trí nên quen chứng nói trước quên sau. Chính báo QĐND cũng đã viết ngày 25/4 (2016): “Nghị quyết số 1135/2016/UBTVQH13, ngày 22-1-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XIV, quy định chi tiết phân bổ ứng cử viên tới từng bộ, ngành, địa phương, người trong Đảng và ngoài Đảng.”
Nhưng báo này đã ma mãnh tìm cách đánh lừa dư luận qua mánh khoé tách vai trò Tổ chức, chọn người và giám sát bầu cử của Mặt trận Tổ quốc, một cơ quan chính trị ngọai vi của đảng, ra khỏi sự lãnh đạo của đảng. QĐND thanh minh khờ khạo rằng: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử… Rõ ràng ở đây, không thấy có quy định nào nêu liên quan đến vai trò của tổ chức đảng hay cho phép Đảng “đạo diễn”, “lũng đoạn” bầu cử.”
Nếu không “đạo diễn”, không “lũng đoạn bầu cử” thì tại sao Mặt trận Tổ quốc địa phương đã kéo công an, gia đình họ và những cư dân lạ mặt đến tham gia các cuộc đấu tố các ứng cự viên tự do để loại họ?
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, dù trong chiến tranh nhưng không làm gì có các trò ma bùn và lạc hậu này. Câu nói “đảng lãnh đạo bầu cử nhưng không làm thay” chỉ đúng nếu các cơ quan được trao trách nhiệm làm thay đảng không phải của đảng, do đảng và vì đảng mà làm như từ mấy chục năm qua. Các Đại biểu Quốc hội thời VNCH, cả đối lập, độc lập và thân Chính phủ đều đã có những đóng góp lập pháp gía trị lịch sử trong tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế cho đến văn hoá và xã hội.
Vì vậy trong suốt 20 năm, dù phải hy sinh xương máu để bảo vệ chế độ chống lại cuộc xâm lăng của đảng CSVN từ miền Bắc được Nga-Tầu và Cộng sản Quốc tế đứng sau yểm trợ thúc đẩy, nhân dân miền Nam vẫn nghiêm túc thi hành luật pháp để xây dựng và củng cố nề nếp sinh họat của một Chế độ Dân chủ Pháp trị. Các Dân biểu và Nghị sỹ thời VNCH đã tranh luận thẳng thắn, đôi khi gay gắt và chỉ trích Chính phủ không tiếc lời, hoặc xa hơn còn mở các cuộc điều tra, đề nghị cách chức các viên chức Hành pháp và Tư pháp phạm pháp luật.

Ngược lại thì như lịch sử “vàng son” của Quốc hội nhà nước CSVN đã chứng minh, trong tất cả các khóa Quốc hội chỉ có một số rất nhỏ, chừng dưới 20 người trong tổng số 500 Đại biểu hay ít hơn, đã dám chất vấn Thủ tướng hay các thành viên của Chính phủ khi họ ra điều trần trước Quốc hội. Số đông còn lại chỉ biết “ngồi chơi xơi nước” hay “ngậm miệng ăn tiền dân”. Tệ hại hơn, không thiếu Đại biểu “mở Ipad chơi game”, ngũ hay làm việc riêng cho hết giờ rồi đi mánh mung hay chạy áp phe kiếm thêm lợi tức ngoài vùng phủ sóng cho cá nhân.

CHÙM ẢNH VẬN ĐỘNG TRANH CỬ TRONG BẦU 
KHÔNG KHÍ TỰ DO DÂN CHỦ CỦA VNCH















Lê Kim Anh biên khảo, 19/5/2016

Khu Trục cơ A-1 Skyraider

A-1 Skyraider
Chiếc Douglas A-1 (trước đây là AD) Skyraider (Kẻ cướp trời) là một máy bay ném bom cường kích một chỗ ngồi của Hoa Kỳ trong những năm 1950, 1960 và đầu những năm 1970. Một chiếc máy bay động cơ piston cánh quạt lạc loài trong thời đại phản lực, Skyraider có một khoảng thời gian phục vụ dài và thành công kéo dài đến tận thời đại không gian, là nguồn cảm hứng cho việc thiết kế các kiểu máy bay cường kích phản lực thế hệ mới có cánh thẳng và bay chậm hiện vẫn còn đang phục vụ trên tuyến đầu.
Nó được mang hằng loạt các tên lóng khác nhau: "Spad" (vì giống những kiểu máy bay trong Thế Chiến I), "Able Dog", "Destroyer," "Hobo", "Firefly", "Zorro", "The Big Gun," "Old Faithful," "Old Miscellaneous," "Fat Face" (AD-5/A-1E, hai chỗ ngồi cạnh nhau), "Guppy" (AD-5W), "Q-Bird" (AD-1Q/AD-5Q), "Flying Dumptruck" (A-1E), "Sandy" (hộ tống máy bay trực thăng tìm kiếm và giải cứu) và "Trâu Điên" (Nam Việt Nam).

Nghiên cứu và phát triển

Chiếc A-1 ban đầu được thiết kế nhằm đáp ứng những yêu cầu vào cuối Thế Chiến II về một kiểu máy bay ném bom bổ nhào/ném ngư lôi tầm xa một chỗ ngồi có tính năng cao hoạt động trên tàu sân bay. Được thiết kế bởi Ed Heinemann của hãng Douglas Aircraft Company, Skyraider được đặt hàng vào tháng 7 năm 1944 dưới tên gọi XBT2D-1. Đến tháng 4 năm 1945, một tháng sau chuyến bay đầu tiên ngày 18 tháng 3 năm 1945, nó được thử nghiệm đánh giá tại Trung tâm Thử nghiệm Không lực Hải quân Patuxent River (NATC). Đến tháng 12 năm 1946, sau khi được đổi tên thành AD-1, chiếc máy bay sản xuất đầu tiên được giao và trang bị cho hạm đội thuộc Phi đội VA-19A.
AD-1 được chế tạo tại nhà máy El Segundo của hãng Douglas ở Nam California. Trong quyển hồi ký The Lonely Sky, phi công thử nghiệm Bill Bridgeman mô tả công việc thường nhật nhưng đôi khi cũng nguy hiểm của việc kiểm nhận AD-1 vừa mới ra khỏi dây chuyền sản xuất (với tốc độ hai chiếc mỗi ngày) để giao cho Hải quân Hoa Kỳ trong khoảng thời gian 1949-1950.
Thiết kế cánh đơn gắn thấp bắt đầu với kiểu động cơ Wright R-3350 bố trí hình tròn, sau này được nâng cấp nhiều lần. Đặc điểm phân biệt là sự hiện diện của bảy đế gắn trên mỗi cánh. Cánh thẳng và to cho phép có độ cơ động ở tốc độ chậm thật xuất sắc, và cho phép nó mang một lượng vũ khí rất lớn với tầm bán kính chiến đấu và thời gian trên không khá so với kích thước của nó, so sánh với những chiếc phản lực cận âm hay siêu âm nặng hơn nhiều. Chiếc máy bay được tối ưu cho nhiệm vụ tấn công mặt đất, và có vỏ giáp bảo vệ các điểm trọng yếu chống lại hỏa lực từ mặt đất, không giống như những máy bay tiêm kích nhanh hơn được cải tiến để mang bom như chiếc F4U Corsair hay P-51 Mustang, vốn bị cho nghỉ hưu khỏi các lực lượng quân đội Hoa Kỳ sớm trước những năm 1960.
Chiếc máy bay cánh quạt động cơ piston Skyraider là sự tiếp nối những máy bay ném bom bổ nhào và ném ngư lôi thời Thế Chiến II như Helldiver và Avenger. Nó được thay thế trong thập niên 1960 bởi chiếc A-4 Skyhawk trong vai trò máy bay tấn công hạng nhẹ chủ lực của Hải quân. Được sử dụng tại Triều Tiên và một thời gian ngắn trên bầu trời Bắc Việt Nam, nó được dùng làm máy bay tấn công hỗ trợ mặt đất chủ lực của Không quân Mỹ và Không quân Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam, trước khi được thay thế bởi các kiểu máy bay phản lực A-37 Dragonfly và A-7 Corsair II.

Lịch sử hoạt động

A-1E Skyraider bay trong đội hình trên bầu trời Nam Việt Nam trên đường đến mục tiêu, ngày 25 tháng 6 năm 1965. Những máy bay này thuộc Phi đoàn 34 Chiến thuật, đóng tại Biên Hòa, Nam Việt Nam.




Chiến tranh Triều Tiên


Cho dù Skyraider được sản xuất quá trễ để tham gia Thế Chiến II, nó trở thành máy bay nòng cốt của các cuộc tấn công từ các tàu sân bay Hải quân Mỹ và của lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (USMC) trong Chiến tranh Triều Tiên, và những chiếc AD đầu tiên hoạt động cất cánh từ tàu sân bay USS Valley Forge. Tải trọng vũ khí chiến đấu và thời gian bay trên không 10 giờ của nó vượt xa mọi kiểu máy bay phản lực có được lúc đó. Vào ngày 16 tháng 6 năm 1953, một chiếc AD-4 thuộc Phi đội VMC-1 Thủy quân Lục chiến do Thiếu tá George H. Linnemeier và Thượng sĩ Vernon S. Kramer lái đã bắn rơi một chiếc máy bay cánh kép Xô Viết Polikarpov Po-2, là chiến công duy nhất của Skyraider trong cuộc chiến này.[1] Trong Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), A-1 Skyraider chỉ do Hải quân và Thủy quân Lục chiến sử dụng, và thường được sơn màu xanh biển đậm. Có 101 chiếc AD Skyraider bị mất trong chiến đấu, và 27 chiếc do lỗi kỹ thuật, nâng thành tổng cộng 128 Skyraider thiệt hại trong Chiến tranh Triều Tiên.

Chiến tranh Việt Nam





Cho dù các phi đội hoạt động trên tàu sân bay nhanh chóng chuyển sang các loại máy bay phản lực, A-1 Skyraider vẫn được sử dụng như là máy bay cường kích tầm trung tại nhiều phi đội cho đến năm 1965 khi những chiếc A-6A Intruder bắt đầu dần dần thay thế chúng. Skyraider tham gia các trận tấn công đầu tiên vào Bắc Việt Nam, nhưng chúng được thay thế sau đó bởi Intruder. Skyraider của Hải quân Mỹ bắn rơi hai chiếc máy bay tiêm kích phản lực Mikoyan-Gurevich MiG-17 do Xô-viết sản xuất, một chiếc vào ngày 21 tháng 6 năm 1966 do Đại úy Clinton B. Johnson và Trung úy Charles W. Hartman III (chiến công chung) của Phi đội VFA-25, và một chiếc nữa vào ngày 9 tháng 10 năm 1966 bởi Trung úy William T. Patton của Phi đội VA-176.[1] Sau khi chấm dứt hoạt động trong Hải quân Mỹ, Skyraider được chuyển cho Không quân Nam Việt Nam (VNAF) và cũng được Không quân Mỹ sử dụng vào một trong những vai trò nổi bật nhất của Skyraider là hộ tống máy bay trực thăng "Sandy". Thiếu tá Không quân Hoa Kỳ Bernard F. Fisher lái một chiếc A-1E trong một phi vụ vào ngày 10 tháng 3 năm 1966 trong đó ông được tặng thưởng Huân chương Danh dự vì đã giải cứu Thiếu tá "Jump" Myers khỏi một doanh trại của Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ tại thung lũng A Shau. Đại tá Không quân William A. Jones, III cũng được tặng thưởng huân chương Danh dự trong một phi vụ trên chiếc A-1H ngày 1 tháng 9 năm 1968, trong đó, cho dù máy bay bị hư hại nghiêm trọng còn bản thân bị bỏng nặng, ông đã điều khiển máy bay quay trở về căn cứ và báo cáo địa điểm rơi của một máy bay đồng đội.


Tương phản với Chiến tranh Triều Tiên một thập niên trước đó, tại Việt Nam, Không quân Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng những chiếc A-1 Skyraider Hải quân lần đầu tiên. Khi cuộc chiến tiếp tục kéo dài, những chiếc A-1 Không quân được sơn màu ngụy trang, trong khi những chiếc A-1 Skyraider Hải quân được sơn màu xám/trắng; lại cũng không giống màu xanh dương đậm được dùng trong Chiến tranh Triều Tiên.
Không quân Mỹ bị mất tổng cộng 201 chiếc Skyraider do mọi nguyên nhân tại Đông Nam Á, và Hải quân mất thêm 65 chiếc do mọi nguyên nhân. Trong tổng số 266 chiếc A-1 bị mất, 5 chiếc bị bắn rơi bởi tên lửa đất-đối-không (SAM), 3 chiếc bị mất do không chiến trong đó có hai chiếc do MiG-17 của Không quân Bắc Việt Nam bắn rơi. Chiếc A-1 đầu tiên bị bắn rơi ngày 29 tháng 4 năm 1966, và chiếc thứ hai ngày 19 tháng 4 năm 1967; cả hai đều thuộc Phi Đội ACS-602. Chiếc A-1 Skyraider thứ ba thuộc Phi đội VA-35 bị một chiếc MiG-19 (J-6) Trung Quốc bắn rơi ngày 14 tháng 2 năm 1968. Trung úy Hải quân Joseph P. Dunn đã lái chiếc A-1 Skyraider đến quá gần đảo Hải Nam thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và bị đánh chặn. Chiếc A-1 Skyraider của Trung úy Dunn là chiếc A-1 Hải quân cuối cùng bị mất trong chiến tranh, và anh ta đã tử trận. Không lâu sau đó, các phi đội A-1 Skyraider Hải quân chuyển sang sử dụng A-4 Skyhawks.


Sưu Tầm Vị Mặn Quê Hương 16/5/2016

Tưởng Niệm Vị Anh Hùng Khu Trục Th/Tá Nguyễn Gia Tập - Trần Ngọc Nguyên Vũ

by:Hội Quán Phi Dũng



Tiểu sử Th/tá Nguyễn Gia Tập:

Thiếu tá Nguyễn Gia Tập sinh năm 1943, gia nhập Không Quân năm 1964 thụ huấn khoá 64D phi hành, sau đó đã tốt nghiệp T-28 ở Randolph AFB, Texas, và tốt nghiệp TopGun khoá A-1H ở Hurlburt Field, FL.

Sau khi hoàn tất các khoá huấn luyện về nước anh được chuyển về phục vụ ở Phi Đoàn 514, 518 Biên Hoà. Anh là một phi công rất lẫy lừng, lập rất nhiều chiến công trong các chiến dịch hành quân cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn. Sau đó anh đã được tuyển chọn để làm sĩ quan liên lạc cho trường bay huấn luyện Keesler, Hoa Kỳ. Trong thời gian nầy anh đã góp công rất nhiều vào việc giúp đỡ, chỉ dẫn các SVSQ yếu kém để khỏi bị loại vì thiếu khả năng bay bổng. Hết nhiệm kỳ anh trở về phục vụ tại Khối Đặc Trách Khu Trục/BTLKQ.

Vào ngày 30 tháng tư năm 75, sau khi nghe được lệnh buông súng đầu hàng của TT Dương văn Minh, Th/tá Nguyễn Gia Tập đã rút súng bắn vào mình tự sát, quyết thà chết chứ không để rơi vào tay kẻ thù.

Trong quân chủng Không Quân, có Th/tá Nguyễn Gia Tập cũng là một anh hùng vị quốc vong thân. Ngày 30-4-75, như các danh Hùng tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú. Cái chí khí đầy kiêu hùng bất khuất của Th/tá Nguyễn Gia Tập rất xứng đáng là một anh hùng liệt sĩ chết vinh, không sống nhục. Đó củng là gương soi cho hậu thế!

*****

Buổi Phong Thần…

(Nhân ngày Quốc-Hận! Xin thắp một nén nhang lòng, cúi đầu tưởng-niệm đến những chiến-sĩ anh-hùng của QLVNCH đã hy-sinh cho lý-tưởng tự-do của dân-tộc, và xin nghiêng mình chiêm-ngưỡng cái chết bi-tráng của Thiếu-Tá KQ Nguyễn Gia-Tập, Phi-công khu-trục A1. Trong giây phút vô-cùng tuyệt-vọng của đất nước, anh đã hiên-ngang mỉm cười, lấy máu mình hòa cùng với những dòng máu bất-khuất khác để gỉải oan, và rửa hờn cho Quân-Lực oai-hùng của miền Nam Việt Nam. Tổ-Quốc tri-ân các anh!)

Trần Ngọc Nguyên Vũ
*****

Tôi vẫn nợ anh một lời trăn-trối
Buổi chia-ly cạnh vũng máu bên đường
Anh kiêu-bạc vẫy tay chào vĩnh-biệt
Nhắn nhủ ngày về giải-thoát quê-hương.

Anh lính chiến những anh-hùng bất-tử
Đã bao lần nối gót bước tiền-nhân
Cơn quốc biến hy-sinh cho đại-cuộc
Để ngàn sau chiêm-ngưỡng buổi phong thần.

Nơi anh nghỉ có Hồn Thiêng Sông Núi
Cùng cỏ cây ru mãi khúc tình-ca
Ôi thương qúa bản tình-ca dân-tộc
Mấy mùa đau theo vận nước nhạt-nhòa.

Trong hiu-quạnh ngậm-ngùi cho thế-sự
Trên hoang-tàn đổ nát cuộc tang-thương
Đêm buông xuống vành khăn sô quằn-quại
Nấm mồ hoang ai nhỏ lệ canh trường.

Anh lính chiến tên anh còn vọng mãi
Trên từng trang quân-sử thật bi-hùng
Dòng huyết-sử tuôn trào như thác đổ
Khóc anh-hùng phiêu-dạt cõi mông-lung.

Anh lính chiến nghe chăng lời tâm-nguyện
Rồi một ngày khi đất nước an-hòa
Xin được đến qùy chân bên mộ-chí
Lễ giải oan hồn tử-sỹ thăng-hoa.

Trần Ngọc Nguyên Vũ
(Tháng Tư oan-nghiệt!)
Vị Mặn Quê Hương đăng lại 16/5/2016
MÔN SINH VOVINAM LÀM GÌ ĐỂ PHỤC VỤ 

DÂN TỘC VÀ NHÂN LOẠI ?
#

Người môn sinh Vovinam đừng bao giờ ôm nếp nghĩ "môn phái Vovinam không làm chính trị" nên làm ngơ và đứng ngoài trước mọi chuyễn động của xã hội, phó thác mọi trách nhiệm cho các giai cấp khác. Vậy thì trái tim từ ái, trí tuệ (bộ não) và bàn tay thép của một môn sinh để nơi đâu? người môn sinh dùng động cơ gì để thực hiện tốt điều tâm niệm số 1 của Vovinam: "Việt Võ Đạo sinh nguyện đạt tới cao độ của nghệ thuật để phục vụ dân tộc và nhân loại"?
Muốn phục vụ tốt dân tộc và nhân loại người môn sinh VVN cần có trái tim thật phong phú về nhân bản và một bộ não sáng suốt để giúp đời và phục dân tộc, hảy khoan đề cập tới phục vụ nhân loại. Không có được một trái tim và trí tuệ (não bộ) tốt, thì đừng nên nói đến vấn đề phục vụ cho dân tộc. Bộ não tốt rất cần trong việc phân biệt được đúng sai - chính tà để định hướng cho con đường phục vụ dân tộc và nhân loại.
Một khi đã không phục vụ được gì cho dân tộc, thì sao còn xứng với một môn sinh Vovinam đúng nghĩa, xứng đáng với tôn chỉ môn phái mà sáng tổ và các bậc tiền bối trong VVN đã đề ra. Muốn phục vụ tốt cho dân tộc người môn sinh cần có một trái tim từ ái, biết đau với cái đau chung của dân tộc. Thái độ đứng đắn nhất là sau khi luyện tập và bước ra khỏi võ đường người môn sinh còn phải làm tròn chử hiếu với cha mẹ, xây dựng tốt mối quan hê tốt anh chị em trong gia đình...ngoài ra còn phải làm tròn bổn phận của một công dân. Vậy thì bổn phận công dân trong người môn sinh như thế nào?
Bổn phận của một công dân đúng nghĩa là phải giúp nước khi sơn hà nguy biến biết phân biệt đâu là cường quyền, phân biệt được đâu là nẻo chánh tà mà định được hướng đi vào lòng dân tộc. Người môn sinh chân chính còn phải biết dấn thân vào một số công việc phục vụ lợi ích xã hội, vì người môn sinh không thể sống bên lề xã hội. Không phải chỉ biết sống cho mình mà còn phải sống cho người cho đời, có như thế mới hoàn thành được mục đích cao độ là phục vụ dân tộc và nhân loại. Có làm được các việc đó thì người môn sinh VVN mới làm sáng tỏ được điều tâm niệm số 8 của môn phái: Việt Võ Đạo sinh kiện toàn ý chí đanh thép để thắng phục cường quyền và bạo lực.
Lối sống của một môn sinh VVN phải là một lối sống mạnh, sống sao cho thật xứng đáng, vì mổi một môn sinh đương nhiên là một phần tử của xã hội nên phải có bổn phận phải gánh vác việc xã hội, đó là trách nhiệm chung, không thể vịn vào bất cứ lý do nào để thối thoát.

Thực tế hiện nay người môn sinh VVN trong nước và một phần lớn ở Hải ngoại đã cúi đầu vô cảm với cường quyền và bạo lực. Hơn bốn thập niên vừa qua, rất hiếm hoi các môn sinh VVN ý thúc được điều tâm niệm số 8 của môn phái, chỉ biết mình mà không biết người, trái tim từ ái không bao giờ biết đau với cái đau của mẹ VN. Hàng ngày chỉ biết đến võ đường để luyện tập cho phình to cơ bắp, không hề biết bồi dưỡng trí tuệ ( bộ não) bằng bảo bối dựng môn của võ sư sáng tổ đó là " hệ tư tưởng Cách mạnh tâm thân" để có được nếp sống sao cho xứng đáng với cách sống của một môn sinh VVN đúng nghĩa. "CMTT" được coi là bảo bối trấn môn của sáng tổ Nguyễn Lộc là kim chỉ nam của môn phái Vovinam, có thể coi đó là cái xương sống của VVN-VVĐ.

SỐNG
Sống tủi làm chi đứng chật trời?
Sống nhìn thế giới hổ ai chăng?
Sống làm nô lệ cho người khiến?
Sống chịu ngu si để chúng cười?
Sống tưởng công danh, không
tưởng nước.
Sống lo phú quý chẳng lo đời,
Sống mà như thế đừng nên sống!
Sống tủi làm chi 
đứng chật trời?
(Phan bội Châu)



CÁCH MẠNG TÂM THÂN:

Qua võ sử Vovinam, chúng ta đều biết sáng tổ Nguyễn Lộc lớn lên trong hoàn cảnh đất nước đang bị cai trị bởi bọn thực dân Pháp, giữa lúc các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc- rầm rộ phát triển trên khắp các miền đất nước. Ông phê phán và lên án gắt gao dã tâm của bọn thực dân, và Ông có quan niệm muốn đưa cuộc cách mạng dân tộc đến chỗ thành tựu, cần phải gây cho thanh niên một tinh thần dân tộc, một ý thức học tập tu dưỡng, một ý chí quật cường, một nghị lực quả cảm, song song với một thân thể khỏe mạnh, vững chắc, có sức chịu đựng bền bỉ, dẻo dai, có đầy đủ khả năng tự vệ hữu hiệu. Đó là TÂM của sáng tổ để hình thành hệ tư tưởng "Cách Mạng Tâm Thân" sau này.
Mang hoài bão lớn lao ấy trong TÂM , nên ngoài việc trau dồi học vấn và đạo đức, Ông còn nỗ lực học hỏi, nghiên cứu, luyện tập nhiều môn võ thuật khác nhau cuối cùng hình thành môn phái VVN trong lòng dân tộc vào thời điểm đất nước đang còn dưới ách thống trị của cường quyền Pháp đang áp đặt trên đất nước VN. Ông đã không chạy theo cường quyền để vinh thân phì da mà ngược lại ông đã đứng về phía dân tộc. Thấm nhuần hệ tư tưởng CÁCH MẠNG TÂM THÂN, võ sư sáng tổ đã hoà mình vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc bằng một chiến lược lâu dài, mới mẽ - với ước mơ đem dân tộc thoát khỏi sự cai trị của bạo quyền thực dân. Theo quan niệm đó của ông, một môn sinh VVĐ muốn đứng vững trong lòng dân tộc thì phải đưa TÂM vàoTHÂN, để đồng hành với những thăng trầm của đất nước Sáng tổ Nguyễn Lộc với cái "Tâm cách mạng", ông đã cố gắng đào tạo một lớp người mới toàn vẹn bằng cách luyện tập VVN để có thân cường tráng, sức khoẻ phong phú, một bàn tay thép rắn chắc, một trái tim từ ái và một cái tâm Việt đạodược trang bị bằng truyền thống cứu nước chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta.
Khi võ sư Nguyễn Lộc khởi xướng chủ thuyết “Cách mạng Tâm Thân” song hành với các chính đảng thời đó đề chống Pháp giành độc lập, ông đã lôi cuốn được rất nhiều quần chúng yêu nước đương thời với đủ các thành phần trong xã hội khác nham gia phong trào Vovinam yêu nước-chống Pháp vào thời đó. Tham khảo chủ thuyết CMTT tại link:
http://kimanhl.blogspot.de/…/CH%E1%BB%A6%20THUY%E1%BA%BET%2…



Sáng tổ Nguyễn Lộc cũng bất hợp tác với Việt Minh, đến năm 1954 ông đã dẩn gia đình và một số môn đồ tâm huyết di cư vào nam để tránh nạn cộng sản. Ông mất tại Sài Gòn năm tháng 4/1960, sau đó môn phái tiếp tục phát triển tại miền nam một cách mạnh mẻ. Đến năm 1975, một lần nửa gia đình và một số môn đồ cột trụ của môn phải theo chân sáng tổ phu nhân và bào đệ vs Nguyễn Lộc, tức là cố vs Nguyễn Dần, đào thoát khỏi VN đến Hoa kỳ định cư, sáng tổ và gia đình sáng tổ cùng với một số võ sư cao đẳng không hề cộng tác với chính quyền do người cộng sản dựng lên trên đất nước VN.

SỰ VÔ CÃM VỚI DÂN TỘC VÀ TỔ QUỐC CỦA CÁC MÔN SINH VVN

Một điều đáng buồn nhất trong bối cảnh hiện tại cho tương lai một VN hạnh phúc trong tự do và dân chủ để sánh vai cùng thế giới văn minh. Môn sinh VVN thấm nhuần tư tưởng Cách Mạng tâm Thân của môn phái, không thể nào chỉ sống ích kỷ trong khuôn khổ của môn phái mà phải vươn mình ra xã hội để giúp đời mang lại sự công bằng cho dân tộc trước cường quyền và bạo lực, phải rộng mỡ trái tim từ ái cùng với các giai cấp khác giúp cho xã hội có một môi trường sạch để cùng nhau hít thở, sống tốt, sống khoẻ..

Kể từ đầu tháng tư 2016 đến nay, một biến động xã hội gây hoang mang cã nước vì môi sinh bị xâm hại , cá chết khắp nơi thuộc vùng biển miền trung VN, ngư dân bị thất nghiệp, an toàn về lương thực bất ổn định trong cuộc sống hàng ngày làm ảnh hưởng dây chuyền đến các phạm trù khác trong việc sản xuất hải sản, du lịch, y tế..v..v. Thế nhưng, thái độ của người môn sinh VVN ngày hôm nay phần lớn là khoanh tay ngồi nhìn các biến động trong dòng chảy của xã hội mà mình đang sống? Không một tiếng nói dù là nhỏ nhất để lấy lại công bằng cho dân oan hay tiếng nói cho một môi trường sạch chung quanh cuộc sống của mình cũng không có. Như vậy có xứng đáng là một môn sinh chính thống của VVN hay không?
Có thể nói, hàng ngũ Vovinam quốc doanh trong nước đang tiếp tay với bạo quyền cộng sản VN để đào tạo những thế hệ khiếp nhược trước giặc xâm lược, các võ sư Vovinam quốc doanh theo lệnh đảng, mài móng vuốt cho hàng ngũ CAND thêm sắc bén, huấn luyện và đào tạo một lớp người vừa ÁC với dân vừa HÈN với giặc xâm lược Tàu Cộng.....tạo oan khiên khắp 3 miền đất nước. Đáng khinh bỉ nhất là những môn sinh hiện nay có mặt trong hàng ngũ Công An, các môn sinh thuộc lực lượng Thanh niên xung phong của thành phố HCM, họ là những môn sinh đang ngược lại với lời lời giáo huấn của môn phái và sáng tổ Nguyễn Lộc. Với những môn sinh này, theo tôi, không nên đặt bàn tay thép lên quả tim từ ái để nghiêm lễ với các đồng môn khác và với các vị võ sư đã khuất như sáng tổ Nguyễn Lộc, hai vị võ sư chưởng môn đời II Lê sáng và đời III Trần Huy Phong.
Những người môn sinh này, không bao giờ có được trái tim từ ái, vì họ yêu cường quyền thay vì phải khử trừ cường quyền để giúp dân giúp đời. Họ đã bán trái tim từ ái cho đảng cộng sản, để trở thành một công cụ bạo lực của chế độ chuyên chế hiện hành. Công việc hàng ngày của các môn sinh phản đồ này đang ra tay bạo hành và đàn áp những người yêu nước khắp nơi. Tại sao tôi gọi họ là phản đồ vì họ đã không biết rèn luyện để Tâm và Thân hoà hợp, để thực hiện đúng những điều tâm niệm số 1 và số 8 của môn phái. Họ không hề biết yêu nước, mà chỉ biết mù quáng chạy theo đảng bán nước buôn dân Mafia, dâng trái tim từ ái cho bọn người tam vô ( vô gia đình, vô tổ quốc, vô thần ). Với những môn sinh VVN này chỉ làm thối rửa hàng ngủ môn phái VVN. Là những người trẻ VVN tôi rất khinh những người môn sinh này.
Tóm lại, muốn trở thành một môn sinh Vovinam đúng nghĩa thì phải biết và hiểu thấu đáo Chủ thuyết "Cách mạng tâm thân",đó một án văn hay được coi là bảo vật trấn môn, một chuơng trình hành động thực tế trong các sứ mệnh cứu nước và xây dựng các thế hệ thanh niên rường cột cho đất nước, để luôn có thế đứng trong lòng dân tộc. Chủ thuyết CMTT còn là hành trang cần thiết để thực hiện tốt điều tâm niệm số 1 và 8 của môn phái và là hành trang chủ đạo trong việc đấu tranh cho Dân Chủ Tự Do, cho công bằng, cho nhân bản...đem Việt tộc lên một tầm cao mới để Việt tộc rạng danh trời đông. Nghiêm lễ!

Môn sinh Nguyen Thi Hong 14/5/2016

VÌ SAO CHÚNG TA PHẢI THAM GIA BIỂU TÌNH!!

Biểu tình để bày tỏ yêu sách của người dân về biển sạch hay chống sự xâm lược là những hành động yêu nước chính đáng mà mọi công dân không vô cãm trước vận mệnh đất nước cần phải tham gia triệt để. Vì đó là một phương tiện để nói lên nguyện vọng hay sự phản đối của dân chúng xuống đường, trong các vấn đề như việc khiếu kiện về việc nhà cầm quyền lạm dụng quyền hành trong việc trưng thu nhà đất của người dân, và việc khiếu kiện không được giải quyết thỏa đáng, đôi khi phải chớ một thời gian quá dài quá lâu vì hệ thống tham nhũng trong hàng ngủ lãnh đao là một loại rể chùm. Biểu tình có thể là tuần hành, tọa đàm hay gồm thêm tuyệt thực, thắp nến, canh thức....
Tại VN, văn bản luật pháp cao nhất là Hiến pháp năm 2013 - Chương II: Quyền Con Người, Quyền Và Nghĩa Vụ Cơ Bản Của Công Dân.Trích Điều 25: 
"Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định  "http://vanbanphapluat.tinphapluat.com/hien-phap-viet-nam-2013/hien-phap-nam-2013-chuong-ii-quyen-con-nguoi-quyen-va-nghia-vu-co-ban-cua-cong-dan_t12-c026-a233-m14.html
Như vậy đi biểu tình là một hàng động hợp pháp có ghi trong HP 2013. Tuy nhiên với một chính thể độc tài độc đảng như CHXHCNVN, thì quyền này thường hay bị nhà cầm quyền lạm dụng, đưa đến việc đánh đập, bắt bỏ tù người tham gia biểu tình. 
Trước việc lạm dụng này của các lực lượng đàn áp-một công cụ tay sai của nhà nước, những nạn nhân có thể truy tố việc trấn áp người biểu tình ra trước toà án. Một tổ hợp luật sư miển phí tại thành phố HCM sẳn sàng giúp các nạn nhân làm đơn truy tố các hành vi phạm pháp này ra trước pháp luật (xin xem danh sách các luật sư giúp đở miển phí trong bài viết ĐÁM CON HOANG ĐÀN ÁP THÔ BẠO NGƯỜI BIỂU TÌNH tại :http://vothilinh.blogspot.de/)
Chúng ta phải có bổn phận lên tiếng!
CHXHCNVN do đảng độc tài cai trị nên họ kiểm soát tất cã truyền thông trong nước, các quan chức và các đại biểu '' nhân dân '' là của họ. Người dân thắc mắc, bất bình trước một sự bất công hay cảnh môi trường sống bị nhiễm độc hại, ảnh hưởng đến người dân và con cháu của họ, tiền bạc gia đình của người dân, nhưng họ không được phát biểu mà chỉ được nghe những lời bất cập của những người lãnh đạo ngu dốt, đó là những thông tin dùng để bao che cho cái dốt, bất tài, khả năng kém cỏi trong việc điều hành đất nước, bao che vì quyền lợi của đảng thay vì quyền lợi của dân tộc và tổ quốc VN. Bản chất của nhà nước hiện nay là tập đoàn tay sai của thiên triều "hèn với giặc ác với dân", với một bản chất phản động như vậy, nên nhà nước cộng sản không ngần ngại những hành động cho dù phi nhân họ cũng có thể làm.


Chính vì thế chúng ta không thể ngậm miệng để sự việc nghịch lý này tồn tại mãi được, chúng ta cần phải có bổn phận lên tiếng hoặc làm điều gì đó để cho dư luận quốc tế, các nhà ngoại giao đang có mặt trong nước và giới báo chí thấy được ý dân là không đồng thuận với việc làm của đảng độc tài, phi nhân. Đó là hành động để đánh động với thế giới về việc CHXHCNVN vi phạm trầm trọng về vấn đề nhân quyền. Việc kiểm soát truyền thông của nhà nước cộng sản như thế, người dân không còn cách lựa chọn nào để thể hiện thái độ của mình, ngoài việc phải tham gia biểu tình, mặc dù đó là việc bất đắc dĩ phải làm vì môi trường sạch cho cá sống, sinh mạng của ngư dân và cho chính nhân dân cã nước - đồng thời đó là việc bảo vệ sự trường tồn của Việt tộc trong vấn đề sử dụng hải sản không bị nhiễm độc trong bửa ăn hàng ngày.
Đi biểu tình không đồng nghĩa với việc chống đối chế độ, hay chống phá ai. Đơn giản là người dân biểu lộ mong muốn nhu cầu chính đáng của người dân là môi trường sống được trong sạch hơn, không bị ngày càng tệ hại đi. Không có ai vô cớ mà đi biểu tình. Đi biểu tình là hành đợng rất chính đáng nhằm phản đối sô nhiễm môi trường xuất phát từ các nhà thầu ngoại quốc đang kinh doanh trên nước ta gây ra, nhưng không theo qui định an toàn của quốc gia.


Một nhà nước thật sự dân chủ và vì dân không có lý do gì để ngăn cản việc làm chính đáng đó của người dân. Nơi các nước văn minh trên thế giới, nhà nước thường tôn trọng ý kiến chính đáng của các người biểu tình. Nhưng tại VN vi nhà cầm quyền là những đỉnh cao hèn, họ dùng những lực lượng Cảnh Sát, An Ninh, Công An, Thanh Niên Xung Phong để đàn áp người tham gia biểu tình, dư biết rằng đó là việc làm đi ngược lại với lòng dân. Với chủ trương vì quyền lợi của đảng trên quyền lợi của nhân dân và tổ quốc nên họ không ngần ngại đánh đập người biểu tình dù cho đó là ôn hoà...Ngoài ra họ còn dùng những thủ đoạn hè hạ khác như tung ra những tin vu khống, nói xấu về động cơ biểu tình để làm người tham gia biểu tình bị lung lay tinh thần và lo sợ làm sai đi quan điểm chính đáng của người dân.
Công An hay nhân viên ninh bất cứ lực lượng râu ria nào của nhà nước chẳng có lý do nào để bắt người tham gia biểu tình vào tù vì tội biểu tình chống ô nhiễm môi trường. Tới nay với khả năng của các lực lượng này chỉ có thể câu lưu nhiều lắm là vài ba trăm người, sau đó họ lại phải thả ra sau 24 tiếng, họ không có khả năng để bắt cã ngàn người biểu tình.

NHỮNG ĐIỀU CẦn BIẾT KHI BỊ GIAM GIỬ.
Bạn sẽ trả lời những câu hỏi về lý lịch, đấy là thủ tục mà bất kỳ ai bị vào đồn công an đều gặp phải. Sau đó đến câu hỏi động cơ bạn có mặt ở nơi bạn bị bắt. Tiếp đó họ hỏi bạn về quan hệ người này, người kia. Rồi sau chót họ giảng dạy về việc biểu tình là vi phạm pháp luật, vi phạm nghị định 38 về tụ tập đông người. Màn chót sẽ là đảng và nhà nước đang nỗ lực giải quyết, ông thủ tướng mới đang quyết liệt chỉ đạo, các bộ ngành đang khẩn trương, đã mời chuyên gia nước ngoài thẩm định...vì đây là vấn đề lớn...cần có thời gian..cần phải cẩn trọng.

Cuối cùng bạn sẽ ra về khi nghe họ đọc quyết định xử phạt hành chính mức cảnh cáo vì tội gây rối trật tự. Cho dù bạn không ký, không trả lời, không nhận gì cả. Sẽ vẫn có một cái biên bản xử phạt như thế, một cái biên bản mà bạn không bao giờ nhìn thấy. Thường thì họ chỉ đọc cho bạn nghe, nếu họ bắt bạn ký thì họ phải có một bản cho bạn lưu lại. Họ lại không muốn bạn có bản lưu nên sẽ không gắng ép bạn phải ký. Một khi bạn đã không ký thì cái biên bản đó vô giá trị, sở dĩ nó vô giá trị vì không phải bạn chống đối không ký, mà tại họ không làm đúng thủ tục là đưa cho bạn một bản để bạn đọc và lưu lại.
Trong trường hợp bị bắt, bạn hãy yên tâm một điều, sẽ không quá 24 giờ là bạn được về. Cho nên không việc gì phải nôn nóng, sợ hãi. Công an lúc nào ăn bạn cũng sẽ được ăn, thậm chí khi họ hút thuốc lá trong phòng làm việc thì bạn cũng tự nhiên lấy thuốc lá của mình ra hút. Lúc này điện thoại của bạn bị họ thu và kiểm tra, dù bạn có chống cũng không lại vì công an đông hơn bạn nhiều lần.  Tốt nhất là nên đặt mã khoá cho điện thoại đời mới, thoát khỏi mail, Facebook và xoá những hình ảnh, tin nhắn không cần thiết trước khi đi biểu tình.
Trong khi bị hỏi cung, nếu có tài bạn hãy diễn thuyết về môi trường, về thực phẩm, không khí độc hại càng dài càng tốt, nhớ là chỉ xoay quanh vấn đề này thì nên nói thật lực, thật nhiều. Còn chuyện khác thì hạn chế không biết, không nghe , không thấy bao nhiêu tốt bấy nhiêu.
Nếu bạn rành tí về chuyên luân hồi quả báo, bạn cứ tự nhiên mà diễn thuyết đề tài này. Nó cũng rất có ích trong đồn công an, nơi mà họ quá khô cứng vì những mệnh lệnh của chủ nghĩa vô thần.
Hoặc bạn trình bày một cách khoa học, các thông số, các chỉ số này nọ về tác hại môi trường. Bảo đảm 99% người hỏi cung bạn mù tịt về chuyện này, nên bạn có thể bịa ra cũng được. Nhưng bạn đừng để họ cắt lời, bởi vì chính họ hỏi bạn về động cơ đi biểu tình, bạn lấy lý do là đang kể dộng cơ vì sao bạn đi bt nên không cho phép họ cắt lời. Trong luật hỏi cung quy định cán bộ hỏi cung phải ghi lại những gì bạn trả lời. Đến tối bạn đương nhiên sẽ được về nhà.
Một chút thiển ý, giúp bạn cảnh giác trước các hành động đàn áp thô bạo của một nhà nước chuyên chế. Chúc các bạn thật nhiều thành công và chân cứng đá mềm!
Formosa! Formosa!
Hồi chuông báo tử đảng ma gọi hồn
Giữa đêm sâu thẳm mỏi mòn
Hồi chuông lanh lảnh lạnh lùng vang lên
Đánh thức nòi giống Rồng Tiên
Qua cơn ác mộng triền miên hãi hùng.
(Trích thơ Phan Huy-Hồi chuông báo tử )

Võ thị Linh 12/52016