Powered By Blogger

MỘT SINH HOẠT CHÍNH TRỊ VĂN MINH CAO Đ VỀ DÂN CHỦ TỰ DO TRONG QUỐC HỘI VNCH (ĐỆ NHỊ)

Sau cuộc đảo chánh 1/11/1963, một thời kỳ loạn quan quân, các tướng lãnh  QL.VNCH thay nhau chỉnh lý để lên nắm quyền lực  miền nam VNCH, cho đến  tháng 9/1966 mới có tổ chức một cuộc bầu cử trên toàn lãnh thổ VNCH để chọn 117 dân biểu cho Quốc Lập Hiến  của nền đệ nhị cộng hoà, nhằm mục đích soạn thảo một bản Hiến pháp chính thức mới, quy định trở lại một nhà nước dân sự kết thúc thời k quân quản. 

Một Ủy ban soạn thảo Hiến pháp đã nghiên cứu và tham vấn nhiều bản Hiến pháp khác nhau, đặc biệt là Pháp, Mỹ, Nhật Bản và Nam Hàn. Công tác lập hiến lần này nhận được nhiều sự hỗ trợ từ Quốc tế, đặc biệt là Mỹ.

Bản Hiến pháp thứ 7 này (kể từ Hiến pháp 1956 và các Hiến pháp Lâm thời trong thời loạn quan loạn quânđã được công bố vào 01/04/1967. Hiến pháp 1967 lập ra một thể chế với người lãnh đạo là Tổng thống, được bầu trực tiếp từ dân, hai cơ quan lập pháp là Hạ Viện và Thượng Viện (lưỡng viện), bên cạnh đó là một cơ quan tư pháp độc lập - Gọi là Tam Quyền Phân Lập cho một nền dân chủ tự do cao độ, mang tính đa nguyên, có giá trị sánh ngang với những bản hiến pháp của các cường quốc văn minh nhất của thế giới tự do. Chấp nhận cho đám đâm sau lưng VNCH như Thiech Trí Quang, cộng sản như ở đơn vị Định Tường, có một ứng cử viên tên là Trần Tuấn Nhậm, cũng đắc cử dân biểu trong kỳ pháp nhiệm đầu.

Trong khi chxhcnVN chưa bao giờ có một cuộc bầu cử nào, dám để cho đối lập VNCH tham gia ứng cử, nhưng cứ luôn miềng mạ lỵ VNCH là ngụy quyền (?). Vậy thì quốc hội Pắc Bó cũng chỉ là thứ bịp bợm về tính dân chủ của chế độ độc tài toàn trị hiện nay, một thứ tà quyền còn sót lại trong thế giới văn minh ngày nay. 

Tương tự như nền Đệ nhất Cộng hòa, Điều 113 quy định Quốc hội lập hiến 1966 sẽ đảm nhiệm quyền lập pháp cho đến khi Quốc hội lập pháp đầu tiên của nền đệ nhị cộng hoà được triệu tập. Dù diễn đạt bằng ngôn ngữ khác nhưng rõ ràng, ở trường hợp này phương án , hậu lập hiến, Quốc hội lập hiến sẽ trở thành Quốc hội lập pháp vẫn được lựa chọn áp dụng.


TÍNH DÂN CHỦ TỰ DO TRONG NỀN ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ:

Miền nam VN là một chế độ thật sự dân chủ tự do đúng nghĩa với trên 38 Phong Trào, Liên Minh, Mặt Trận, Chính đảng... cùng tham gia sinh hoạt với chính quyền, để cùng chia sẽ trách nhiệm với những người gốc quân nhân trong QL.VNCH. Tính đến năm 1970 thì chính trường Miền Nam có chín chính đảng hoạt động chính thức. Đó là:

1.Việt Nam Nhân xã Cách mạng Đảng.
2.Lực lượng Đại Đoàn kết
3.Đại Việt Cách mạng Đảng
4.Việt Nam Quốc Dân Đảng, Xứ Đảng bộ Miền Nam
5.Việt Nam Quốc dân Đảng Thống Nhất
6.Mặt trận Nhân dân Cứu nguy Dân tộc
7.Phong trào Quốc gia Cấp tiến
8.Tập đoàn Cựu Chiến sĩ Hòa Hảo Dân xã
9.Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng.

Trong lần bầu cử Quốc hội Lập hiến đầu tiên của nền đệ nhị cộng hoà năm 1967, có 532 ứng cử viên ra tranh cử 117 ghế, tổng cộng cử tri đi bầu là 4,274,872 người, chiếm 81% cử tri ghi danh.

Thượng Viện có 60 ghế nghị sĩ, bầu theo liên danh lần đầu bầu 60 người, cứ 3 năm bầu lại 30 người.

Hạ Viện thì cứ 50,000 dân sẽ có 1 ghế dân biểu, mỗi 4 năm bầu lại một lần, trong cuộc bầu cử pháp nhiệm 1 (1967-1971) tổ chức vào tháng 10/1967, có hơn 1,150 ứng cử viên tranh 137 ghế dân biểu.

Pháp nhiệm 2 (1971-1975) nhờ tình hình an ninh ở nông thôn tốt hơn nên có thêm hơn 1.3 triệu người ghi danh đi bầu nâng tổng số cử tri lên đến 7,086,000 người và có 5,567,446 cử tri đi bầu với tỉ lệ 79%.

Số ứng cử viên ra tranh cử Hạ Viện lần 2 là 1,242 cho 159 ghế, riêng tại thủ đô Sài Gòn đã có 175 ứng cử viên ra tranh cử cho 13 ghế.


Tại đơn vị thủ đô Sài Gòn ứng cử viên mang số 85, tên là Trần Tuấn Nhâm dùng khẩu hiệu "Chống Mỹ Cứu nước" chính sách "Xã hội Chủ nghĩa con đường duy nhất giải phóng dân tộc" để tranh cử và đã thất cử.

Phía cộng sản, một mặt tìm mọi cách để phá hoại các cuộc bầu cử và đe dọa, khủng bố cử tri đi bầu, nhưng mặt khác lại ngấm ngầm đưa người ra tranh cử và tìm mọi cách để ứng cử viên của họ thắng cử.

Tại đơn vị Định Tường có dân biểu Nguyễn văn Dậu thắng cử pháp nhiệm (1967-71), ông Dậu đã công khai lập trường theo cộng sản và đã sử dụng quyền bất khả xâm phạm của Dân biểu để treo cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam và treo hình Hồ Chí Minh tại nhà.

Hồi ký của Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn cho biết khi ông Nguyễn văn Dậu tái tranh cử Hạ Viện năm 1971 có 1 đại đội cộng sản đột nhập về xã Xuân Sơn lùa dân vào đình làng buộc dân phải bỏ phiếu cho ông Dậu, nhưng kết quả ông Dậu vẫn thua.

Ông Nguyễn Bá Cẩn đắc cử dân biểu cả hai pháp nhiệm, trong pháp nhiệm 2 ông được bầu làm chủ tịch Hạ Viện chức vụ đứng thứ 4 thời Việt Nam Cộng Hòa chỉ sau: (1) Tổng thống; (2) Phó Tổng thống và (3) chủ tịch Thượng Viện.

Ông Cẩn cho biết khi vận động tranh cử ở thôn quê đơn vị Định Tường, ông đều phải hết sức kín đáo cho đến phút cuối, vì nếu cộng sản biết được họ sẽ cho du kích đến khủng bố và có thể giết ông nếu được.

Trong hoàn cảnh chiến tranh các con số trên cho thấy người dân miền Nam rất tích cực tham gia cả bầu cử lẫn ứng cử.


ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ CHẤP NHẬN PHE PHẬT GIÁO PHÁ HOẠI VÀO QH

Trong cuộc bầu cử Thượng viện năm 1970, mười sáu trong số mười tám liên danh ra ứng cử được chấp thuận và liên danh của nhóm Phật giáo Ấn Quang do Thích Trí Quang đứng đầu là một trong ba liên danh đắc cử. Trong số những nghị sĩ mới sau cuộc bầu cử này có những người theo đạo Hòa Hảo và Cao Đài, một người Khơ me theo Phật giáo Tiểu thừa [Theravada Buddhism hay còn gọi là Phật giáo Nguyên thủy] và một người Chăm theo đạo Hồi. Kết quả bầu cử lần này đã gia tăng đáng kể con số các thượng nghị sĩ đối lập hoặc phê phán Chính phủ

Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”

Trong quốc hội thượng và hạ viện các Ứng cử viên thì hết sức đa dạng có người thân chính phủ, người đối lập, người độc lập, có người chống cộng triệt để, cũng có người âm thầm hay công khai theo cộng sản, hoặc khối Phật Giáo phá hoại Ấn Quang và có luôn người được Mỹ ủng hộ đưa vào tranh cử, như vậy mới mang tính dân chủ tự do đích thực. 

Đây chính là việc làm mà người cộng sản rất sợ, nên Bộ Chính Trị mới sửa đỗi thành dân chủ XHCN để bịp dân - thể hiện được bản chất của một thứ tà quyền, độc tài  phi dân chủ,  một thứ dân chủ mà sân chơi chỉ có đảng viên đảng cộng sản, người dân bị tước hết mọi quyền căn bản về chính trị như bầu cử, ứng cử. 

Quốc hội VNCH vào thời điểm năm 1974 ở Thượng Viện có 41 nghị sĩ thân chính phủ, 19 nghị sĩ đối lập, còn ở Hạ viện có 84 dân biểu thân chính phủ, 59 đối lập và 16 độc lập.

Các dân biểu ở Hạ Viện và nghị sĩ ở Thượng Viện có quan điểm và chính sách chung hợp thành từng Khối, các Khối đã liên kết bên trong mỗi Viện và giữa hai Viện để tạo sức mạnh ảnh hưởng vào chính sách quốc gia.

Vào năm 1971, chỉ chừng 15 đến 20% các dân biểu và nghị sĩ là thuộc các đảng chính trị, nhưng ngay cả cùng một đảng các dân biểu và nghị sĩ gia nhập các Khối khác nhau tùy theo quan điểm chính trị cá nhân và địa phương họ đắc cử.

Sau Hiệp định Paris 1973 có thêm đảng Công Nông và đảng Dân Chủ được thành lập với mục đích là cạnh tranh với đảng Cộng Sản nếu có bầu cử tự do.

Đảng Công Nông quy tụ các đoàn viên nghiệp đoàn, ông Nguyễn Bá Cẩn được bầu làm tổng thư ký, còn ông Trần Quốc Bửu là chủ tịch.Các dân biểu và nghị sĩ thuộc đủ mọi tôn giáo, nhưng tỉ lệ lên đến 40% là người Công giáo trong khi số người đạo Công giáo ở miền Nam chỉ chưa đến 10%.

Chiếu theo Hiến pháp thì Hạ viện phải có 6 ghế dành cho người Việt gốc Khmer, 6 người Thượng, 2 người Chàm, và 2 người thuộc sắc tộc thiểu số miền núi Bắc Việt di cư vào Nam, cũng có một số người Việt gốc Hoa ra tranh cử và đã đắc cử vào Hạ Viện.

Nhìn chung Quốc Hội rất đa sắc tộc, đa nguyên, đa đảng và đa dạng hơn các quốc gia khác trong khu vực rất nhiều.

Trong Quốc Hội cũng có những thành phần Cộng sản nằm vùng…

Theo Ông Nguyễn Bá Cẩn đã có đưa ra vụ việc hai dân biểu thân CS, Hoàng Hồ và Nguyễn Thế Trúc bỏ trốn ra ngoại quốc khi mạng lưới tình báo của Huỳnh Văn Trọng và Vũ Ngọc Nhạ bị phá vỡ.

Dân biểu Trần Ngọc Châu là cựu Trung tá Quân đội, bị bắt vào tháng 2/1970 vì tội liên lạc với anh của ông là một gián điệp cộng sản với bằng chứng được quay phim, nên Hạ viện truất bỏ đặc quyền miễn tố của dân biểu Châu với 102/135 phiếu thuận.

Dân biểu Đinh Văn Đệ là cựu Đại tá Quân đội, bị tình báo VNCH phát hiện là khi làm Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng đã chuyển giao nhiều tài liệu tối mật cho cộng sản.

Ngoài ông Nguyễn văn Dậu nói bên trên, còn có ông Nguyễn Công Hoan thuộc đơn vị Phú Yên cũng nằm vùng cho cộng sản nhiều người biết nhưng không có bằng chứng.

Sau 30/4/1975 ông Hoan lại được chính quyền mới cho ra tranh cử Quốc Hội nhưng sau ông vượt biên sang Mỹ tị nạn.

PHIÊN HỌP CUỐI CỦA QUỐC HỘI VNCH ĐỆ NHỊ

Sau khi ông Nguyễn Văn Thiệu từ chức, ông Trần Văn Hương lên thay. Trước QH ngày 26/4/1975, Tổng thống Hương nói đã mời ông Dương Văn Minh ra làm thủ tướng, nhưng ông không chịu mà muốn chức Tổng thống.

Ông Hương trả lời ông Minh là không thể trao quyền cho ông ấy vì còn có Quốc hội và phải tuân theo Hiến Pháp vì thế ông cho Quốc hội biết để mọi người bàn tính và quyết định (xem bài về chủ đề này).

Chiều 27/4/1975 Lưỡng viện Quốc hội đã họp phiên họp cuối cùng, để ra quyết định (1) chính thức cho Tổng thống Trần Văn Hương từ chức; và giải quyết việc  trao quyền cho  Dương Văn Minh.

Một tiết lộ từ Ông Nguyễn Bá Cẩn cho biết, hầu hết các nghị sĩ và dân biểu phe đối lập đã chống lại việc trao quyền cho tướng Minh, vì như thế là vi hiến và họ nghĩ rằng ông Minh không đủ tài ba để giữ nước và sẽ làm mất nước vào tay cộng sản.

Chiểu theo Điều 56 Hiến pháp khi Cụ Hương từ chức, Chủ tịch Thượng Viện là ông Trần Văn Lắm sẽ phải tạm thời giữ vai trò Tổng thống.

Theo Điều 105 quyết định sửa đổi Hiến pháp phải hội đủ hai phần ba (2/3) tổng số dân biểu và nghị sĩ, nhưng con số tham dự chỉ có 138 người, không đạt 2/3 tổng số theo luật định (146) nên Quốc Hội không có quyền thể sửa Hiến pháp. Cho dù có sửa được HP 1967,  quốc hội không đũ tư cách để làm công việc trao quyền chọ một tổng thống không được toàn dân bầu cử.

Cũng theo ông Nguyễn Bá Cẩn quyết định trao quyền cho tướng Minh chẳng khác nào các dân biểu và nghị sĩ Quốc hội đã đồng ý vi phạm Hiến Pháp 1987 , và khai tử nền Đệ nhị Cộng hòa vào tối ngày 27/4/1975.

Biên khảo từ Vũ Thái An, người lính VNCH 18 October 2023

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét