Powered By Blogger
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Nhà máy điện Chợ quán. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Nhà máy điện Chợ quán. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

  NHÀ ĐÈN CHỢ QUÁN - KÝ ỨC TUỔI THƠ CỦA TÔI 

Vào giửa thập niên 50 của thế kỷ XX, tôi đã từng sống và lớn lên ở cù lao Chánh Hưng quận 8 Sài Gòn, một vùng ven đô Sài Gòn. Thời ấu thơ, kể từ lúc bắt đầu khai trí cho đến khi lên đại học cuộc đời tôi đã gắn bó với vùng cù lao này, nơi mà 2 con sông đã chia cắt vùng đất này với điạ phận Chợ Quán.

Khi bắt đầu đi học, tôi đã theo học ở trường tiểu học Chợ Quán nằm trên đường Trần Hưng Đạo, vì khi đó cù lao Chánh Hưng chưa có một trường học nào, kể luôn bên kia bờ sông Phạm Thế Hiển cũng không vì là vùng đất tân lập. 

Hàng ngày khi còn đến trường để học cấp tiểu học, tôi phải đi bộ từ cư xá Chánh Hưng dọc theo bờ sông kinh đôi rồi qua đò ở bến Ba Đình. Nơi tôi ở, muốn qua vùng Chợ Quán, nơi đây, có 2 con đò ngang đưa người từ Chánh Hưng qua chợ Hoà Bình, một ngôi chợ khá lớn vào thời đó. 

Sau khi qua đò, tôi lội dọc theo bên hông chợ Hoà Bình để đến trường. Đây là ngôi trường mà tôi đã theo học hết bậc tiểu học, đến khi lên trung học thì tôi học tại trường Trung Học ở ngay trung tâm thành phố, không xa Chợ Bến Thành và nhà thương Sài Gòn.

NHÀ ĐÈN CHỢ QUÁN

Khi lên bậc trung học, tôi theo học ở trường một trung học, ngay trung tâm Sài Gòn. Hàng ngày muốn đến trường thì tôi phải theo đường Hưng Phú , leo lên cầu chử Y rồi đổ dốc cầu xuống đường Nguyễn Biểu. Cuối dốc cầu chử Y bên tay mặt là nhà đèn Chợ Quán. Chạy theo Nguyễn Biểu, khi đụng đường Trần Hưng Đạo ngay rạp hát Văn Cầm - Nancy , queo phải rồi chạy dọc theo đường Trần Hưng Đạo để đến trường.  Nhà đèn Chợ Quán là nơi mà mổi sáng đi học tôi đều phải đi ngang qua. Nhà đèn CQ và lò Heo Chánh Hưng, nơi cung cấp thịt heo, bò... cho dân Sài Gòn Chợ lớn, đã theo tôi suốt chiều dài học trung học, mổi ngày tôi phải ngang qua đó 2 lần.


Cầu chử Y ngày nay

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NHÀ ĐÈN CHỢ QUÁN

Năm 1896, công ty Société d´Électricité de Saigon (SEVS) được thành lập để cung cấp điện cho thủ đô của Nam Kỳ. Cũng trong năm đó, công ty đã khai trương trạm phát điện xoay chiều đầu tiên trên đường Nationale (nay là đường Hai Bà Trưng). Vị trí này năm 1967 là trụ sở công ty Sài Gòn Điện Lực của VNCH. Từ năm 1908, công ty SEVS bắt đầu cung cấp điện chiếu sáng cho đường phố Sài Gòn, ban đầu được giới hạn chỉ ở vùng trung tâm thành phố. Năm 1909, công ty CEE đã mua lại SEVS như đã nhắc tới, và độc quyền phân phối cả điện và nước cho 3 thành phố lớn nhất Nam Kỳ và Campuchia cho đến ngày 31/12/1967.

Nhà đèn Chợ Quán là một công trình lịch sử lâu đời hàng trăm năm gắn liền với người dân Sài Gòn xưa như tôi. Người Sài Gòn không mấy ai mà không biết đến địa danh Chợ Quán, nơi đây còn có một nhà thương cho những người bị bệnh điên (tâm thần). Chợ Quán là tên của một xứ đạo hình thành vào khoảng cuối thế kỷ 18. Nơi vùng này có nhà thờ Chợ Quán xây dựng từ 1887 đến 1896 – một trong những nhà thờ lâu đời nhất tại Sài Gòn. Trước 1975 vùng Chợ Quán thuộc điạ phận Sài Gòn giáp ranh với Chợ Lớn, thuộc 2 quận nhì và quận năm.

Nhà đèn Chợ Quán hoàn thành năm 1896, được xem là một biểu tượng của nền kỹ nghệ tân thời  vào cuối thế kỷ 19, nó còn tiêu biểu một sự tiến bộ của ngành nhiệt điện của người Pháp và là một trong số ít những công trình của dấu ấn về nền kỹ thuật phương Tây sớm có mặt trên đất Đông Dương, thuộc điạ của Pháp.




Nhà đèn Chợ Quán nằm trên Bến Hàm Tử, ngay đầu của Kinh Đôi, nhà đèn này nằm ngay vị trí  quay mặt ra sông Bến Nghé – con sông thông thương giữa sông Sài Gòn, vùng Bến Nghé với vùng Chợ Lớn và đi về miền Tây. Đây là nhà máy phát điện quan trọng của Đô Thành Sài Gòn- Chợ Lớn và Gia Định.

Đứng trên cầu chử Y người ta sẽ thấy được toàn cảnh của nhà máy phát điện Chợ Quán, còn gọi là nhà đèn Chợ quán. Cái tên nhà đèn là cái tên mà dân Sài Gòn xưa thường gọi vì nó gắn liền với lịch sử chiếu sáng của đèn đường Sài Gòn. 


Từ năm 1867 ở Sài Gòn, đèn ngoài đường phố ở Sài Gòn được thắp sáng ở khu trung tâm bằng dầu dừa, nhưng ba năm sau, đến năm 1870, dầu dừa được thay bằng dầu lửa (dầu hôi)Đèn dầu lửa được sử dụng để thắp sáng Sài Gòn tron mấy chục năm. Đến đầu thế kỷ 20, điện phát triển bắt đầu từ khi nhà đèn Chợ Quán hoạt động, đèn đường được được thắp sáng bằng đèn điện, đồng thời cũng thắp sáng các nhà dân trong thành phố mở ra một giai đoạn mới về việc chiếu sáng từ trong nhà đến đèn đóm ngoài đường cho tới ngày hôm nay.




Vào năm 1897, Sài Gòn đã có một nhà máy điện đầu tiên nằm trên đường Nationale, nay là đường Hai Bà Trưng ngay phía sau toà nhà Quốc Hội (Hạ Viện) VNCH . Tuy nhiên nhà máy phát điện này lúc bấy giờ có công suất điện phát ra chỉ đũ dùng để thắp sáng đường phố và các công thự thuộc phạm vi khu trung tâm thành phố. Từ đó, một số con đường ở thành phố Sài gòn như mở ra một chân trời mới khi đường phố được thắp đèn bằng điện, sáng rõ khắp các con đường. Sài Gòn có đến 867 bóng điện nóng, 67 đèn hồ quang. Điều này cho thấy Sài Gòn đã mở đầu một thành phố phát triển bậc nhất lúc bấy giờ. Đèn hồ quang là đèn tạo ra ánh sáng bằng hồ quang điện. Ánh sáng hồ quang carbon, bao gồm một vòng cung giữa các điện cực carbon trong không khí, đã được Humphry Davy phát minh trong thập kỷ đầu tiên của thập niên 1800, là loại đèn điện sáng chế đầu tiên. Loại đèn này được sử dụng rộng rãi bắt đầu từ những năm 1870 cho chiếu sáng đường phố và tòa nhà lớn cho đến khi nó được đèn sợi đốt thay thế vào đầu thế kỷ 20.

Đến năm 1912, Công ty Điện Nước Đông Dương (Compagnie des Eaux et d'Electricité de l'Indochine, viết tắt là CEE) đưa vào sử dụng nhà máy điện trung tâm đặt tại Chợ Quán, ngay vị trí giáp ranh hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, cạnh cầu chử Y, trên bến Hàm Tử. CEE là Công ty Điện nước Sài Gòn. Công ty này được thành lập năm 1900 dưới thời thuộc địa Pháp, lúc đầu cung cấp nước cho vùng Sài Gòn, Chợ Lớn và Phnom Penh (Campuchia). Năm 1909, công ty này mua lại một công ty điện khác - chính thức trở thành nhà cung cấp điện nước cho Sài Gòn, Chợ Lớn và Phnom Penh.



Nhà máy điện Chợ Quán bắt đầu hoạt động từ năm 1913, để có thể cung cấp điện cho toàn bộ thành phố Sài Gòn, thành phố Chợ Lớn, hai khu vực Tân Sơn Nhứt, Phú Thọ và tỉnh lỵ Gia Định. Theo tờ báo La Presse coloniale illustrée năm 1927, nhà máy điện Chợ Quán có công suất 7.000 CV (tương đương 5.000 kW), gồm máy phát điện xoay chiều với tua bin, tạo ra dòng điện ba pha 7.000 V.

Thời Việt Nam Cộng hòa, tại miền Nam chính quyền cho mở rộng nhà máy điện Chợ Quán và xây dựng thêm hai nhà máy nhiệt điện Thủ Đức, Trà Nóc (Cần Thơ). Cuối năm 1974, công suất nhà máy nhiệt điện Chợ Quán đạt 55 MW Nhà đèn Chợ Quán xây dựng vào năm 1922 với công suất đủ dùng cho nhu cầu của Sài Gòn – Chợ Lớn và một số thị trấn phụ cận như Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, đồng thời từ lúc này  hầu hết các đường phố Sài Gòn – Chợ Lớn đều được chiếu sáng bằng điện của “nhà đèn” Chợ Quán.

XE ĐIỆN SÀI GÒN 

Khi Sài Gòn có điện để thắp sáng từ trong nhà ra đến ngoài đường, thì trên đướng bộ người ta thấy có những chiếc xe điện chạy kêu leng ken trên các đường phố Sài Gòn cũng được xây dựng.

Xe điện ở Sài Gòn bắt đầu hoạt động vào đầu thập niên 1880. Trước đó Sài Gòn chưa có hệ thống điện công cộng nên xe chạy bằng đầu máy hơi nước, lò đốt bằng than hoặc củi khi chạy vừa bốc khói vừa thỉnh thoảng phun hơi nước ra nên dân chúng gọi đó là “xe lửa”. Còn người Pháp gọi là “tramway”. Công ty đầu tiên đầu tư vào hệ thống xe lửa nội đô Sài Gòn - Chợ Lớn là Société générale des tramways de vapeur de Cochinchine (SGTVC) và chính thức hoạt động vào ngày 27-12-1881.

Xe thường có một hoặc hai toa, tùy theo thời điểm đông hay ít khách. Mỗi toa có hai băng ghế dài sát vách toa xe, còn lại là khoảng trống hành khách có thể đứng, để đồ đạc...Hành khách của xe điện hầu hết là người bình dân, người buôn bán.

Xe chạy rất chậm, có thể chạy theo nhảy lên, mỗi khi xe sắp ghé trạm hoặc rời ga thì có tiếng chuông leng keng.

Mười năm sau, năm 1890, Công ty đường sắt Đông Dương (Compagnie Francaise de Tramways de l’Indochine viết tắt là CFTI) ra đời.

Công ty này đầu tư đường xe điện  “đường xe lửa mé sông”, chạy từ đường Nguyễn Huệ dọc rạch Bến Nghé xuống Bình Tây.

Sau đó, từ năm 1892 đến 1913, CFTI đã mở nhiều tuyến xe điện Sài Gòn - Hóc Môn đi qua Đa Kao, Tân Định, Bà Chiểu; Sài Gòn - Phú Nhuận và tuyến Gò Vấp - Búng (Lái Thiêu), sau đó kéo dài lên tận Thủ Dầu Một (Bình Dương) và một đoạn lên tận Lộc Ninh để phục vụ việc chuyên chở cao su, thường được gọi là “tuyến đường cao su”.

CFTI đã mua lại SGTVC và mở tuyến Sài Gòn - Chợ Lớn đi từ đầu đường Hàm Nghi đến chợ Bình Tây với bảy ga, bắt đầu hoạt động vào năm 1925.

Xe điện hình dáng thon gọn hơn, màu sơn rất đẹp. Trên đầu xe có cái cần câu điện bằng thép cao khoảng 2 mét hình chữ U lật ngược, khi xe chạy thì rà theo đường dây điện chạy dọc theo đường rầy, xẹt ra tia lửa xanh xanh đỏ đỏ vui mắt. Chiếc xe chỉ có một toa, vừa là đầu máy vừa là toa chở khách. Toa xe có hai đầu, không có đuôi. Hai bên thành xe còn có hình quảng cáo, phổ biến nhất là: “Một viên Cửu Long Hoàn bằng 10 thang thuốc bổ” của nhà thuốc Võ Văn Vân, thuốc dưỡng thai Nhành Mai, dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín và kem đánh răng Hynos. Bên trong xe có hai dãy ghế bằng gỗ nằm dọc theo chiều dài xe. Khoảng trống ở giữa khá rộng nên hành khách – đa số là giới bình dân – kẻ đứng người ngồi chồm hổm. Xe chạy khá chậm, sắp tới trạm nào thì kêu leng keng.

Khách lên xe phải mua vé bằng tấm bìa cứng, màu xanh đậm, hình chữ nhật, khổ cỡ ba phân, dài sáu phân. Lên xe đưa cho nhân viên soát vé, họ xé ở một cạnh hình tam giác, coi như vé đã dùng xong. Ngày đó vé là thứ đồ chơi phổ biến của con nít Sài Gòn, đứa nào cũng thích sưu tầm cả xấp để chơi tạt giấy. Đặc biệt là vé mua ở ga nào thì có hình logo của ga đó vẽ trên một tấm bảng trắng bằng kim loại tráng men, theo kỹ thuật làm đồ pháp lam vốn chịu được mưa nắng nhờ lớp men phủ bảo vệ kim lọai bên trong. Ga Sài Gòn có logo hình con cò trắng, ga An Bình có hình con khỉ, ga Arrat Cống Quỳnh hình… cây cào cỏ và ga Chợ Lớn có hình… cái xe bồ ệch (theo tiếng Tây brouyette tức là xe cút kít).

Vào trong xe, khách có thể thấy một ông tài xế không lái xe mà luôn luôn đứng, không ngồi như tài xế thông thường, làm nhiệm vụ giật cái gọng xe điều khiển xe dừng lại hay chạy tới. Phía sau lưng ông có một cái bảng bằng men trắng chữ đen ghi rõ bằng ba thứ tiếng Pháp, quốc ngữ và bằng chữ… Nôm. Nội dung “Xin đừng nói chuyện với người coi máy”. Do có hai đầu, khi xe đi theo chiều ngược lại, ông tài xế trở qua đầu kia lái tiếp. Do tốc độ chậm, khách đi xe thường nhảy ra khỏi xe khi gần đến ga. Kinh nghiệm là lúc đó phải bước xuống bậc thấp nhất, quay đầu nhìn về phía cuối xe và bước xuống.

Khoảng năm 1953, hệ thống xe điện Sài Gòn coi như ngưng hoạt động vì sự tranh chấp giữa chính quyền và nhóm Bình Xuyên của Bảy Viễn.

Và đến năm 1955 chính quyền Việt Nam cộng hòa chấm dứt các hợp đồng xe điện Sài Gòn với CFTI, nên các hoạt động của xe điện ở Sài Gòn không còn nửa. Thay vào đó là một mạng lưới xe Bus, xe Lam ( Lambro) được thay thế rộng khắp Sài Gòn.




SỰ TUYÊN TRUYỀN LÁO KHOÉT CỦA CỘNG SẢN VỀ TÌNH TRẠNG ĐIỆN Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975

Nhìn lại sự phát triển nhà máy điện ở Sài Gòn, để thấy điện được xử dụng rất sớm ở VN. Sài gòn với những nhà máy phát điện cũng đã được Pháp xây dựng trước các nhà máy phát điện ở Hà Nội và miền Bắc. 

Theo như trang báo điện tử của đảng cộng sản VN phát hành ngày 5.5.2021 (hình phía trên) nói về tinh trạng điện ở miền nam trước năm 1975: "Năm 1954, tổng công suất đặt ở miền Nam vào khoảng 53,84 MW, người dân miền Nam hầu như chưa có điện." Cộng sản mà không dối trá xuyên tạc, bóp méo lịch sử hay đổi trắng thay đen thì không phải là cộng sản. Dân miền nam trước 1975, còn sống rất nhiều - ai là người miền nam, khi thấy đảng tuyên truyền một cách thô bỉ như thế này này, sẽ nhìn ra ngay được bản chất gian trá, ích kỷ, hẹp hòi, bần tiện của cái gọi là bên thắng cuộc với những đỉnh cao kinh hoàng về đổi trắng thay đen lịch sử, để che lấp cái bần của csBắc Việt khi chiếm được miền nam VN. Tất cả sự thật về VNCH đều bị đổi trắng thay đen.

Ý của tuyên giáo là miền nam trước 1975 là một vùng khỉ ho cò gáy, dân sống tối tăm vì không có điện, nên cần phải được đảng ta "giải phóng" (?). Bên thắng cuộc đã tuyên truyền lố bịch về miền nam, hòng xoá đi cái tủi thân của người miền bắc phải cơ cực trước sự đoạ đày của bác và đảng, đưa đến sự nghèo khó, cơ cực trước 1975, sau đó còn kéo dài đến gần cuối thế kỷ 20. 

CỘNG SẢN BẮC VIỆT ĐÃ CHÔM CHỈA 2 TURBINE CỦA NHÀ MÁY PHÁT ĐIỆN THỦ ĐỨC SÀI GÒN ĐỂ ĐEM RA BẮC XỬ DỤNG.

Đây là nhà máy phát điện được xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 1966 ở phiá bắc cách Sài Gòn 15 km, nằm bên canh xa lộ Biên Hoà (bây giờ là xa lộ Hà Nội), thuộc điạ phận quân Thủ Đức cách.

Năm 1966: Turbin hơi nước số 1 đầu tiên hoạt động có công suất 33 MW

Năm 1968: Turbin số 2 có công suất 15,0 MW bắt dầu hoạt động.

Năm 1970: Hai Turbin số 3 và 4 có công suất mỗi turbin có công suất 17 MW đưa vào vận hành phát điện. 

Năm 1979 hai turbin số 3 và 4 này đã b tháo gở và đem ra miền Bắc lắp đặt cho Hải Phòng.

Bài viết để vạch trần sự xuyên tạc sai lịch sử về sự cung cấp điện của miền nam trước 1975 của miền nam VN bởi hệ thống tuyên truyền báo chí và truyền thông , truyền hình dưới sự chỉ đạo củ cái gọi là Tuyên Giáo TW. Họ tuyền truyền Không riêng về phạm vi điện, mà tất cả về: kinh tê, chinh trị, giáo dục, y tế.... đều bị bóp méo sai sự thật. Đây là hình ảnh về nhịp sống của Sài Gòn, vùng đất phát triển có GDP hơn Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan và nhiếu nước khác cùng thời so với VNCH vào thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ 20.

Nguời lính già xa quê hương Trịnh Khánh Tuấn 4.7.2023

MẠNG LƯỚI CUNG CẤP ĐIỆN CỦA VNCH ĐẢ BỊ ĐÁM ĐẦU LĨNH PẮC BÓ VÀ TRUYỀN THÔNG GIA NÔ XUYÊN TẠC VÀ BÓP MÉO .

Trong khả năng còn hạn hẹp, người viết cố gắng bốc mẻ bọn Việt gian cộng sản và truyền thông gia nô xuyên tạc, bóp méo sự thật về nguồn năng lượng của miền nam VN trước 1975, để các bạn nào muốn nghiên cứu về nguồn năng lượng của VNCH như thế nào từ 1955 đến tháng 4/1975.

Tổng quát về mạng lưới điện của miền nam VN trước chiến tranh chỉ có một công trình thủy điện duy nhất là Ankroet cung cấp cho thành phố Đà Lạt còn lai đều là nhiệt điện, không có mạng lưới chung cho toàn miền nam, các địa phương đều độc lập về nguồn cung cấp năng lượng. Đến năm 1958, các nhà máy điện đều là nhà máy điện than. công xuất chỉ ở mức 100.000Kw, sản xuất 230 triệu kw/giờ. 80% điện là cung cấp cho vùng Sài Gòn. Hầu hết 75% các nóc gia trên toàn quốc đều chưa có điện để tiêu dùng.còn lại 20% cho các doanh nghiệp sản xuất.

Cuối năm 1960, hổ trợ cho miền nam 80 máy phát điện chạy bằng Điesel. tổng thể là 3.714 kw. Năm 1961 bắt đầu xây dựng nhà máy nhiệt điẹn Thủ Đức với công xuất 33.000 kw với số tiền đầu tư là 12,7 triệu USD vay từ Hoa Kỳ. Đồng thời Nhật bồi thướng chiến tranh cho VN, bằng cách xây cho miền nam nhà máy thủy điện Đa Nhim. Chương trình Đa Nhim khởi công bắt đầu từ cuối năm 1960, gồm một đập chắn ngang sống Đa Nhim ở thung lũng Đơn Dương, giữ nước lại để cung cấp suốt năm nhà máy phát điện, một hầm qua lòng núi ở đèo Ngoạn Mục và hai ống dẩn nước đưa từ hồ Đơn Dương xưống các Turbin ở Sông Pha, một nhà máy phát điện được thiết lập ở đây. 


Từ nhà máy phát điện ở Sông Pha sẽ có một đường dây cao thế 230 Kilo Volt đưa về nhà máy biến điện Thủ Đức, để hạ điện thế xuống còn 66kV.và 11 kV để đưa vào các đường dây trung thế khi về đến Sài Gòn. Nhà máy thủy điện Đa Nhim có thể cung cấp tới 160.000 kw. Đầu năm 1964 đã hoàn thành 90% công trình xây dựng, cung cấp được cho mạng lưới điện miền nam là 80.000kw. Từ thang 5/1965 đường dây điện từ Đa Nhim về Sài Gòn đã bị Việt cộng phá hoại. Nên nguồn điện khổng lồ này đã không được xử dụng.

Tổng chi phí cho công trình thuỷ điện Đa Nhim là 49 triệu USD, 37 tiệu được trả bằng ngoại tệ (29,5 triệu do cính phủ bồi thường chiến tranh,7,5 triệu được Nhật Bản cho vay) 12 triệu USD được trả bằng đồng bạc VNCH, tương đương với 820 triệu đồng VNCH, do chính phủ VN chi trả.

Từ năm 1964 trở đi vì nhu cầu chiến tranh, các nhà máy nhiệt điện đã gia tăng công xuất rất nhanh từ 271.000 kw năm 1964 lên 285.000 kw năm 1965, rồi 364.000 kw vào năm 1966. Đến năm 1970 lượng điện sản xuất lên đến 1.134. triệu kwh, so với 1.046 triệu kwh của năm 1969. Riêng Sài Gòn năm 1969 sản xuất 834.triệu Kwh. 

Hệ thống truyền tải điện tại miền Nam Việt Nam (1954-1975): Cùng với phát triển nguồn điện, đến cuối năm 1973, hệ thống truyền tải điện tại miền Nam Việt Nam gồm 252km đường dây 230kV, 184km đường dây 66kV và 13 trạm biến áp với tổng công suất 579MVA.

Đến năm 1974, tổng công suất đặt ở miền Nam vào khoảng 812,9 MW, sản lượng điện khoảng 1.624  triệu kWh.

NHÀ ĐÈN CHỢ QUÁN:

Nhà đèn Chợ Quán là một công trình lịch sử lâu đời hàng trăm năm gắn liền với người dân Sài Gòn xưa như tôi. Người Sài Gòn không mấy ai mà không biết đến địa danh Chợ Quán, nơi đây còn có một nhà thương cho những người bị bệnh điên (tâm thần). Chợ Quán là tên của một xứ đạo hình thành vào khoảng cuối thế kỷ 18. Nơi vùng này có nhà thờ Chợ Quán xây dựng từ 1887 đến 1896 – một trong những nhà thờ lâu đời nhất tại Sài Gòn. Trước 1975 vùng Chợ Quán thuộc điạ phận Sài Gòn giáp ranh với Chợ Lớn, thuộc 2 quận nhì và quận năm.

Nhà đèn Chợ Quán hoàn thành năm 1896, được xem là một biểu tượng của nền kỹ nghệ tân thời  vào cuối thế kỷ 19, nó còn tiêu biểu một sự tiến bộ của ngành nhiệt điện của người Pháp và là một trong số ít những công trình của dấu ấn về nền kỹ thuật phương Tây sớm có mặt trên đất Đông Dương, thuộc điạ của Pháp.


Năm 1909, công ty này mua lại một công ty điện khác - chính thức trở thành nhà cung cấp điện nước cho Sài Gòn, Chợ Lớn và Phnom Penh.

Nhà máy điện Chợ Quán bắt đầu hoạt động từ năm 1913, để có thể cung cấp điện cho toàn bộ thành phố Sài Gòn, thành phố Chợ Lớn, hai khu vực Tân Sơn Nhứt, Phú Thọ và tỉnh lỵ Gia Định. Theo tờ báo La Presse coloniale illustrée năm 1927, nhà máy điện Chợ Quán có công suất 7.000 CV (tương đương 5.000 kW), gồm máy phát điện xoay chiều với tua bin, tạo ra dòng điện 3 pha 7.000 V.

Thời Việt Nam Cộng hòa, tại miền Nam chính quyền cho mở rộng nhà máy điện Chợ Quán và xây dựng thêm hai nhà máy nhiệt điện Thủ Đức, Trà Nóc (Cần Thơ).

Hiện nay một số các hình ảnh cũ và lịch sử của nhà máy nhiệt điện Trà Nóc, đều bị cộng sản xoá hết trên Internet. Chỉ còn những hình ảnh sau 1975 được bóp méo về lịch sử hình thành - theo trang web về nhà máy phát điện này, bọn tộc cối đã bố láo là được thành lập năm 1976 bởi Bộ Điện than (?), thật tởm lợm cho sự bốc phét của bọn bắc cộng. Dưói đây là hình ảnh về nhà máy nhiệt điện Trà Nóc  do VNCH xây dựng vào thập niên 1970, nay bọn tộc cối trơ trẻn, khi chúng cho là do Bộ Điện Than xây dựng (?) 

Cuối năm 1974, công suất nhà máy nhiệt điện Chợ Quán đạt 55 MW Nhà đèn Chợ Quán xây dựng vào năm 1922 với công suất đủ dùng cho nhu cầu của Sài Gòn – Chợ Lớn và một số thị trấn phụ cận như Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, đồng thời từ lúc này  hầu hết các đường phố Sài Gòn – Chợ Lớn đều được chiếu sáng bằng điện của “nhà đèn” Chợ Quán. Nguồn:https://kimanhl.blogspot.com/search?q=Nh%C3%A0+m%C3%A1y+%C4%91i%E1%BB%87n+Ch%E1%BB%A3+qu%C3%A1n


NHÀ MÁY ĐIỆN THỦ ĐỨC

Đây là nhà máy phát điện được xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 1966 ở phiá bắc cách Sài Gòn 15 km, nằm bên canh xa lộ Biên Hoà (bây giờ là xa lộ Hà Nội), thuộc điạ phận quân Thủ Đức cách.

Các Turbin  lần lượt được lắp đặt:

Năm 1966: Turbin hơi nước số 1 đầu tiên hoạt động có công suất 33 MW

Năm 1968: Turbin số 2 có công suất 15,0 MW bắt dầu hoạt động.

Năm 1970: Hai Turbin số 3 và 4 có công suất mỗi turbin có công suất 17 MW đưa vào vận hành phát điện. 

CỘNG SẢN BẮC VIỆT ĐÃ CHÔM CHỈA 2 TURBINE CỦA NHÀ MÁY PHÁT ĐIỆN THỦ ĐỨC SÀI GÒN ĐỂ ĐEM RA BẮC XỬ DỤNG.

Năm 1979 hai turbin số 3 và 4 này đã b tháo gở và đem ra miền Bắc lắp đặt cho Hải Phòng.

Bài viết để vạch trần sự xuyên tạc sai lịch sử về sự cung cấp điện của miền nam trước 1975 của miền nam VN bởi hệ thống tuyên truyền báo chí và truyền thông , truyền hình dưới sự chỉ đạo củ cái gọi là Tuyên Giáo TW. Họ tuyền truyền Không riêng về phạm vi điện, mà tất cả về: kinh tê, chinh trị, giáo dục, y tế.... đều bị bóp méo sai sự thật. Đây là hình ảnh về nhịp sống của Sài Gòn, vùng đất phát triển có GDP hơn Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan và nhiếu nước khác cùng thời so với VNCH vào thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ 20

Nhũng hình ảnh và tài liệu về nguồn năng lượng của miền nam trước 1975, có công suất cao hơn miền bắc VNDCCH trong cùng thời gian. Nhưng vì tự thẹn về sự thua kém nên đám đầu lĩnh Pắc Bó đã tuyên truyền xuyên tạc về mạng lưới cung cấp điện ở miền nam. Đây là cái hèn và thô bỉ của bọn bất tài nhưng thích tự tôn là đỉnh cao trí tuệ để bịp người dân cả nước về thành tích khống của đảng  csVN.ở 

Một chuyện nghịch lý và khôi hài nhất, là nguồn điện của miền bắc, thiếu te tua, thiếu trầm trọng sau 1975, nhưng đám đầu lĩnh Ba Đình tuyên bố xây dựng đường dây điện 500 Volt, ngay sau khi chiếm được miền nam VN, để tiếp điện cho miền nam.(?). Sau thấy không gạt được ai, nên tự tháo gở các bài viết về con đường dây điện bắc nam 500 Volt. Chỉ còn để lại con đường 500V thứ hai trên truyền thông và Wikipedia. Những người lón tuổi ở miền nam chắc chưa ai quên được đường dây 500V thứ nhất này.



Tới nay miền bắc vẩn còn thiếu điện trầm trọng, đến nổi các doanh nghip như Nam Hàn than phiền và muốn nhổ neo rời VN. Tuy nhiên với bản chất ngoan cố truyền thống, bọn khốn kiếp EVN và Bộ Công Thương vẩn chứng nào tật nấy, đám bất tàì này tiếp tục gây sóng gio trong việc cung cấp điện cho người tiêu dùng. Muà hè năm 2023 là mùa hè mà bọn súc vật nàyđã cho cúp điện khắp nơi để dằn mặt người dân, một kịch bản để tăng tiền điện. 48 năm điều hành mạng lưới điện quốc gia nhưng EVN đã làm thua lỗ hàng trăm ngàn tỉ trong suốt chiều dài có tđoàn EVN.

Tóm lại, đám đầu lĩnh Pắc Bó, hoàn toàn không có khả năng phát triển và ổn địng mạng lưới điện cung cấp cho 3 miền đất nước từ nhiều thập niên qua sự hiện diện của EVN, chúng đang bào mòn tiều thuế của người dân qua ngân sách nhà nước. Chỉ có tài bốc phét và báo cáo láo. Người viết ghi lại tổng quát về nguồn năng lượng của VNCH để chom các cháu Hậu Duệ VNCH và các bạn nào muốn có thêm tài kiệu để tham khảo về các nhà máy nhiệt điện cũng như thuỷ điện của miền nam trước 1975. Đồng thời để chống sự tuyên truyền xuyên tầâầủ đám đầu lĩnh Pắc Bó về hạ tầng cơ sở của nền kinh tế của VNCH.

Biên khảo từ Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 10 November 2023.

 KHI BỘ MÁY TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG PẮC BÓ LÁO TOÉT VỀ NGUỒN NĂNG  LƯỢNG CỦA MIỀN NAM TRƯỚC 1975


Người viết là người Sài Gòn, tình cờ đọc được một tờ báo cũ của đảng cộng sản viết về nguồn năng lượng ở miền nam, đọc xong mới thấy thấy đảng cộng sản hạ cấp và thô bỉ đến độ tuyên truyền bậy bạ, sai hoàn toàn sự thật về hệ thống điện ở miền nam chỉ vì mặc cảm quá thua kém.

Một thoáng về những ngày đám hai luá vào cướp Sài Gòn như di lạc vào một thế giới xa lạ nào đó trên hành tinh, họ thiếu thốn, ngu dốt đến độ không biết gì về ly cà phê phin ở miền nam , không biết cái TV là gi ? chỉ biết đài (radio) thôi. Họ hết sức lạc hậu khi đối diện với người miền nam.

Tôi, người Sài Gòn đã sống trọn vẹn trong 2 chế độ VNCH, từng chứng kiến nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử miền nam, phải thẳng thắn mà nói: đảng cộng sản chỉ lừa bịp người dân để tồn tại. Nhớ những ngày đầu tháng 5/1975, khì đám hai lúa, trong cái bình phong " đoàn quân giải phóng" đi lang thang ở Sài Gòn, nhìn sự tráng lệ hào nhoáng của Sài Gòn mà ngơ ngác. Từ đó người Sài Gòn mới thấy được bản chất hai luá đi cùng với bốc phét của đám Pắc Bó này, qua các câu chuyện:

1.Cà rem ăn không hết đem phơi khô để dành ăn.
2.Cái nồi ngồi trên cái cốc.
3.TV truyền hình chạy đầy đường.
4.Đồng hồ có người lái.
5.Rọng cá trong bồn cầu tiêu.....

và hàng chục câu chuyện khác từ ming của đám hai lúa, từ trong rừng chạy lạc vào các thành phố văn minh ở miền nam, nhất là ở Sài Gòn. Cái ngu dốt và hai lúa của đám bộ đội cu hồ thấy mà tội nghiệp, họ bị nhồi sọ, đến độ không theo kịp đà tiến của nhân loại. 

Nhà văn Dương Thu Hương, một đảng viên đảng csVN đã có lần công khai bầy tỏ rằng, Tháng Tư năm 1975, bà đã ngồi trên lề đường của Sàigòn ôm mặt khóc vì khám phá ra rằng, chế độ chiến thắng cuộc chiến chẳng qua chỉ là một thể chế man rợ. Từ đó, bà chọn cho mình một hướng đi riêng, là đấu tranh cho một nước Việt Nam tự do dân chủ. 

Nhà văn Dương Thu Hương, nổi tiếng không những về những tác phẩm như “Thiên Ðường Mù,” “Bên Kia Bờ Ảo Vọng,” “Khải Hoàn Môn,” mà còn do thái độ can đảm và thẳng thắn phê bình giới lãnh đạo Hà Nội. Bà từng bị chế độ giam giữ gần một năm. Hiện nay, bà Dương Thu Hươngđang tị nạn tại Paris.

Mọt nhà báo, nhà thơ miền bắc khác là Phan Huy, khi vào miền nam ông đã thúuc tỉnh và biết mình đã bị đảng gạt. Ông đã viết bài " Cảm tạ Miền Nam", như giải tỏa tâm sự của một người từng u mê trước sự tuyên truyền sai sự thật của đảng về miền nam VN. Bài thơ của ông đã được phổ nhạc và được phổ biến rộng trên Youtube nhiều năm qua.


Bạn nào muốn thưởng tức tập của thi sĩ Phan Huy, xin mời vào trang thơ của thi sĩ Phan Huy: https://fdfvn.wordpress.com/.

Tôi đã đưa ra hai thí dụ điển hình: nhà văn nữ Dương Thu Hương và nhà báo , thi sĩ Phan Huy để thấy họ là những trí thức yêu chuộng sự thật và tự do của miền nam. Qua hai câu chuyện về hai nhân vật này họ đã rời đảng nói láo, nhồi sọ, để nói lên cho mọi người cùng biết về bản chất của đảng csVN bằng văn và thơ.
Nay tôi, người Sài Gòn, không thể không viết lên đây cái dối trá của đảng, trong thên phận của bên thắng cuộc để tuyên truyền dối trá về miên nam VN. Đó là khi viết về hệ thống điện của miền nam trước năm 1975.

Nói về điện của miền nam, thì đảng cộng sản đã tuyên truyền như sau:"..người dân miền nam hầu như chưa có điện" bài này được đăng trong báo Điện tử của đảng csVN ngày 05/05/2021

Tiện đây tôi xin nói tổng quan về vấn đề năng lượng của mền nam trước 1975 vào thời đó, người Sài Gò và miền nam không hề thiếu điện để xài, cũng như thắp sáng đèn đường phố tại các đô thị lớn. Thời đó, người viết, còn là những học sinh của Sài Gòn, nhưng chưa bao giờ phải bắt đom đóm để ôn thi như hai ông bự trong tứ trụ triều đình là cố Đại Tướng Trần Đại Quang, cựu chủ tịch nước csxhcnVN  và ông Vương Đình Hụê đương kim chủ tịch quốc hội. 

Từ ngày có sự hiện diện của đoàn quân Pắc Bó, thì miền nam, đã bắt đầu thiếu ăn và thiếu điện...Ly Do là mấy ông vào cướp luôn 2 Turbin phát điện của nhà máy điện Thủ Đức để đem ra lắp ráp vào cho thành phố Hải Phòng. Rồi trợn mắt nói láo là miền nam hầu như không có điện (?!) 

TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG ĐIỆN CỦA MIỀN BẮC TRƯỚC TRƯỚC 1975

Khi Việt Minh trở lại Hà Nội họ đã tiếp quả  5 nhà máy điện tiếp quản từ chế độ cũ (trước năm 1954); các đường dây tải điện Hà Nội - Sơn Tây, Hà Nội - Hà Đông, Phố Nối - Hưng Yên, Thái Bình - Nam Định được phục hồi; các tuyến đường dây cũ 30,5kV được cải tạo thành 35kV và hàng trăm kilômét đường dây 35kV mới được xây dựng đã đưa điện đến các khu công nghiệp và phục vụ sản xuất nông nghiệp; xây dựng đường dây 110kV đầu tiên ở miền Bắc: Đông Anh - Việt Trì, Uông Bí - Hải Phòng.

Các nhà máy điện Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý xí nghiệp. Thủy điện Tà Sa và đường dây tải điện 6kV nối Thủy điện Tà Sa - Nà Ngần được phục hồi để phục vụ cho mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng). Nguồn: https://www.tmhpp.com.vn/d4/news/Buoc-ngoat-cua-nganh-dien-Viet-Nam-Bai-1-Dau-moc-nhung-nam-1955-1975-1-7752.aspx

Bức tranh điện lực miền bắc về năng lượng là nhà máy Uông Bí, ngày 19/5/1961, VNDCCH đã cho khởi công xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí có công suất 48MW là nguồn điện chủ lực lớn nhất cung cấp điện thực hiện chủ trương, đường lối xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Sau 4 năm xây dựng, tới năm 1963 nhà máy đã được khánh thành và đi vào hoạt động. Đây là công trình do Liên Xô giúp xây dựng, cung cấp thiết bị và đào tạo cán bộ, kỹ sư, công nhân viên. 

Tiếp đến, ngày 19/8/1964, khởi công xây dựng Nhà máy Thủy điện Thác Bà (Yên Bái) có công suất 108MW, khánh thành đợt I và đưa vào vận hành ngày 5/10/1971. Công trình có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô và là công trình có công suất lớn nhất của nước ta vào thời điểm này. Trong chiến tranh nhà máy này bị hư hại vằ được khôi phục và đầu năm 1973 cả 3 tổ máy đã được đưa vào tiếp tục vận hành cung cấp lượng điện lớn vào thời điểm ấy cho cả miền Bắc.

Ngày 19/5/1974, Tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình do Trung Quốc giúp xây dựng bắt đầu hoạt động. Cùng ngày, miền Bắc đã khôi phục xong Nhà máy Thủy điện Cống Lân (Thái Bình) - một công trình lớn ngăn nước mặn và tiêu nước cho hơn 3 vạn hécta ruộng ở ba huyện Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư. 

Nếu trong giai đoạn 1955-1960, chỉ có 7 nhà máy điện với tổng công suất 100MW thì đến giai đoạn 1960-1975 đã có thêm 8 nhà máy đi vào hoạt động ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam với tổng công suất 841MW.

TỔNG QUAN MẠNG LƯỚI ĐIỆN MIỀN NAM TRƯỚC 1975

Trước đó dưới thời thời Pháp thuộc, khai thác điện năng tại Việt Nam nằm dưới sự cai trị của người Pháp, do tư bản chính quốc đảm trách dưới hình thức nhượng công vụ. Sau Thế Chiến II, các công ty này có xu hướng giải đầu tư tại Việt Nam để tái đầu tư ở các thuộc địa khác. Mãi đến sau năm 1964, những bất cập trong việc khai thác điện năng mới được giải quyết khi cơ quan Điện lực Việt-Nam ra đời.

Điện lực Việt-Nam là một cơ quan tự trị có tư cách pháp nhân, hoạt động vì mục tiêu công ích chứ không vụ lợi, thống nhất công cuộc khai thác điện năng trên toàn quốc bằng cách sát nhập cơ quan Trùng tu Điện lực (ORDEE năm 1958, sau đổi tên thành ONDEE năm 1953) vào chương trình Đa-Nhim, Thủ-Đức, đồng thời thay thế các nhà đèn công quản và chuẩn bị thu hồi các công ty đặc nhượng Pháp khi khế ước mãn hạn (31-12-1967).

Với sứ mệnh điện hóa toàn quốc, đến cuối năm 1967, Điện lực Việt-Nam đã đạt những thành tích sau:

  • Hoàn tất nhà máy nhiệt điện Thủ-Đức (3 nhà máy diesel, và gas turbine), tổng công suất đạt 73,800,000 kW (1968), sau đó bán lại cho bên CEE, thiết lập 14 công ty điện lực tại các tỉnh và tái cấp điện cho Bình Dương;
  • Điện hóa được hơn 100 quận, xã;
  • Hỗ trợ ba thí điểm hợp tác xã điện nông thôn tại Tuyên Đức, Đức Tu, An Giang;
  • Thu hồi các nhà máy đặc nhượng CEE Đàlạt, SCEE và UNEDI của miền Tây và khu vực Đông Nam: khách hàng từ 14,654 lên 36,022 với mức điện tiêu thụ từ 33,321,000 kW/giờ lên 54,934,000 kW/giờ.

Ngày 30-6-1967, công ty Saigon Điện Lực ra đời với sự giúp sức của người Mỹ trên phương diện tư vấn lẫn tài chính, vốn đầu tư ban đầu là 100 triệu đồng. Saigon Điện Lực đã mua lại tất cả tài sản của CEE trị giá 974 triệu đồng. Công ty này cũng đã nhận viện trợ 32 triệu USD từ Hoa Kỳ để mở mang, khai thác điện lực tại Sài Gòn và dự tính sẽ thâu nhập phần còn lại của Điện lực Việt-Nam, sau đó thành lập công ty Điện Lực Việt-Nam. Tuy nhiên, công ty Saigon Điện Lực đã vấp phải nhiều chỉ trích cho hành động trên từ phía hội chuyên viên điện lực (Hội Điện Học, hội Kỹ Sư, Nghiệp Đoàn Chuyên Viên Điện Lực,…) và Thượng Viện.

Hình ảnh nhà đèm Chợ Quán trước 1975
Hình ảnh nhà đèm Chợ Quán trước 1975
Hình ảnh nhà đèm Chợ Quán trước 1975

Diện tích khai thác điện năng của công ty Saigon Điện Lực bao gồm 11 quận Đô Thành, tỉnh Gia Định (trừ quận Quảng Xuyên, Cần Giờ) tỉnh lỵ Biên Hòa, quận Lái Thiêu tỉnh Bình Dương. Tổng cộng Saigon Điện Lực phục vụ khoảng 3 triệu dân Sài Gòn và vùng lân cận, sử dụng 1,500 nhân viên, sản xuất được 325,733,450 kW/giờ (năm 1968) và mua lại 261,866,884 kW/giờ của Điện lực Việt-Nam để phân phối cho các nhà thuê bao điện năng.

Có thể thấy, Điện lực Việt-Nam (nhà nước quản lý) và công ty Saigon Điện Lực (tư nhân quản lý) đại diện cho hai khuynh hướng – khai thác phục vụ công ích và khai thác phục vụ kinh doanh. 

Có một điều đặc biệt trong cơ chế quản trị của Điện lực Việt-Nam là chính phủ và Quốc hội thực hiện kiểm soát thu chi, và cán bộ tham nhũng sẽ chịu tội đại hình chứ không phải kỷ luật nội bộ (cảnh cáo, sa thải).

2. Thủy điện

Nhằm đảm bảo nguồn cung điện năng trong giai đoạn phát triển nhạy cảm của nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa, đập thủy điện Đa-Nhim được chính thức khởi công xây dựng từ ngày 01-4-1961 với 3000 nhân công (300 chuyên viên Nhật) và chia làm hai đợt, đợt thứ nhất đập được đắp cao 25m và đợt sau cao thêm 30m. Dự án xây dựng đập thủy điện Đa-Nhim dựa vào hai dự án của hãng SOGREATH (Pháp) và hãng NIPPON KOEI (Nhật). Tất cả chi phí đầu tư xây cất đều do khoản tiền sau đài thọ gồm 3.5 tỷ bồi thường chiến tranh và 1.5 tỷ vay của Nhật.

Kích thước của đập: dài 1,460m, cao 38m, bề ngang đáy đập 180m, bề ngang mặt đập 6m, khối đất để đắp đập là 3,600,000m3.

Đập đất gồm có hai phần, phần chính bằng đất đồng chất, trồng cỏ tránh xâm thực và đập tràn bằng bê-tông (nhỏ và thấp hơn đập đất 16.3m) dài 51.5m có 4 cửa sắt để bảo đảm lưu lượng tràn đến 6,468m3/giây vào mùa mưa.

Đường hầm thủy áp đào xuyên qua lòng núi dưới đèo Ngoạn Mục, dài 4,878m, đường kính 3.4m dẫn nước từ hồ nhân tạo Đơn Dương đến đỉnh núi chế ngự đồng bằng Phan Rang. Từ núi này nước được dẫn xuống nhà máy phát điện nằm dưới chân núi bằng 2 ống thép thủy áp dài 2,340m, đường kính 2m và nhỏ dần lại 1m trước khi vào nhà máy phát điện.

Nhà máy phát điện gồm có 4 máy turbine, 4 máy phát điện, 4 máy biến điện, v.v. Máy phát điện sản xuất điện hạ thế 13.2 kV được biến thành điện cao thế 230 kV rồi chuyển về nhà máy biến điện Thủ Đức bằng 3 đường dây cao thế trên đoạn đường 252km từ Krong-Pha đến Thủ Đức.

Nhà máy nhiệt điện Thủ Đức trước 1975

Điện năng tiêu thụ và sản xuất tại Sài Gòn và phụ cận (Nguyễn Huy, 1972, tr.68)

NămĐiện năng sản xuất (Kwh)Điện năng tiêu thụ (Kwh)
1963
1964
1965
1966
1967
349,779,000
399,086,000
431,809,000
534,418,000
620,951,000
292,065,000
336,756,000
362,950,000
436,756,000
510,422,145

Có thể thấy, nguồn cung điện năng tại miền Nam trước 1975 luôn đáp ứng đủ nếu không nói là dư chonhu cầu của người dân và các xí nghiệp sản xuất, bảo đảm quá trình vận hành một cách trơn tru cho toàn bộ nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa.

Đến sau 1975, khi miền nam bị chiếm đóng, phe thắng cuộc đã tháo gở hai Turbin của nhà máy phát điện THủ Đđể đem xử dụng ở Hải Phòng vào năm 1979. Chuyện cướp 2 tubin phát điện này vẩn có thể kiêm chứng ở trang Wikipedia tiếng Việt.

Nên biết tại Sài Gòn còn có nhà đèn Chợ Quán có từ thời Pháp thuộc do thực Pháp  xây dựng. Thời Việt Nam Cộng hòa, tại miền Nam chính quyền cho mở rộng nhà máy điện Chợ Quán và xây dựng thêm hai nhà máy nhiệt điện Thủ Đức, Trà Nóc (Cần Thơ). Cuối năm 1974, công suất nhà máy nhiệt điện Chợ Quán đạt 55 MW Nhà đèn Chợ Quán xây dựng vào năm 1922 với công suất đủ dùng cho nhu cầu của Sài Gòn – Chợ Lớn và một số thị trấn phụ cận như Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, đồng thời từ lúc này  hầu hết các đường phố Sài Gòn – Chợ Lớn đều được chiếu sáng bằng điện của “nhà đèn” Chợ Quán.

Nhà đèn Chợ Quán cổ nhất Sài Gòn,  có trước nhà máy phát điện Yên Phú ở Hà Nội 10 năm - được coi là nhà máy phát điện cổ nhất của miềnHà Nội

Nghiên cứu biên soạn từ người lính già xa quê hương 

Trịnh Khánh Tuấn 01.07.2023