Powered By Blogger
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn CÁI CHẾT CỦA VNCH. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn CÁI CHẾT CỦA VNCH. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

 CHUYỆN GÌ XẢY RA CHO IRAN SAU CÁI CHẾT CỦA ĐỒ TỂ RAISI ??

Hậu quả của vụ tai nạn máy bay trực thăng, Iran mất đi hai chính trị gia hàng đầu - trên hết là Tổng thống Raisi. Cái chết của ông đã làm rung chuyển cơ cấu quyền lực. Iran tương lai sau cái chết của Raisi sẽ có nhiều biến động.

Với cái chết của Tổng thống Ebrahim Raisi và Bộ trưởng Ngoại giao Hussein Amirabdollahian, giới lãnh đạo Iran đã mất đi hai nhân vật kiến trúc chính sách đối nội và đối ngoại của Cộng hòa Hồi giáo. 

Trong sương mù dày đặc, máy bay trực thăng chở Raisi đã biến mất khỏi radar vào chiều Chủ nhậ 19/5. Vào sáng hôm nay thứ Hai 20/5, truyền thông nhà nước Iran đã xác nhận chính thức cái chết của hai người. Ban đầu không có thông tin chính xác về nguyên nhân vụ tai nạn. Iran đang trong tình trạng khủng hoảng liên tục do các cuộc biểu tình, căng thẳng quân sự ở Trung Đông và khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.

Phó tổng thống thứ nhất của Iran là ông Mohammed Mochber tạm thời nắm quyền điều hành chính phủ. Ông đã chủ trì hai cuộc họp nội các khẩn cấp. Theo hiến pháp, Mochber hiện phải tổ chức các cuộc bầu cử mới trong vòng 50 ngày. Không giống như ở nhiều nước, tổng thống ở Iran không phải là nguyên thủ quốc gia mà là người đứng đầu chính phủ. Quyền lực thực sự tập trung vào giới lãnh đạo nhà nước với lãnh đạo tôn giáo Ayatollah Ali Khamenei đứng đầu. Quân đội tinh nhuệ của Iran, Vệ binh Cách mạng, cũng đã trở thành một đế chế kinh tế có sức mạnh to lớn trong những thập kỷ gần đây.

Hậu quả chính trị ngay lập tức của cái chết của các chính khách là gì?

Chuyên gia Iran Arash Azizi viết trong một bài phân tích cho tạp chí "The Atlantic" của Mỹ rằng cái chết của Raisi có khả năng gây ra một cuộc tranh giành quyền lực bạo lực. Sự thụ động của Raisi đã khuyến khích những kẻ thách thức trong số những người theo đường lối cứng rắn. Họ sẽ coi nhiệm kỳ tổng thống yếu kém của ông là một cơ hội. "Cái chết của Raisi sẽ thay đổi cán cân quyền lực giữa các phe phái trong Cộng hòa Hồi giáo", nó nói trước khi truyền thông nhà nước Iran xác nhận cái chết của Raisi.

Trong cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 3, phe chính trị tôn giáo chính thống và bảo thủ, những người cũng thân cận với Raisi, một lần nữa lại chiếm ưu thế. Những nghị sĩ tương đối xa lạ trước đây này có thể cố gắng đạt được nhiều ảnh hưởng chính trị hơn. Các chính trị gia ôn hòa trong phe cải cách gần đây ngày càng trở nên yếu hơn, một phần vì Hội đồng Giám hộ - một cơ quan kiểm soát quyền lực gồm các học giả cực kỳ bảo thủ - ngày càng hạn chế việc ứng cử của họ.

Ebrahim Raisi là ai?

Chủ tịch quốc hội đương nhiệm, Mohammed Bagher Ghalibaf, người có thành tích kém trong cuộc bầu cử quốc hội, từ lâu đã có tham vọng trở thành tổng thống. Nhiều người đã vỡ mộng sau những nỗ lực cải cách thất bại trong những thập kỷ gần đây và tránh xa cuộc bỏ phiếu tại quốc hội để phản đối.

Theo Azizi, nhiều nhà quan sát chỉ mong đợi một cuộc tranh giành quyền lực bạo lực khi nguyên thủ quốc gia Khamenei qua đời. Nhà lãnh đạo tôn giáo, người có tiếng nói cuối cùng về mọi vấn đề chiến lược, đã bước sang tuổi 85 vào tháng Tư. Raisi được coi là người kế nhiệm tiềm năng. Azizi viết: “Bây giờ chúng ta có thể sẽ thấy ít nhất một buổi diễn tập trong đó các phe phái khác nhau sẽ thể hiện sức mạnh của họ”.

Hamidreza Azizi, nhà nghiên cứu đến thăm tại Quỹ Khoa học và Chính trị Berlin, không nhận thấy bất kỳ thay đổi nghiêm trọng nào trong hệ thống chính trị của Iran, vì dù sao thì những quyết định quan trọng đều do Khamenei và Lực lượng Vệ binh Cách mạng hùng mạnh đưa ra. Nhìn chung, tác động của cái chết của Raisi “không phải là đòn cơ bản hay quyết định đối với hệ thống”, Azizi viết trên

Người dân Iran phản ứng thế nào trước tin tức về vụ tai nạn?

Hàng ngàn người ủng hộ chính phủ đã đổ xô đến các trung tâm tôn giáo và nhà thờ Hồi giáo của Iran vào tối thứ Hai, cầu nguyện cho tổng thống và lo sợ điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra. Truyền thông nhà nước ca ngợi nhiệm kỳ của Raisi.

Esmaili tóm tắt các phản ứng

“Hàng triệu người Iran đã ăn mừng trong và ngoài nước”. Tuy nhiên, một bức tranh khác lại xuất hiện trên mạng xã hội. Nhiều người Iran ở đó đã công khai bày tỏ sự vui mừng và hả hê trước thảm họa. Hình ảnh pháo hoa ở Tehran cũng gây xôn xao dư luận. 

Nhiệm kỳ của Raisi bị lu mờ bởi những cáo buộc về quản lý yếu kém và đàn áp nghiêm trọng. Với vai trò công tố viên trước đây, ông được cho là người chịu trách nhiệm cho nhiều vụ bắt giữ và hành quyết những người bất đồng chính kiến ​​​​vào năm 1988, đó là lý do tại sao các đối thủ của ông đặt biệt danh cho ông là "Đồ tể của Tehran".

Mặc dù những lời chỉ trích của thế hệ trẻ hiện ngày càng nhắm vào toàn bộ hệ thống của Cộng hòa Hồi giáo, Raisi vẫn đặc biệt chịu rấz nhiều áp lực trong nước. Gần đây, chính phủ đã thúc đẩy chính sách gây tranh cãi về việc buộc người dân phải đội khăn trùm đầu, do đó khiến một bộ phận người dân càng xa lánh Raisi hơn.

Vũ Thái An, người lính VNCH, ngày 20 Mai 2024

CHỈ CÓ DƯƠNG VĂN MINH ĐẦU HÀNG - KHÔNG CÓ VIỆC 
QUÂN DÂN CÁN CHÍNH VNCH ĐẦU HÀNG CS BẮC VIỆT !!
Trong mùa quốc nan 2019 của nước VNCH năm nay, chúng tôi hậu  duệ VNCH cố gắng đi tìm những góc khuất về cái chết của VNCH, để làm bài học cho tương lai, soi sáng thêm chính sử của VNCH, và để hàng ngũ hậu duệ VNCH có thêm tài liệu đưa vào quân sử VNCH - đồng thời làm sáng tỏ thêm về vai trò của con tắc kè Dương văn Minh.

Người viết muốn đề cập đến sự vi hiến của đám thổ tả thành phần thứ ba - còn được coi là những con rối của PG Ấn Quang và đám nón cối dép râu nằm vùng ở miền nam, khi đám này đưa Dương văn Minh  trở lại sân khấu chính trị ở giờ thứ 25 của miền nam VN.

BỐI CẢNH CÁI CHẾT CỦA VNCH

Sau khi ký xong hiệp định Paris 1973, người Mỹ đã ôm đầu bỏ chạy, trước sự vi phạm thô bạo một hiệp định quốc tế của cs Bắc Việt, bản văn chính Mỹ đã khởi xướng vào năm 1968 và long trọng ký kết vào năm 1973 trước mặt thế giới. Vào ngày 30.4.1975, Tây Phương theo chân Mỹ, cúi mặt bịt tai trước sự vi phạm một hiệp định quốc tế - một bản văn mà chính Tây Phương đã cổ võ, ca ngợi, trước mặt thế giới, nào là nhân danh những lý tưởng nhân đạo, tự do và hòa bình. Thế nhưng tất cả, đã quay mặt lại với VNCH,  mặc cho cái ác từ đó lên ngôi mà không một nước nào đưa ra được một lời công đạo cho số phận của  đất nước VNCH - cái bất hạnh đó đã úp lên toàn bộ quân, dân, cán, chính miền nam trong những ngày sau khi đàn bò cs Bắc Việt tiến chiếm miền nam.
Kể từ khi phản bội VNCH, người Mỹ đã gây khó khăn cho chính quyền của VNCH sau khi hiệp định Paris 1973 được ký kết. Đất nước VNCH đã bị áp lực mạnh về quân sự từ phía cộng quân, đã đè nặng trên 4 vùng chiến thuật cho đến ngày miền nam hoàn toàn rơi vào tay bọn cướp nước Bắc Việt. Năm ngày cuối cùng của VNCH, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã từ chức và bị ép rời VN. Ông đã đến Đài Bắc  vào đêm 25.4.1975 với quyết định bổ nhiệm làm Đặc sứ của VNCH đến Đài Bắc để chia buồn về việc ra đi của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, do  Tổng Thống Trần văn Hương ký.

Ông Thiệu ra đị trước áp lực của  các thành phá hoại VNCH, đám thổ tả này mong muốn nhanh chóng mở cuộc nói chuyện hòa bình cho miền nam  với cs Bắc Việt để gọi là tìm lối thoát chính trị cho miền nam VN.

Trong khi đó, cộng sản Bắc Việt ngụy tạo được hào quang cho cái gọi là đại thắng mùa Xuân (?!), khi VNCH đã bị đồng minh phản bội và cúp quân viện, đó cũng là lúc mà bọn Pắc Bó lớn tiếng khoe khoang thành tích là " Thành công giải phóng được miền nam" làm nên trang sử mới (?!) và những ngày tiếp sau đó đám đầu lĩnh Ba Đình đã huênh hoang viết rằng: "Chính quyền hợp pháp của Quốc Gia Miền Nam đã đầu hàng (?!)". Chính quyền mà cộng sản Bắc Việt  cho là hợp pháp của Dương văn Minh (?!) chỉ là một thứ không chính danh vi hiến , không do dân miền nam VN bầu lên - Tổng thống Dương văn Minh có sao??

VNCH CÓ HAY KHÔNG ĐẠI TƯỚNG, TỔNG THỐNG DƯƠNG VĂN MINH??

Việc VNCH đầu hàng cộng sản với việc có ông tổng thống Dương văn Minh buổi chợ chiều tuyên bố đầu hàng, có sao? Ai nói có! xin hảy chứng minh tính hợp hiến về 2 chức vụ Đại Tướng và Tổng Thống  của Dương văn Minh ? Chỉ có đám nón cối dép râu và đám thổ tả thành phần thứ ba là công nhận, người dân VNCH không có ủy nhiệm nào cho DVM trong cương vị Tổng thống VNCH hay Đại Tướng. 

Dương văn Minh làm tổng thống của VNCH trong tình trạng hoàn toàn vi hiến, chức vụ đại tướng của y cũng chỉ là tự xưng vì ông đã bị cho giải ngũ từ ngày 21.5.1965. Coi như 10 năm sau cùng của ông  Dương văn Minh chỉ là một phó thường dân nam bộ không hơn không kém. Đất nước VNCH trong thời điểm 1975 không có ông Đại Tướng nào hay Tổng Thống nào có cái tên là Dương văn Minh.

Tất cả chỉ là trò hề chính trị của đám thổ tả thành phần thứ ba. Thế nên con tắc kè nầy xuất hiện trong chính trường miền nam vào hai ngày cuối của VNCH và tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn vào sáng 30.4.1975 là một sự tiếm quyền và tự xưng trong chức vụ Đại Tướng và Tổng Thống VNCH.

Vào những ngày cuối cùng của Nam Việt Nam,  Dương Văn Minh là người, mà bọn thổ tả thuộc thành phần thứ ba, chọn và coi như là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng; mặc dầu bản thân ông Minh và bộ tham mưu của ông vẫn còn tin tưởng vào giải pháp chính phủ liên hiệp như các nhân vật trong nội các do Dương văn Minh thành lập là Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, những con rối của phe  Ấn Quang. Một nội các được gấp rút thành lập hoàn toàn bất chấp những các qui định về điều thứ 56, ghi trong hiến pháp 1967 của nước VNCH về:" Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước hạn kỳ", như trường hợp vô chính phủ của VNCH trong những ngày cuối.

Được đám thổ tả này bất chấp Hiến Pháp 1967 đã ngang nhiên ũng hộ và ủy thác Dương văn Minh lên làm Tổng thống - chưa đầy 48 tiếng, thì y đã  ra lệnh đầu hàng, tuyên bố của DVM được phát đi trên hệ thống Truyền Thanh Quốc gia vào buổi trưa ngày 30/4/1975.

Đám trí thức công chức cao cấp của nền đệ nhị cộng hòa trong cái gọi là nội các DVM, ngu muội tin tưởng rằng khi suy tôn Dương văn Minh lên làm Tổng Thống, sẽ làm thay đổi được tình hình chính trị của miền nam trước áp lực quân sự của cs Bắc Việt. Nhưng tất cả sự việc đều xảy ra đều ngoài ngoài dự đoán của đám trí thức thổ tả này. Đến khi đám thổ tả này hiểu được cộng sản là gì?  thì đám này đã trở thành những tội đồ của người dân và đất nước VNCH. 

KHÔNG CÓ ĐIỀU KHOẢN NÀO CỦA HIẾN PHÁP VNCH 1967 CHO PHÉP DƯƠNG VĂN MINH ĐƯỢC LÀM TỔNG THỐNG

Ngày 30-4-1975, trong khi người dân bàng hoàng trước bản tin do Đại tướng kiêm Tổng Thống Dương văn Minh đọc trên đài phát thanh Sài Gòn,  kêu gọi người lính VNCH buông súng để bàn giao cho VC. Dương văn Minh một tổng thống tự phong (vi hiến) tự nó không có tư cách nào để đại diện cho chính quyền VNCH lúc đó! Dương văn Minh chỉ là thứ trái độn, một tên cướp cạn được đám trí thức thổ tả, là thành phần thứ ba và đám nón cối, dép râu nằm vùng đẩy ra chính trường trong lúc VNCH vô chính phủ.
Những tài liệu và hình ảnh lịch sử sau này có trên internet đã cho thấy được, bọn Việt Cộng với nón cối dép râu mang xe tăng húc sập cánh cửa Dinh Độc Lập, tiến vào chiếm hữu ngôi nhà biểu tượng cho chủ quyền Quốc Gia của VNCH, cái mà chúng thường gọi là "cướp chính quyền bằng bạo lực cách mạng" chứ chúng đâu nào có vào để nhận bàn giao từ chính quyền hợp pháp của VNCH.

Đối với phe thắng cuộc, buổi lễ “bàn giao” hôm đó chỉ là một màn hài kịch, do đám thổ tả phản bội lại VNCH, tên đại tướng tổng thống Dương văn Minh, một người từng phá nát nền đệ nhất Cộng Hòa vào ngày 1.11.1963 và xóa bản đồ nước VNCH vào cuối tháng 4.1975,  hợp xướng cùng đám nón cối dép râu.

Dương văn Minh là tội đồ của nước và dân VNCH, y không có chức vụ nào gọi là Đại Tướng của quân đội VNCH trong thời gian từ thời gian từ tháng giêng năm 1965 cho tới ngày 30.4.1975
Ông Trần Văn Lắm, cựu chủ Tịch Thượng Viện đã từng kể lại với Tiến sĩ Lâm Lễ Trinh rằng tối 27 tháng 4, ông Lắm đến báo tin với Cụ Hương về việc Lưỡng Viện Quốc Hội đã biểu quyết đồng ý để TT Trần Văn Hương từ chức và trao quyền lại cho Dương Văn Minh rồi sau đó đến gặp ông Minh và đề nghị nên làm lễ bàn giao vào hồi 9 giờ sáng ngày hôm sau 28 tháng 4. Trần Văn Lắm kể lại việc bàn giao chức vụ tổng thống đúng một ngày sau khi quốc hội biểu quyết, đó không phải là ý của Cụ Hương mà đó là quyết định của Dương Văn Minh.

Người dân VNCH không quên ngày 28-4-75, khi cụ Trần Văn Hương bị ép từ chức tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, thì định chế hành pháp cũng đã theo chân cụ Hương không còn tồn tại nữa. Định chế lập pháp, tức quốc hội cũng giống như tình trạng của hành pháp,  không có thẩm quyền gì để bầu tổng thống, hay chỉ định tổng thống, hoặc cho phép ai trao chức vụ tổng thống cho ai. Nếu quốc hội đứng ra làm những việc đó đều được coi là vi hiến. Vì trong Hiến Pháp VNCH 1967 không có quy định Quốc Hội lưỡng viện VNCH được phép làm điều đó. Và quốc hội chỉ được làm những điều mà nhân dân đã mịnh thị giao phó, qua những điều khoản được ghi trong hiến pháp.

Hiến pháp VNCH 1967 không có ghi một điều khoản nào cho phép quốc hội được trao chức vụ tổng thống cho ai. Căn cứ vào điều 54 HP/VNCH thì Dương văn Minh là một Tổng Thống tự xưng (vi hiến), từ đó không có thẩm quyền đại diện cho quốc gia VNCH để nói chuyện với VC. Màn kịch 30.4.1975 do các diển viên Dương văn Minh và đám dép râu nón cối Bắc Việt chỉ là một màn hài kịch được dựng ra trong tình trạng vô chính phủ và thời điểm tháng 4 -1975.
Trích từ youtube "Lời Tuyên bố đầu hàng: "Có một điều thú vị đằng sau lời tuyên bố đầu hàng, đó là sự không nhượng bộ của chính ủy Bùi Văn Tùng khi ấy với Tổng thống Dương Văn Minh. Ông Dương Văn Minh chỉ muốn nói là: Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, nhưng Trung tá Bùi Văn Tùng yêu cầu ông phải đọc là Tổng thống. Cuối cùng thì lời tuyên bố đầu hàng là: "Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống của Chính quyền Sài Gòn.", hết trích. 

Căn cứ vào bản tuyên bố này người ta thấy được chính Dương Văn Minh cũng đã từng nhất quyết không nhận mình là "tổng thống" vì y biết đó là vị trí hoàn toàn vi hiến trong chức vụ Tổng thống của y - một chức vụ do đám thổ tã hám danh thuộc thành phần thứ ba và cộng sản Bắc Việt suy tôn chứ không phải là một tổng thống chính danh của VNCH được nhân dân miền nam  ủy thác để lãnh đạo. Nhân dân miền nam VN không có ai đồng thuận trong việc  tín nhiệm DVM làm tổng thống, ngoài đám cơ hội, những con rối chính trị của miền nam tín nhiệm mà thôi.

Khi tuyên bố là Đại Tướng trước Tổng Thống, đã nói lên được tính không chính danh và nghịch lý của Dương văn Minh ngay trong bản tuyên bố này- khi y bị ép đọc trên đài phát thanh Sài Gòn sáng ngày 30.4.1975. Tuy nhiên đám dép râu cs Bắc Việt đã hí hửng xem đó là thành tích đáng để ghi vào tài liệu lịch sử.

Nếu phân tích nơi câu đầu của bản tuyên bố cho thấy, thay vì DVM chỉ dùng danh xưng: tôi nhân danh là Tổng Thống VNCH là đũ, không cần phải nói là Đại Tướng, vì Tổng thống chính là tổng tư lệnh của Quân Đội VNCH theo Hiến Pháp VNCH 1967 qui định - nắm trong tay vị trí quyền lực cao nhất nước trên cã Đại Tướng. Khi tên chính ủy Bùi Văn Tùng khoe khoang là đã ép được DVM đọc bản tuyên bố cuối cùng trên Đài PT-SG, cho thấy trình độ hiểu biết giới hạn và  kém cỏi về luật pháp của một nước dân chủ tự do nơi tên Trung Tá chính ủy dép râu nón cối, của cái gọi là phe thắng cuộc trước sự thẹn thùng của ông đại tướng tiếm quyền và vi hiến Dương văn Minh.

Một điều mà các Hậu Duệ VNCH chúng ta cũng cần biết đến,  Tổng thống đương nhiệm lúc đó, là cụ Trần Văn Hương, không có cái quyền để trao lại quyền lực và chức vụ tổng thống cho Dương văn Minh.  Hiến Pháp VNCH có ghi " nếu trong trường hợp không có Tổng Thống và Phó Tổng Thống để lãnh đạo đất nước , thì chủ tịch thượng viện lúc đó là ông Trần văn Lắm, chủ tịch Thượng Viện (1973 đến 30.4.1975) sẽ tạm thời đãm nhiệm việc lèo lái con thuyền quốc gia trong thời gian chờ bầu cử một lãnh đạo mới, chứ không phải là tên hám danh Dương văn Minh.
Lợi dụng tình hình bất ổn về chính trị trong những ngày cuối tháng tư 1975 của VNCH,  Dương Văn Minh nằng nặc đòi cụ Hương trao quyền tổng thống Việt Nam Cộng Hòa cho y, lúc đó mọi người đã nhìn thấy rõ bản chất  háo danh và nhất là cái đần độn của y. Y nằng nặc đòi được làm tổng thống, rồi ôm toàn bộ quyền lực hảo để đi đầu hàng vc. Nhưng thực tế y vì không am tường hết các điều khoản đã ghi trong hiến pháp 1967 của VNCH, để rồi trở thành một tên tội đồ của quân, dân, cán chính VNCH, y ôm ấp giấc mộng được trọng dụng vì có công trạng đã dâng miền nam cho cs Bắc Việt.

Trích điều 56 Hến Pháp nước VNCH 1967:
ĐIỀU 56
1- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước hạn kỳ trong những trường hợp :
a- Mệnh chung.
b- Từ chức.
c- Bị truất quyền.
d- Bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc Hội xác nhận với đa sốba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
2- Trong trường hợp nhiệm vụ của Tổng Thống chấm dứt trên một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ tạm thời đảm nhiệm chức vụTổng Thống trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống cho nhiệm kỳ mới.
3- Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng Thống chấm dứt dưới một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống đến hết nhiệm kỳ, ngoại trừ trường hợp Tổng Thống bị truất quyền.
4- Nếu vì một lý do gì Phó Tổng Thống không thể đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện sẽ đảm nhiệm chức vụ này trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống.

TÓM LẠI:

Bọn cướp ngày cộng sản Bắc Việt đã tiếp nhận quyền lực ở miền nam từ trong tay tên cướp cạn Dương Văn Minh, chứ không phải tiếp nhận từ chính quyền hợp pháp VNCH. Thế nên, nói VNCH đã đầu hàng VC là chuyện đánh tráo lịch sử của hai tên cướp, một bên là cộng sản Bắc Việt và bên kia là tên cướp cạn Dương văn Minh. VNCH không có cử một đại diện hợp pháp nào để gọi là đầu hàng cs Bắc Việt, đó mới là chính sử. Chuyện Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, đó là cá nhân của Dương văn Minh và đám thổ tả thành phần thứ ba, không đại diện cho người dân miền nam và chính quyền chính danh VNCH.

VNCH chưa bao giờ đầu hàng cộng sản Bắc Việt, mà chỉ có mọi người đã lầm về vị trí của Dương văn Minh trong tình trạng vô chính phủ của 2 ngày cuối cùng tháng tư 1975. VNCH vẩn còn tồn tại cho tới hôm nay, sau này với sự góp mặt của hàng ngũ hậu duệ  trong các vị trí từ quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao....trong việc xây dựng một quốc gia Dân Chủ, Hạnh Phúc, Phú Cường.

Hậu duệ ngày hôm nay mang đầy đũ tính truyền thống của các Ông, Cha, Anh  đã từng có mặt trong cơ chế VNCH trước 1975 - sẽ chung sức với toàn dân để VN có được Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do và Dân Sinh hạnh Phúc.

Biên khảo Hậu duệ VNCH Lý Bích Thủy 21.4.2019
CÁI CHẾT CỦA VNCH

Ngày 30.4.1975 là thời điểm kết thúc của VNCH, một sự kết thúc hết sức bi thảm vượt ra ngoài suy nghĩ của những người miền nam. Có người gọi đó:
1.Ngày miền nam bị bức tử

2.Ngày của "Cái ác" lên ngôi.
3.Ngày bị gảy súng
4.Ngày sâu bọ lên làm người.
5. Ngày tan hàng..
6. Ngày quốc tang của người miền nam
7. Ngày quốc hận...

Còn rất nhiều cách nói để diễn tả về ngày đen đủi này của nước VNCH. Tuy nhiên về nguyên nhân thì người trẻ chúng tôi đi tìm những tài liệu lịch sử sẳn có trên mạng để chia sẻ cùng với những người trẻ trong nước. Khi tìm hiểu về cái chết của VNCH, chúng tôi nhận thấy rằng mình phải trở về với giai đoạn của các bối cảnh trước khi xảy ra hoà đàm Paris, cho đến ngày miền nam bị thất thủ. Bài viết này chỉ là một góc nhỏ của lịch sử cận đại nói về khó khăn của chính quyền đệ nhị Cộng Hoà trong cuộc chiến tự vệ của VNCH do Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lãnh đạo.
Bối Cảnh Chính Trị Đưa Đến Hòa Đàm Paris
Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân (tháng 2-1968) là một thất bại nặng nề về quân sự của phe Cộng sản, với tổng số thương vong gần 39.000, trong đó có 33.249 quân tử trận, so với phía Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Hoa Kỳ chỉ có khoảng 15.000 thương vong, trong đó có 3.470 tử trận. Về mặt chính trị, tại Hoa Kỳ, các phong trào phản chiến rầm rộ nổi khắp nơi trên đất Hoa Kỳ, làm ảnh hưởng không ít đối với những quyết định của Quốc Hội Hoa Kỳ khi biểu quyết về chiến tranh VN. Các chiến lược của Hoa Kỳ ở vùng Đông Dương cũng từ đó bĩ thay đổi. Các phong trào phản chiến đã làm ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của của Tổng Thống đương nhiệm. Đó là một thời điểm không may, dẩn dần đến sự bất lợi hoàn toàn về chính trị cho phía VNCH.
Tổng Thống Lyndon B. (Baines) Johnson quyết định xuống thang chiến tranh và tìm cách thương thuyết để rút quân ra khỏi Việt Nam. Ngày 31-3-1968, ông tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nữa, quyết định ngưng oanh tạc Miền Bắc, và kêu gọi Bắc Việt đến bàn hội nghị. Và hai bên chính thức khởi sự thương thuyết công khai tại Paris, Pháp, từ ngày 13-5-1968. Về phía Hoa Kỳ, trưởng và phó phái đoàn thương thuyết là các ông Averell Harriam và Cyrus Vance. Về phía Bắc Việt là các ông Xuân Thủy và Hà Văn Lâu. Cuộc hoà đàm đã kéo dài gần 4 năm chính tháng gồm 202 phiên họp công khai và 24 phiên họp kín, kết thúc vào ngày 27/1/1973 và có hiệu lực 1 ngày sau đó tức ngày 28.1.1973 và văn bản này hết hiệu lực sau khi kết thúc cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào ngày 25.4.1976. Bản văn Hiệp Định Paris gặp sự chống đối mạnh mẽ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vì đây là một văn bản hoàn bất lợi cho phía VNCH. Tổng Thống Hoa Kỳ là Nixon, đã nhiều lần doạ dẫm và đói đảo chính, cắt viện trợ quân sự..v..v..cuối dưới áp lực quá mạnh của Hoa Kỳ, ông Thiệu đành ngậm ngùi cho thông qua, mặc dù biết số phận VNCH sẽ bi đát trong những ngày tháng sau khi ký HĐ Paris. Và điều gì phải tới cũng đã tới đó là ngày 30.4.1975.
Ngày 21-4 Ông Thiệu từ chức bàn giao cho ông Hương, ngày 24-3 hai ông Thiệu và Khiêm ra đi, tinh thần quân lực VNCH bị suy sụp. Ngày 26-4 Cộng quân bắt đầu mở chiến dịch tấn công Sài gòn, ngày 28-4 Đại tướng Dương Văn Minh lên thay thế ông Trần văn Hương, các phòng tuyến của ta sụp đổ dần dần trước các đợt tấn công pháo kích của địch. Ngày 30-4-1975 Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng kết thúc cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ.
Nhiều người kết án ông Thiệu cho lệnh rút bỏ Quân Khu II và I đã đưa tới sự sụp đổ toàn bộ VNCH. Ông Thiệu là nguyên nhân gần gây nên sự sụp đổ, nhưng nếu kết án ông ta là nguyên nhân duy nhất thì không đúng lắm, bài viết nơi đây không phải để bênh vực cho ông Thiệu, nhưng chúng ta không thể nói sai lịch sử. Về phía VNCH người đồng minh Hoa Kỳ đã bắt đầu chơi ép ông Thiệu cắt giãm lần lần quân việc sau khi rút quân về. Các kho dự trử đạn dược lần hồi đi đến kiệt quệ không còn khả năng đẩy lui được các cuộc tổng tấn công của địch . Các phương tiện tản thương bằng trực thăng cũng bị giảm làm số tử vong lên cao. Đến khi xin viện trợ khẩn cấp của Hoa Kỳ, thì gặp trở ngại về phía đảng Dân Chủ, cánh này nắm đa số tại Quốc Hội. Họ chủ trương cắt hoàn toàn quân viện bỏ rơi miền Nam VN một cách vô nhân đạo.
Nửa năm sau Hiệp định Paris, Quốc hội Dân chủ ra luật cắt hết mọi ngân khoản dành cho chiến tranh Đông Dương của Hành pháp. Nixon không còn quyền hành để bảo vệ đồng minh tại nơi đây.
Đó cũng là lý do do mà những hậu duệ chúng tôi không có cái nhìn thiện cảm với đảng Dân Chủ trong quốc hội Hoa Kỳ. Một bài học qúi giá về tinh thần tự quyết dân tộc. Một tinh thần mà ngày xưa dưới các thể chế quân chủ ở nước ta đặt hàng đầu trong các quyết định đánh quân xâm lược phương bắc để bảo toàn chủ quyền về lãnh thổ của Đại Việt, của Nam Quốc Sơn Hà Nam Đé Cư.
Vì thế ngoài nguyên nhân quân sự nêu trên còn những nguyên nhân khác đóng góp vào sự sụp đổ miền Nam. Một nguyên nhân gần nữa và vô cùng quan trọng ở đây là vấn đề cắt quân viện, dẩn đến cái chết của VNCH.
HOA KỲ CẮT QUÂN VIỆN.
Vấn đề cắt quân viện đã manh nha từ đầu thập niên 1970. Cuộc “Hành quân qua Kampuchia" vào năm 1970 đã tạo ra phản ứng chống đối dữ dội của Quốc Hội Mỹ vì họ cảm thấy bị ngành hành pháp che dấu sự thật. Tháng 6.1970, Thượng viện đã biểu quyết với đa số chấm dứt nghị quyết Vịnh Bắc Việt trao toàn quyền hành động cho Tổng Thống Mỹ. Hai Thượng Nghị Sĩ John S. Cooper (đảng Cộng Hoà, tiểu bang Kentucky) và Frank F. Church (đảng Dân Chủ, tiểu bang Idaho) một thành viên của Ủy ban Ngoại Giao Thượng Viện đã đề nghị một tu chính án cắt tất cả phí tổn về quân sự của Mỹ tại Miên kể từ ngày 1.7.1970. Sau 7 tuần lễ tranh cãi, Thượng Viện Mỹ biểu quyết vào cuối tháng 6.1970 với 58 phiếu thuận và 37 phiếu chống. Tuy nhiên Hạ Viện đã bác bỏ tu chính án này. Tu chính án do đó được sửa đổi lại và được biểu quyết chấp thuận vào tháng 12. Theo đó Mỹ không được đưa quân tác chiến qua Lào và Thái Lan.
Lần đầu tiên Tổng Thống Mỹ với tư cách Tổng Tư Lệnh Quân đội bị giới hạn quyền hành trong tình trạng chiến tranh. Một tu chính án khác do hai Thượng Nghị Sĩ George Mc Govern (đảng Dân Chủ, tiểu bang South Dakota) và Mark O.Hatfield (đảng Cộng hoà, tiểu bang Oregon) đã đề nghị rút tất cả quân đội Mỹ và cắt tất cả quân viện cho VNCH vào cuối năm 1971. Tuy nhiên Thượng Viện Mỹ đã bác bỏ hai lần (1970 và 1971) tu chính án này. Năm 1973, Quốc Hội Mỹ biểu quyết chấp thuận tu chính án do Frank Church và Thượng Nghị Sĩ Clifford (đảng Cộng Hoà) chấm dứt tất cả quân viện cho các nước Đông Dương.” Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 510 Tháng 6-1973 Quốc Hội Mỹ biểu quyết cắt ngân khoản cho tất cả các hoạt động quân sự tại Đông Dương, ngày 1-7 Nixon miễn cưỡng ký thành luật áp dụng kể từ 15-8. Đến tháng 10-73 Quốc Hội lại thông qua dự luật Quyền Hạn Chiến Tranh (War powers Act) buộc Tổng Thống phải tham khảo ý kiến Quốc Hội trước khi gửi quân đi tham chiến. Ý định phản bội của người bạn đồng minh đã bắt đầu lộ diện.
Khi người Mỹ mới đổ quân ồ ạt vào Việt Nam năm 1965 ngân sách năm ấy mới có 646 triệu đô la, năm sau 1966 tăng vọt lên gần 6 tỷ, đến 1967 tăng lên 20 tỷ, năm 1968 tăng lên 26 tỷ năm 1969 lên 29 tỷ, hai năm 1970, 1971 xuống còn 12 tỷ vì Mỹ đang rút quân. Năm 1972 họ rút gần hết chỉ còn 24,200 người khi ấy miền Nam phải một mình gánh vác chiến trường với tiền viện trợ ngày một bị cắt giảm. Năm 1973 Quân viện là 2 tỷ 1, sang năm 1974 chỉ còn 1 tỷ 4, năm 1975 tụt xuống còn 700 triệu trong đó 300 triệu để trả lương cho nhân viên cơ quân tuỳ viên quân sự DAO của Mỹ. VNCH chỉ nhận được một nửa số quân viện cần thiết.
Năm 1975 đảng Dân Chủ nắm đa số tại Quốc Hội Mỹ, họ chủ trương bỏ Đông Dương không cần biết hậu quả cũng như danh dự cho nước Mỹ. Về thế lực cũng như tài chính Dân chủ thua kém Cộng Hoà nên chỉ thừa cơ nước đục thả câu, lợi dụng sơ hở của Cộng Hòa để thọc gậy bánh xe. Họ thường o bế giới bình dân, da đen, Mễ miếc, cu li cu leo khố rách áo ôm, đám trốn lính, chống chiến tranh … để lấy lòng kiếm phiếu. Họ chớp đúng thời cơ khi phong trào phản chiến lên cao được dân chúng ủng hộ để nắm đa số tại Quốc Hội và thẳng tay bỏ rơi đồng minh không thương tiếc, cái mà ông Nguyễn Tiến Hưng gọi là “nhát gươm đao phủ”.
“Ngay sau đó, 13 tháng Ba, nhát gươm đao phủ đã hạ xuống: ban lãnh đạo Đảng Dân Chủ, cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện (họ lại là thành phần quyết định trong Quốc Hội) bỏ phiếu với đa số: chống bất cứ viện trợ nào thêm cho Miền nam” , trích từ cuốn "Khi Đồng Minh Tháo Chạy trang 245" của Nguyễn Tiến Hưng.

VNCH BẾ TẮC VỀ TIẾP LIỆU:
Theo Đại Tướng Cao Văn Viên hậu quả của cắt giảm quân viện là không quân phải cho hơn 200 máy bay ngưng bay.. giảm giờ bay, huấn luyện 50%, số giờ bay thám thính 58%, phi vụ trực thăng giảm 70%.. Hải quân cũng bị cắt giảm hoạt động 50%, 600 tầu xuồng các loại nằm ụ, các chiến cụ, quân dụng hư hỏng không được thay thế, chỉ có khoảng 33% được thay mà thôi. Tổng số đạn trong kho chỉ đủ dùng cho đến tháng 6-1975, thuốc men thiếu thốn, số tử vong lên cao khiến tinh thần binh sĩ xuống thấp.
Người Mỹ ký hiệp định Ba Lê để rút quân ra khỏi VN và lấy tù binh về không đếm xỉa gì tới sự tồn vong của miền Nam nước Việt. Sir R Thompson, chuyên viên về du kích chiến cho rằng miền Nam bị đe doạ chỉ vì để cứu nước Mỹ khỏi cảnh xâu xé nhau, miền Bắc bị buộc phải ngồi vào bàn hội nghị để cứu nước Mỹ. Ông M.Gauvin nguyên chủ tịch Ủy Hội Kiểm Soát Quốc tế tuyên bố ngày 4-4-1975 cho rằng miền Nam VN thất bại do quyết tâm bỏ rơi đồng minh của Mỹ. Và Mỹ đã đâm sau lưng người đồng minh của mình.
“Còn về khả năng tồn tại, ông cho là ‘vẫn còn tùy thuộc vào số quân viện Hoa Kỳ cung cấp cho VNCH’. ĐT Viên kết luận “Một sự thật không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6-1975 nếu không nhận được quân viện phụ trội. Và một quân đội sẽ không thể nào chiến đấu nếu không có những trang bị cần thiết để chiến đấu” Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy (KĐMTC) trang 457"
Khi lập luận như trên người ta sẽ đạt thêm câu hỏi tại sao họ lại bỏ rơi VNCH? ông Nguyễn Tiến Hưng cho biết

“Tại sao Mỹ lại dứt khoát bỏ rơi Miền nam? Câu trả lời ngắn gọn là vì quyền lợi của Mỹ ở Việt nam đã không còn nữa” KĐMTC trang 455.

Đau đớn thay một quân lực, chỉ vì quyền lợi của những cường quốc, những tham vọng thoả hiệp trên bàn cờ quốc tế, đồng minh tin cậy nhất đã phản bội họ, đâm sau lưng họ, bằng "một nụ hôn Du Đà bán Chúa" qua Hiệp Định Bàn Tròn Ba Lê năm 1972, từ đó ngưng tiếp tế vũ khí, trói tay bạn trên chiến trường, lũng loạn hậu trường chính trị để làm nản chí và mất niềm tin chiến đấu, tạo điều kiện thuận lợi và dọn đường cho bọn Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam.
QLVNCH thất trận không phải vì thua kém, mà vì không có cơ hội chiến đấu. "Cọp trong cũi sắt phải giương mắt nhìn", để đám khỉ “nhảy bàn độc” mặc tình bày trò nhố nhăng. Những niềm đau, nỗi nhục sau khi cuộc chiến kết thúc, đã kéo dài 42 năm qua và còn mãi mãi, chết vẫn chưa quên! Như vết sẹo hằn sâu trên cơ thể nhắc nhở hoài đau thương, và vết thương chỉ lành hẳn khi nào QLVNCH có cơ hội chiến thắng lại kẻ thù qua bất cứ hình thức nào, thì niềm đau kia mới phai mờ.
Như một phép lạ, quân lực VNCH khi bị bỏ rơi, vẫn kiên nhẫn, vẫn kiên cường chiến đấu đơn độc, vẫn chiến đấu dũng cãm chống kẻ thù đông hơn gấp bội, với vũ khí tối tân và dồi dào hơn gấp nhiều lần, với sự yểm trợ tích cực không điều kiện từ tinh thần đến vật chất của Liên Xô, Trung Quốc và cả khối Cộng Sản Quốc Tế. Quân lực VNCH vẫn gan dạ, sừng sững như núi, hy sinh vững vàng chiến đấu. Nếu cấp chỉ huy của họ không ra lệnh buông súng, quyết định sống mái tới giây phút cuối cùng. Thì chưa chắc ngày hôm nay phần thắng đã thuộc về ai? 30.4.1975 lịch sử nói về VNCH đã sang trang.
Như trên đã phân tích về cái chết của VNCH vào ngày 30.4.1975, chúng ta thấy rất rỏ là VNCH đã qúa lệ thuộc vào viện trợ quân sự của Hoa Kỳ nên không thể tự quyết trước những quyền lợi chính đáng của VNCH. Hiệp định Paris hoàn toàn bất lợi cho VNCH, đã bị ông Thiệu phản đối kịch liệt ngay từ đầu nhưng rồi cuối cùng cũng phải đặt bút ký để giải toả sức ép của Hoa Kỳ, một đồng minh không thuỷ chung trên con đường chống lại sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt đến nơi đến chốn. Số phận của VNCH vào 42 năm trước đây là bài học qúi giá cho hậu duệ VNCH trong thời kỳ cứu nước và giử nước tương lai.
Nhưng kể từ khi vận nước nổi trôi thì Tháng Tư đã để lại một vết thương nhức nhối trong lòng người Việt Quốc Gia chẳng biết đến bao giờ mới lành miệng. Nhà thơ Khiếu Như Long đã trút cạn tâm sự cùng các chiến hữu với bài "Tháng Tư Uất Hận", mà người viết dùng để kết thúc bài viết.
Tháng Tư mình mất cuộc đời

Ngày buông tay súng chơi vơi hận cuồng
Trời quê hương chợt nhuốm buồn
Một đời chinh chiến hào truông biên thùy.


Lê Kim Anh,1/4/2017
BĂNG CÁI BANG BA ĐÌNH ĐANG BÁM VÁY VNCH ĐỂ SỐNG 

Như tờ Doanh Nhân Sài Gon loan tin,  đám đầu lĩnh Cái Bang Ba Đình đã vác túi đi vay 1 tỷ đô la ( ~ 23.255 tỉ VNĐ)   trong tháng 4 năm 2020, số tiền  vay này  từ các tổ chức cho vay tiềm năng, gồm Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).  Cái Bang Ba Đình phải vay tiền đợt II trong năm 2020 vì gặp tình trạng be bét của cái gọi là nền kinh tế vĩ mô của chxhcnVN, sau cơn đại dịch Corona Vũ Hán. Kế hoạch vay tiền này nhằm đối phó với các khó khăn vì nợ công tăng cao, sắp vượt qua số 65% GDP mà QH.CHXHCHVN cho phép. Xem nguồn: https://doanhnhansaigon.vn/thoi-su-trong-nuoc/viet-nam-dang-dam-phan-vay-1-ty-usd-1098010.html

Mặc dù trước đó, vào đầu năm, đã vay gần 460 ngàn tỷ đồng cho năm 2020, như vậy, nội trong năm 2020 các trưởng lão 8 túi đã vác bị đi xin ăn tới 2 lần tổng cộng số tiền vay là 483.255 tỉ VNĐ, gần gấp 3 lần của năm 2019. Vậy thì chúng ta tìm hiểu 3 Ngân Hàng kể trên ra sao? mà đám cái bang Ba Đình đã vác bị đến đây để ăn mày?

Một điều khá thú vị, là cshxhcnvn, chỉ là bám váy VNCH để trở thành viên của 3 Ngân Hàng này - VNCH đã là thành viên chính thức của 3 ngân hàng quốc tế nầy từ giửa thế kỷ 20. Trong khi đó, miền bắc XHCNVN, chưa là thành viên của bất kỳ một tổ chức quốc tế nào cho tới khi cướp được miền nam VN.
Nhưng bọn cái bang Ba Đình này luôn miệng không thừa nhận VNCH, đây chính là cái thô bỉ nhất của đám tà quyền csVN - Có thể nói, ngày nay đảng csVN, đang sống nhờ nồi cơm thừa của VNCH, nhưng thường hay bốc phét với người dân VN trong nước về thực thể chính danh của VNCH. Còn cái gọi là Cộng Hoà Miền nam VN và VNDCCH chỉ là một đứa con vô thừa nhận trong cộng đồng của thế giới. Một sự thật mà những thế hê sinh sau ngày 30.4.1975 cần nên biết để thấy được cái bản chất gian xảo, tuyên truyền dối trá về VNCH, để phân ra được đâu là chánh và đâu tà quyền? Mục đích chúng tôi viết bài này, là để cho các hậu duệ VNCH trẻ như chúng tôi biết được sự thật về thế chính danh của VNCH trong cộng đồng thế giới, cái mà cs Bắc Việt hoàn toàn không có.

 1. QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ 

Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế , tiếng Anh: International Monetary Fund  viết tắt là IMF. Cơ quan IMF đã đi vào hoạt động ngày 27 tháng 12 năm 1945, khi đó có 29 nước đầu tiên ký kết nó là những điều khoản của hiệp ước. Mục đích của luật IMF ngày nay, giống với luật chính thức năm 1944. Ngày 1 tháng 3 năm 1947 IMF bắt đầu hoạt động và tiến hành cho vay khoản đầu tiên ngày 8 tháng 5 năm 1947.
Nguồn vốn của IMF là do các nước đóng góp, các nước thành viên có cổ phần lớn trong IMF là Mỹ. Trong đó Mỹ với số đóng góp lớn nhất là 82.994,2 triệu USD. (17,46%), Đức (6,11%), Nhật Bản (6,26%), Anh (5,05%) và Pháp (5,05%).
Tổng vốn của IMF là 30 tỷ Dollar Mỹ (1999). Thẩm quyền quyết định sẽ chia theo phần trăm của nước có số cổ phần. 
Ảnh hưởng của IMF trong kinh tế toàn cầu được gia tăng nhờ sự tham gia đông hơn của các quốc gia thành viên. Hiện IMF có 184 thành viên, nhiều hơn bốn lần so với con số 44 thành viên khi nó được thành lập. Xem nguồn: https://de.wikipedia.org/wiki/Internationaler_W%C3%A4hrungsfonds


Việt Nam Cộng hòa đã gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế và trở thành thành viên chính thức từ năm 1956. Năm 1975 khi chiếm được miền nam VN, Cộng hoà Miền Nam Việt Nam đã ăn theo vị trí thành viên trước đó của VNCH. Rồi tới khi cs Băc Việt đá đít Cộng hoà Miền Nam Việt Nam năm 1976, thì đám cái bang chxhcnVN, chôm luôn tư cách thành viên đó của VNCH.

Hiện chúng đang ăn theo vị trí thành viên VNCH trong IMF. Sự việc đó bị đám báo chí gia nô và Ban Tuyên Láo tuyên truyền là quyền thừa kế VNCH (?). Trong lúc 3 tổ chức trên chưa nhận rỏ về tình trạng bất chính của cs Bắc Việt trong việc vi phạm Hiệp Định Paris, nên đã bỏ qua việc cứu xét đến tính bất hợp pháp trong việc gọi là "quyền thừa kế khống" của cs Bắc Việt. 

Nếu như Hiệp Định Paris được  tổng  thống Trump giúp để cứu xét về sự vi phạm của VNDCCH, thì chắc chắn cs Bắc Việt phải cuốn gói về Bắc và VNCH trở lại , lúc đó đám ăn mày Ba Đình sẽ mất ngay vị trí thành viên của 3 tổ chức đó ngay lập tức.

2. NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (World Bank) 

WB là một tổ chức tài chính quốc tế nơi cung cấp những khoản cho vay nhằm thúc đẩy kinh tế cho các nước đang phát triển thông qua các chương trình vay vốn.  Mục tiêu của Ngân hàng Thế giới là cho  các quốc gia  đang phát triển để thoát đói nghèo. Hoa Kỳ đóng vai trò quyết định ctrong Ngân hàng Thế giới. Ngân hàng Thế giới được thành lập tại hội nghị Bretton Woods năm 1944 cùng 3 tổ chức khác trong đó có Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Cả WB và IMF đều có trụ sở tại Washington DC, và có mối quan hệ gần với nhau.
Đám cái bang Ba Đình lợi dụng tối đa WB để xin ăn hơn 3 thập niên vì là nước chậm tiến , nghèo và đang phát triển đang cần tín dụng ưu đãi của Mỹ, nên đã mang mặt nạ rồi vác túi đến Ngân Hàng Thế Giới  để xin vay, với lý do là đã từ bỏ nền kinh tế tập trung bằng kinh tế thị trường của tư bản, nhưng thuộc loại nửa mùa gọi là  KTTT định hướng XHCN. Giống như IMF, nhờ VNCH giờ đây chxhcnvn mới trở thành viên của ngân hàng này. 

Trong Wikipedia, chúng cũng thừa nhận việc này. Trích :" Sau năm 1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và thông qua danh nghĩa của chủ ngân hàng này để thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng Việt Nam Cộng hòa này trong các tổ chức tài chính quốc tế như: IMF, WB, ADB". Hết trích. Xem nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_Qu%E1%BB%91c_gia_Vi%E1%BB%87t_Nam

WB TRỪNG PHẠT DOANH NGHIỆP VN:

Công ty Công nghệ Sao Bắc Đẩu của Việt Nam vừa bị Ngân hàng Thế giới trừng phạt vì liên quan đến lừa đảo và gian lận.

Ngân hàng Thế giới (WB) hôm 24/6/2020 công bố cấm vận 7 năm Công ty Công nghệ Sao Bắc Đẩu (SBD) có trụ sở tại Việt Nam, liên quan đến các hoạt động lừa đảo và gian lận trong Dự án Phát triển giao thông đô thị Hà Nội và Dự án Phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng. Thông cáo của WB cho hay theo các chứng cứ tìm được, nhân viên SBD đã gây ảnh hưởng không đúng đắn đến các quy trình đấu thầu của hai dự án; bao gồm tài liệu giả mạo trong hồ sơ dự thầu; và không cung cấp thông tin chính xác về sự tham dự trong giai đoạn tiền kỳ của hai dự án. Đây là những hoạt động được coi là thông đồng và gian lận.
Sao Bắc Đẩu (Sao Bac Dau Technologies Corporation) là công ty chuyên về cung cấp hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông có trụ sở tại TP HCM, có nhiều khách hàng là các cơ quan chính phủ quan trọng như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao… Theo thông tin tự giới thiệu, công ty đã có 24 năm hoạt động, từng nhận Huân chương Lao động hạng 2 và doanh thu dự kiến đến năm 2022 là 2.500 tỉ đồng.

Trong mấy thập niên qua, đám cái bang Ba Đình là vay tiền nhiều nhất từ ngân hàng này của Mỹ. WB từng cho vay hàng ngàn tỷ USD để hỗ trợ cho ngành nông nghiệp VN từ những năm đầu thế kỷ 21 cho đến nay. Cái Bang Ba Đình đã bám váy WB của Mỹ một cách triệt để vay với chế độ ưu đãi.

Những khoản tiền WB cho đám cái bang Ba Đình vay gần đây nhất là  84,4 triệu USD. Ngày 7/6/2020 Ban giám đốc Ngân hàng Thế giới đã phê duyệt khoản vay IDA với tổng mức cam kết 84,4 triệu USD hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thực hiện cải cách chính sách đa ngành nhằm tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu trên cơ sở bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển giao thông và năng lượng xanh. Xem nguồn: https://cafef.vn/wb-phe-duyet-khoan-vay-844-trieu-usd-giup-viet-nam-ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau-2020060718584498.chn

Khoản vay này cũng hỗ trợ đám cái bang ba Đình Việt Nam đối phó với đại dịch COVID-19 thông qua hỗ trợ ngân sách từ nguồn vốn vay ưu đãi và các chính sách giúp đối phó với đại dịch.

Trong quá khứ đám cái Bang đã từng xách túi đến vay tiền của WB để kiếm tiền sinh sống cho đảng là chính. Chúng lập ra các dự án để mượn tiền, nhưng không thực hiện hoặc đấp chiếu các công trình này, tiền thì vô túi các quan tham.

Năm 1978, WB đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng trị giá 60 triệu USD để thực hiện dự án Thuỷ lợi Dầu tiếng. Tháng 1/1985, IMF và WB đình chỉ quyền vay vốn của Việt nam do Việt Nam mắc nợ quá hạn. Kể từ 1993 đến nay, WB đã cho Việt Nam vay khối lượng lớn vốn ưu đãi (khoảng 24 tỷ USD thông qua các hiệp định cho khoảng 180 chương trình, dự án). Tổng số giải ngân của các chương trình, dự án này đến tháng 11/2019 đạt khoảng 24,4 tỷ USD. Mức cam kết của WB cho Việt Nam đều tăng dần qua từng năm. Cụ thể: từ mức trung bình khoảng 300-500 triệu USD/năm trong những thời kỳ đầu lên đến mức trung bình khoảng 1-1,2 tỷ USD tính từ tài khóa 2007 đến nay. Trong kỳ IDA 17 (2014-2017) WB đã phân bổ cho Việt Nam khoảng 3,8 tỷ USD từ nguồn vốn vay ưu đãi (IDA), 213 triệu USD từ nguồn Cơ chế bổ sung IDA (SUF) và gần 1,4 tỷ USD từ nguồn vốn kém ưu đãi hơn (IBRD). Xem nguồn: https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/trangchu/hdk/htqt/qhvctctc/qhvwb?_afrLoop=1783869765900664#%40%3F_afrLoop%3D1783869765900664%26centerWidth%3D80%2525%26leftWidth%3D20%2525%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3D1cbzxjid9g_4

3. NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN Á CHÂU (ADB)

Ngân hàng phát triển Á Châu tiếng Anh là:The Asian Development Bank; viết tắt: ADB. Là một thể chế tài chính đa phương cung cấp các khoảng tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật nhằm giúp các nước châu Á xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội. ADB được thành lập vào năm 1966, có trụ sở chính tại Manila, và chủ tịch là một người Nhật Bản.

ADB được thành lập ở Manila vào ngày 12/12 với 31 thành viên để phục vụ trọng yếu khu vực nông thôn. Việt Nam Cộng hòa góp USD 6,6 triệu trong số vốn một tỷ nguyên thủy. ADB cho vay vốn để giúp các quốc gia kém phát triển trong các dự án cải thiện đường sá và cung cấp điện.
ADB blà đầu tàu cho việc xúc tiến sự hợp tác khu vực, tiến gần hơn đến sợi dây liên kết giữa các Quốc gia trong tiểu vùng Sông Mekong.

Về cơ cấu tổ chức, cơ quan ra quyết định cao nhất của ADB là Ban Thống đốc do mỗi quốc gia thành viên đóng góp một đại diện. Đến lượt nó ban Thống đốc lại tự bầu ra trong số họ 12 thành viên của Ban Giám đốc và các cấp phó của họ. 8 trong số 12 thành viên này là đại diện của các quốc gia trong khu vực(các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương) và số còn lại là từ các quốc gia ngoài khu vực.
Ban Thống đốc còn bầu ra chủ tịch Ngân hàng, là người đứng đầu Ban Giám đốc và điều hành ADB. Mỗi chủ tịch giữ cương vị của mình trong một nhiệm kì kéo dài 5 năm và có thể được tái đắc cử. Theo truyền thống và vì Nhật Bản là một trong những cổ đông lớn nhất của ADB, cho nên chủ tịch của ADB đã luôn là người Nhật. Chủ tịch đương nhiệm của ADB là Haruhiko Kuroda.

Trụ sở của ngân hàng ADB đặt tại 6 ADB Avenue, thành phố Mandaluyong, Metro Manila, Philippine, và có văn phòng đại diện trên khắp thế giới. Hiện ADB có khoảng 2400 nhân viên, đến từ 53 trên tổng số 67 quốc gia thành viên (theo web ADB.org tính đến 2/2007), và gần một nửa số nhân viên của họ là người Philippine.

VNCH đã gia nhập tổ chức này và là thành viên chính thức từ năm 1966. Hiện nay cshxcnvn đã núp váy VNCH để trở thành thành viên của ADB. Xem nguồn:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_Ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_ch%C3%A2u_%C3%81

Sau nhiều năm gián đoạn vì thay đổi chế độ, cái bang Ba Đình đã tìm cách móc nối lại quan hệ với Ngân hàng này bằng cái xác chết của VNCH, nên từ 1989 Ngân hàng phát triển Á châu đã cử nhiều đoàn vào Việt Nam để tìm hiểu tình hình và chuẩn bị tài trợ một số dự án. 

Năm 1993, Ngân hàng phát triển Á châu tài trợ cho các dự án sau :
- Dự án cải tạo hệ thống thủy lợi và chông lụt: 76,5 triệu USD.
- Dự án cải tạo hệ thống cấp nước TP. HCM: 60 triệu USD. Dự án này bị bọn tham quan cắt xén ăn bớt, hoặc bù đắp vào các lổ hổng của ngân sách, nên thành "hồ", khi mùa mưa tới là ngập vẩn hoàn ngập, ngày cáng nặng hơn lúc chưa có tài trợ. Xem nguồn: https://vietnambiz.vn/ngan-hang-phat-trien-a-chau-asian-developament-bank-adb-la-gi-20190912101933974.htm

Tính đến tháng 4/1975 VNCH đã đóng góp cổ phần vào Ngân hàng phát triển Á châu là 5.365.193,62 USD và số lượng bản tệ tương đương 6.224.765,43 USD. Nay chxhcnvn đã ăn cái cơm thừa cá cặn này của VN đả để lại, nhưng miệng chúng luôn rủa VNCH. Cái thất đức của cái bang Ba Đình là ăn cháo đá bát, đó chính là cái bản chất của "mụ Nấm Độc", đã phát tiết trên đất Mỹ mấy tháng gần đây.

Tóm lại: Đám cái bang Ba Đình, đang thừa hưởng những định chế tài chính quốc tế từ VNCH, nhưng lại chảnh chó (từ ngữ bình dân trong nước), chê bai đũ thứ VNCH. Một đảng ăn cướp từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất của VNVCH, để tồn tại!! 

Dân tộc VN quả thật bất hạnh khi phải sống trong một chế độ mà những người lãnh đạo kém đức kém tài trong việc điều hành đất nước và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, nhưng không bao giờ biết hạn chế cái "ngông" truyền thống của những cái bang có nguồn gốc xuất thân từ hang Pắc Bó. Đây là chuyện kể từ hậu duệ VNCH, để người dân VN trong nước thấy được cái bản chất lưu manh và thô bỉ của cái gọi là phe thắng cuộc. Chúng xài hàng Mỹ và VNCH, nhưng cố tình khoả lấp bằng cái bộ mặt thô bỉ, da dầy cộm như da tê giác.

Biên khảo từ Hậu Duệ VNCH Lý Bích Thuỷ, 06.07.2020.