Powered By Blogger

 BAO GIỜ CỬA KHẨU THÔI TẮC NGHẼN? - MỘT CÂU HỎI MÀ HAI BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG THƯƠNG KHÔNG THỂ GIẢI ĐÁP

Tình trạng ùn ứ hàng hóa tại cửa khẩu đâu phải mới xảy ra, nhiều năm qua trước khi có Covid 19 xuất hiện,hàng năm vấn đề này đều đã xảy ra, từng có gạo, dưa hấu, khoai lang, trái cây...  bị ùn ứ vào dịp gần Tết hoặc khi thằng đàn anh 4 tốt 16 chữ vàng "ấm đầu ho hen" là có xảy ra ngay vấn đề thông quan. Một nền kinh tế hoàn bị động vì lệ thuộc quá nhiều vào TQ như VN, thì việc bị thằng đàn anh xấu tánh bắt chẹt hay làm khó dể để gây áp lực về chính trị là chuyện bình thường cho kiếp số  của thằng em Thái thú csVN. Các bác tài chạy xe qua các cửa khẩu Việt Trung lâu năm, để vận chuyễn nông sản của VN sang TQ đã từng tiết lộ cho biết sự việc này.

Theo ghi nhận của Tuổi Trẻ Online ngày 18-12- 2021, dọc quốc lộ 1A từ thành phố Lạng Sơn lên các cửa khẩu Tân Thanh, Hữu Nghị, Chi Ma (tỉnh Lạng Sơn) có nhiều điểm tập trung, trung chuyển các xe container chở nông sản.

Theo thống kê của Sở Công thương tỉnh Lạng Sơn, đến sáng 18-12 có khoảng 4.800 xe nông sản đang ùn ứ tại 3 cửa khẩu nói trên. Tại cửa khẩu Tân Thanh, nơi có khoảng 2.800 xe nông sản, chủ yếu là mít, xoài, thanh long, dưa hấu,... từ các tỉnh phía Nam ra, đang nằm dài, chen chúc tại bãi xe Bảo Nguyên (bãi chờ xuất khẩu) và khu phi thuế quan (bãi đất) cách cửa khẩu chừng 5km.  Sự ùn ứ tại các của khẩu này đưa đến sự thiệt hại hàng trăm tỉ đồng.

Gần 20 năm chạy xe hàng hóa đi xuất khẩu, tài xế Huỳnh Tấn Dũng (57 tuổi, ở Bình Định) chưa khi nào rơi vào cảnh phải ăn chực nằm chờ tại bãi 20 ngày mà chưa xuất được hàng.

Một điều rất khó hiểu là VN đã từng xuất cảng nhiều tỉ đôla nông sản đi nhiều thị trường khó tính trên thế giới, tất cả đều theo hợp đồng, xuất chính ngạch với các tiêu chuẩn cao về chất lượng, giao nhận, thanh toán... Vậy mà khi xuất cảng nông sản qua Trung Quốc, năm nào cũng gặp lại điệp khúc "nghẽn ở cửa khẩu".

Không thể đổ hết cho COVID-19. Tình trạng ùn ứ hàng hóa tại các cửa khẩu hiện nay là chỉ dấu của một hiệu ứng dây chuyền tất yếu, một triệu chứng của bất cập sản xuất - tiêu thụ hàng hóa. Nông nghiệp bị đứt gãy kết nối với công nghiệp chế biến và tiêu thụ với các chuỗi cung ứng hàng hóa xuất cảng, dịch vụ kém logic cơ bản, đây là cách làm việc thiếu văn minh và hợp lý có từ nhiều năm qua.

Cũng cần chấm dứt tình trạng cứ mỗi lần rừng xe tải nằm ở cửa khẩu, vấn đề thay đổi, cơ cấu lại khâu sản xuất, thương mại được được các chóp bu lãnh đạo nêu ra, rồi mùa sau cũng được các chóp bu này nhắc lại. Chưa thấy có tín hiệu thay đổi. Do vậy, cần phải có "nhạc trưởng" không biết ngậm vàng của TQ, hình thành các tổ hợp đủ mạnh để hỗ trợ, chủ động ứng phó, đặc biệt là chuyển đổi căn bản từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp và ngành kinh tế tích hợp công thương.

Hình ảnh đau thương của hàng ngàn xe hàng hóa ùn tắc ở cửa khẩu là căn bệnh trầm kha từ nhiều năm qua rất cần được hai Bộ Nông nghiệp và Công thương giải quyết dứt điểm. Thậm chí phải đưa ra lộ trình đến ngày nào đó phải chấm dứt ca điệp khúc "nghẽn ở cửa khẩu", để nông dân VN có thể an tâm làm ăn với nền kinh tế thị trường của nước xhcnTQ và các bộ liên quan của phía VN, để tránh rủi ro. 

Đây không thể là một lời hứa suông cho qua vì đây chính là sự yếu kém trầm trọng của những bộ có trách nhiệm liên đới đến đầu ra của nông sản VN. Các lãnh đạo vì thiếu óc tự chủ về kinh tế, nên lệ thuộc quá nhiều nơi thằng đàn anh khốn nạn nhất của VN về kinh tế, chính trị và quân sự.., thế nên việc ùn tắc nơi các cửa khẩu để thông hàng luôn bị động khi đàn anh bị sổ mũi nhức đầu. Chừng nào những chóp bu cộng sản thoát được TRUNG thì vấn đề mới được giải quyết tận gốc. Còn không chỉ chờ đến tận thế thì sẽ chấm dứt được sự ùn tắc tại các cửa khẩu thông quan nông sản Việt Trung.

Kinh tế yếu kém của VN hoàn toàn lệ thuộc vào sự thay đổi thời tiết từ phía TQ, nên mãi mãi không có lối ra cho nông sản VN. Người nông  dân vẩn còn lệ thuộc vào cái vòng kim cô của thằng láng giềng xấu tính và các tham quan ngu dốt của VN.

Bình luận thời sự từ Hậu Duệ VNCH Võ Thị Linh 20-12-2021

  NÉT VĂN HÓA TRẦU CAU ĐANG DẦN BỊ MAI MỘT

Với người Việt Nam, trầu cau là biểu hiện của phong cách vừa thể hiện tình cảm dân tộc độc đáo. Trước tiên, miếng trầu thắm têm vôi nồng, vỏ chay, cùng cau bổ tám bổ tư luôn là sự bắt đầu, khơi mở tình cảm, bởi thế có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Miếng trầu đã làm cho mối quan hệ giữa người với người trở nên gần gũi cởi mở với nhau hơn.

Gặp đây ăn một miếng trầu
Chẳng ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng.
Trầu này em chỉ có công
Từ vua đến chúa còn dùng nữa ta
Ngoài xanh trong trắng như ngà
Vua quan cũng trọng Phật bà cũng yêu
Ăn trầu có ít có nhiều
Rồi ra ta sẽ có chiều thở than.
Bõ công vượt bể băng ngàn
Bõ công bõ sức tay mang khẩu trầu

Thơ dân gian ( khuyết danh)
Với các nam nữ thanh niên xưa thì trầu cau còn là cội nguồn để bắt đầu tình yêu, bắt đầu câu hát, để vào với hội làng hội nước. Mượn câu hát mời trầu để bày tỏ lòng mình. Bên cạnh “vôi nồng”, “miếng trầu cánh phượng”, “cau bổ bốn bổ ba” là những “trầu giải yếm giải khăn”, “trầu nhân trầu ngãi” để rồi “trầu mình lấy ta”.trầu cau là thứ sính lễ không thể thiếu trong mỗi đám hỏi ở Việt Nam “trầu vàng nhá lẫn cau xanh, Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời”.
Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu
Biết rằng thuốc dấu bùa yêu
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa
Làm cho quên mẹ, quên cha
Làm cho quên cửa, quên nhà
Làm cho quên cả đường ra, lối vào
Làm cho quên cá dưới ao
Quên sông tắm mát, quên sao trên trời

Trầu cau tượng trưng cho tình yêu chung thủy, nồng thắm và hạnh phúc bền chặt của lứa đôi. Sản vật dân dã này vì thế cũng đã đi nhiều vào trong ca dao dân ca của dân tộc.

Vào vườn hái quả cau xanh Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu Trầu nầy têm những vôi tàu Ở giữa đệm quế, đôi đầu thơm cay Mời anh xơi miếng trầu này Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù mồng Dù chẳng nên đạo vợ chồng Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương. Ra về nhớ bạn bạn ơi Nhớ điếu hút thuốc, nhớ cơi ăn trầu. Anh về cuốc đất trồng cau Cho em trồng ké dây trầu một bên Mai sau trăm họ lớn lên Cau kia ra trái làm nên cửa nhà. Thoạt tiên giải chiếu ra ngồi Trầu cau ăn đoạn hỏi người thủy chung. Vào vườn hái quả cau non Anh thấy em giòn muốn kết nhân duyên. Gặp đây em xơi miếng trầu Gọi là tỏ giải mấy câu tư tình. Xin em đừng có cậy mình Một mai quá lứa xuân xanh hết thì.
Không những xuất hiện trong cưới hỏi, trong mỗi cuộc vui buồn của làng quê, xuân đến, tết về, trầu cau còn được sử dụng làm quà tặng. Thơ Nguyễn Khuyến có câu: “kiếm một cơi trầu sang biếu cụ, xin đôi câu đối để mừng ông”. Hơn thế trầu cau còn là đồ cúng giỗ, dân gian có câu “sửa cơi trầư đĩa hoa dâng cụ” để tưởng nhớ tổ tiên, ghi nhớ công ơn nuôi nấng sinh thành của các bậc tiền nhân. Như thế đủ để biết trầu cau gắn liền với đời sống người dân như thế nào.
Quả cau nho nhỏ,
Cái vỏ vân vân.
Nay anh học gần,
Mai anh học xa
Lấy chồng từ thuở mười ba,
Đến năm mười tám thiếp đà năm con.
Ra đường thiếp hãy còn son,
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
(Ca dao)

Cho đến ngày nay, trầu cau vẫn là thứ không thể thiếu trong việc giao hiếu, kết thân và cưới hỏi của người Việt. Bình vôi ăn trầu từng là một vật không thể thiếu trong việc giao tế cũng như lễ nghi gắn liền với tục ăn trầu.
Chúng ta đều biết, xưa kia trầu cau là hai loại cây được trồng khắp nơi trên quê hương đất nước để lấy lá, lấy trái dùng hằng ngày. Từ vua quan cho chí thứ dân, từ đàn ông cho chí đàn bà, ai ai cũng thích nhai trầu; nhiều người còn nghiện là đằng khác, nhất là các bà già bình dân, nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày, do đó mới có khẩu ngữ "bà già trầu".


Tục ăn trầu còn gắn với phong tục nhuộm răng đen để có những má hồng răng đen tiêu biểu của cái đẹp con gái thuở nào - người thôn nữ má hồng răng đen, một thời đã trở thành hình ảnh làm si mê biết bao chàng trai:
"Mình về mình nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen."
Cây cau chẳng những được dân gian quí hóa bảo nhau trồng ở sân trước nhà - chuối sau cau trước - mà ngay ở Hoàng thành, vào đời Minh Mạng (1820 - 1840), cây cau còn được chọn khắc trên đỉnh đồng, có tên Anh Ðỉnh, đỉnh thứ tư trong cửu đỉnh, được đặt trước sân Thế Miếu. Cửu đỉnh (9 đỉnh) được vua cho đúc vào năm Minh Mạng mười sáu (Ất Mùi, 1835), được đặt một hàng ngang ở trước Hiển Lâm Các, ứng với án thờ của các vua Nhà Nguyễn trong Thế Miếu. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một thụy hiệu của mỗi vị hoàng đế triều Nguyễn, lần lượt là Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh.
Với chúng ta, hình ảnh những hàng cau thẳng tắp, cao vút (nhiều khi cao hơn 10 mét), có lá mọc thành chùm ở ngọn cây, thân lá xẻ hình lông chim, lung linh trong nắng sớm, đong đưa trước gió chiều hay in hình trên nền trời xanh thẳm vào những đêm trăng sáng; cùng hình ảnh những giàn trầu không xanh rờn với những chiếc lá to bằng bàn tay, có hình trái tim duyên dáng nơi góc vườn của nội, của ngoại... đều là những hình ảnh thân quen đã in sâu vào ký ức của nhiều người. Ngày nay chúng đã trở thành những hình ảnh biểu tượng cho quê hương trong nỗi nhớ, niềm thương của bầy con xa xứ.
Hoa cau thì mọc thành một chùm lớn, phân nhánh, có mo bọc ngoài. Khi hoa kết trái thì buồng cau nở lớn, mo cau khô, rụng xuống. Câu ca dao sau đây đã mô tả hình ảnh và giới thiệu thời gian cau đơm hoa kết trái một cách thật lý thú:
Ðầu rồng đuôi phượng te te
Mùa đông ấp trứng, mùa hè nở con.
Riêng loại cau liên phòng, còn gọi là cau tứ quí thì ra trái cả bốn mùa. Khi được mùa, mỗi buồng cau có đến trên trăm trái, hình bầu bầu và lớn bằng quả trứng gà.
Trầu cau không chỉ được trồng để nhà dùng mà nhiều khi còn là nguồn sống của gia đình và lập nên cửa nên nhà:
- Anh về cuốc đất trồng cau,
Cho em vun ké dây trầu một bên.
Chừng nào trầu nọ bén lên,
Cau kia sai trái lập nên cửa nhà.
Chả thế, gia đình nào có cả vườn trồng cau sinh lợi đều được kể là một trong những nhà giầu có nơi thôn dã:
- Nhà ngói, cây mít
- Ruộng sâu, trâu nái
hay
- Vườn cau, ao cá.
Ở nước ta, từ Bắc chí Nam đều có nhiều vùng nổi tiếng trồng trầu cau và sản xuất được nhiều trầu cau ngon, gửi bán đi các nơi hoặc để xuất cảng.http://www.youtube.com/watch?v=1yO39pd5O_Y
Trước đây (1930) diện tích trồng cau ở ngoài Bắc ước chừng 2.500 hectare, chủ yếu là các vùng Hải Dương, Kiến An, Quảng Ninh, Nam Ðịnh và Thái Bình. Ca dao cũng có câu:
- Ðồn rằng kẻ Trọng lắm cau,
Kẻ Cát lắm luá, kẻ Mau lắm tiền.
Ở miền Trung, diện tích trồng cau khoảng 1.400 hectare. Ịặc biệt trầu Chợ Dinh với cau Nam Phổ đã được ca dao vùng Huế Ợ Thừa Thiên ca tụng hết lời:
- Trầu Chợ Dinh với cau Nam Phổ
Non vôi cũng đỏ, thiếu vỏ cũng ngon.
Hạt thơm mà xác lại giòn,
Được tiếng khen là phải, dậy tiếng đồn không sai.
Chợ Dinh và Nam Phổ là hai đại xã nằm đối diện nhau ở hai bên bờ sông Hương, thuộc ngoại biên thành phố Huế.
Trong Nam, cau được trồng nhiều ở Mỹ Tho, Bến Tre, Cần Thơ, nhưng có tiếng hơn cả là trầu cau Bà Ðiểm - Hóc Môn. Bà Ðiểm - Hóc Môn, một miệt vườn ngoại thành Sài Gòn , có biệt danh là Mười Tám Thôn Vườn Trầu, chả vì cả mười tám thôn làng nơi đây dân chúng đều trồng trầu làm nghề chính. Trầu trồng từ vườn nhà này tiếp nối vườn nhà kia, tạo thành một vùng trầu xanh tươi bát ngát. Hiện nay, một phần do chiến tranh tàn phá, một phần do giới trẻ bỏ hẳn tục ăn trầu nên diện tích trồng trọt tất đã giảm nhiều.
TRẦU CAU TRONG TỤC CƯỚI HỎI
Trong lễ cưới, hỏi và mâm cỗ cúng tơ hồng - vị thần của hôn nhân, bao giờ cũng phải có buồng cau và tệp lá trầu. Người ta xem buồng cau có đẹp không, cuống lá trầu có tươi không mà ước đoán được rằng đôi lứa ấy có đẹp duyên không. Theo tục lệ, nhà ai có con gái gả chồng, sau khi ăn hỏi xong cũng đem trầu cau biếu hàng xóm và bà con nội ngoại. Vì miếng trầu là tục lệ, là tình cảm nên ăn được hay không cũng không ai từ chối.

Trầu têm cánh phượng cau vừa chạm xong
Miếng trầu có bốn chữ tòng
Xin chàng cầm lấy vào trong thăm nhà.
Nào là chào mẹ chào cha
Cậu, cô, chú, bác mời ra xơi trầu.
Miếng trầu nồng thắm luôn có mặt trong hôn lễ là sự khơi gợi, nhắc nhở mọi người hướng về một tình yêu son sắt, một cuộc sống vợ chồng gắn bó, thủy chung và luôn lấy nghĩa tình làm trọng:
Trầu này trầu quế, trầu hồi
Trầu loan, trầu phượng, trầu tôi, trầu mình
Trầu này trầu tính, trầu tình
Trầu nhân, trầu ngãi, trầu mình với ta
Trầu này têm tối hôm qua
Trầu cha, trầu mẹ đem ra cho chàng
Thông thường quả lễ gồm buồng cau và trầu đầy ắp, có thể từ vài chục đến vài trăm quả, nhưng phải là số chẵn, vì quan niệm có đôi có cặp. Cách tính số lượng cau trầu: 1 quả cau = 2 lá trầu. Quả lễ có thể là 100 cau, 80 cau. Ngoài ra, hiện nay mọi người đang chuộng buồng cau 105 quả theo cách nói “trăm năm hạnh phúc” hoặc chọn buồng cau 60 quả theo cách ví von “60 năm cuộc đời”.

SỰ TÍCH TRẦU CAU
Sự tích trầu cau là một tác phẩm trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, có từ khoảng năm 2000 trước công nguyên thời vua Hùng và được ghi lại trong sử thi “Lĩnh Nam Trích Quái” . Câu chuyện này nhân cách hóa nguồn gốc của cây cau, cây trầu không và tảng đá vôi là những thứ được sử dụng để ăn trầu cũng như giải thích tục lệ sử dụng trầu cau trong các đám cưới.
Ngôi đền thờ ba người hiện nay là đền Tam Khương ở làng Nam Hoa, huyện Nam Đàn (Nghệ An) mà các triều đại phong kiến vẫn có sắc phong tặng.
Sự tích thuộc dạng văn học truyền miệng và có nhiều dị bản. Nội dung cơ bản có thể tóm tắt như sau: Câu chuyện kể là vào đời vua Hùng Vương thứ tư có hai anh em Tân và Lang rất thương yêu nhau. Tân sau khi có vợ thì không còn chăm sóc đến em như trước nữa. Lang lấy làm buồn rầu và bỏ nhà ra đi. Tới bên bờ suối thì Lang mệt quá, gục xuống chết và hóa thành tảng đá vôi. Tân, không thấy em về, vì thương em nên quyết đi tìm. Đi đến bờ suối thì Tân mệt lả và chết, biến thành cây cau bên tảng đá vôi. Vợ Tân không thấy chồng cũng bỏ đi tìm. Nàng tìm đến bờ suối, ngồi dựa vào thân cau mà chết, biến thành dây trầu không. Trầu, cau và vôi khi quyện lại với nhau tạo ra sắc đỏ như máu nên sau có vua Hùng Vương đi tuần qua đó, nghe thấy câu chuyện trên mà dạy cho dân Việt hãy dùng ba thứ vôi, cau và trầu làm biểu tượng tình nghĩa thắm thiết anh em, vợ chồng.
Trầu cau không chỉ đóng vai trò lễ vật trong các nghi lễ truyền thống mà còn trở thành hình ảnh đặc trưng cho văn hóa Việt, xuất hiện thường xuyên trong văn học dân gian, ca dao, dân ca, lễ hội... Tại đất Bắc, ở Hải Phòng có thôn cau Cao Nhân (xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên), mỗi khi vào mùa, cau xếp thành từng buồng lớp trên, lớp dưới, rộn ràng theo từng đoàn xe nối đuôi nhau tỏa đi khắp nơi. Về xứ Đoài, làng Phú Lễ (xã Lâm Kiệm, huyện Thạch Thất, Hà Nội), từ trong nhà ra ngoài ngõ, từ đi làm đồng đến ngồi quán sân đình cũng đều có đĩa trầu, bình vôi. Trong hội Lim, Bắc Ninh vào mỗi dịp xuân sang, người con gái Kinh Bắc đầu chít khăn mỏ quạ, áo tứ thân trong dải yếm đào, mở khăn đựng trầu, đặt lên lòng bàn tay chàng trai một miếng trầu têm cánh phượng thật đằm thắm...
Vào miền Nam, 18 thôn vườn trầu, tại Bà Điểm-Hóc Môn đã hình thành từ đầu thế kỷ XVII, gắn liền với thời khẩn hoang lập ấp cách đây trên 300 năm, trở thành nơi chuyên canh, cung cấp trầu cau cho khắp Nam Kỳ lục tỉnh.

CÂY CAU

Cau tên khoa học: Areca catechu, còn gọi là tân lang hay binh lang, họ Cau (Arecaceae), Bộ Cau Arecales. Nó là loại cây thân gỗ trung bình, cao tới 20 m, với đường kính thân cây có thể tới 20-30 cm. Các lá dài 1,5-2 m, hình lông chim với nhiều lá chét mọc dày dặc.
Areca catechu được trồng vì giá trị kinh tế đáng kể của nó có từ việc thu hoạch quả. Quả cau chứa các ancaloit như arecain và arecolin, khi được nhai thì gây say và có thể hơi gây nghiện.


HOA CAU

Nhỏ nhoi, vàng mịn: Hoa Cau
Toả hương bao phủ giàn trầu tươi xanh.
Trầu - Cau nặng nghĩa, nặng tình
Vôi nồng quyện thắm tình anh với nàng.

CỐI TRẦU

Chiếc cối thon nhỏ bằng chiếc chén rót trà nhưng sâu hơn. Nó dài khoảng hơn chục cen ti mét, miệng hơi loe, dưới chân cối có đục một lỗ nhỏ gắn sợi xích cũng bằng dây đồng móc nhỏ, đầu kia hàn cố định với chiếc xiên sắt có đầu sắc, bẹt dùng để nghiền trầu, xé cau cho nhỏ, trước khi bỏ vào miệng ăn. Ngày nào bà cũng ăn vài ba miếng trầu nên chiếc cối giã được sử dụng thường xuyên, và vì thế cả lòng cối cũng như chiếc xiên dùi trầu đều sáng loáng bóng bẩy. Chiếc cối ấy được bà bỏ vào chiếc hộp nhỏ đan bằng mây có nắp đậy, bên trong có kèm thêm nhiều thứ dụng cụ, nguyên vật liệu dùng ăn trầu như: ống vôi nhỏ, ống nhổ, hộp thuốc lào thái sợi, trầu không, cau, vỏ… 



Những phong tục tập quán, những câu ca dao dân ca rất duyên dáng và nhân văn về trầu cau vẫn còn đó, nhắc nhở ta về những nét văn hóa bình dân chân quê, về tình yêu đôi lứa trong sáng, thắm thiết, mặn nồng.  Tuy nhiên, nếu kho tàng văn hóa trầu cau không được bảo tồn thì sẽ dần bị mai một, vì người dùng trầu cau và nếp sống văn minh của người Việt sẽ lấp cạn truyền thống nhân văn này của Việt tộc chúng ta.


Nếu, đọc lại những bài ca dao về trầu cau, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn những vẻ đẹp của truyền thống rất nhân văn của tổ tiên, những vẻ đẹp trong đời sống tình cảm của ông cha ta đáng được trân trọng và lưu truyền cho các thế hệ mai hậu..về một phần của kho tàng văn hóa truyền khẩu dân gian của Việt tộc.

BÀI LIÊN KẾT
2.Truyện Trầu Cau
3.Vườn trầu Cần Thơ, do truyền hình CHXHCNVN sản xuất:
4.Trầu cau trong lễ nghĩa của người dân đất Việt
6.Phong tục lễ cưới người Nam Bộ thời xưa.
7.Trầu cau – lễ vật không thể thiếu trong cưới hỏi người Việt https://thienduong.vn/tu-van/dam-cuoi/trau-cau,-le-vat-khong-the-thieu-trong-cuoi-hoi-nguoi-viet--ct-121-22.html
9. Cửu Đỉnh nhà Nguyễn

Biên khảo, Hậu duệ VNCH Võ Thị Linh 19-12-2021

 TIẾNG VIỆT ĐAU ĐẦU

 Em yêu dấu _ nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì

Chúng ta vẫn thường nói, Em yêu dấu _ nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì
Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai.
Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị.
Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì?
‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’.
Dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’
Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn được viết hay nói một mình, còn từ ‘dấu’ thì không ai dùng một mình nữa. Giờ đây, thay vì ‘anh yêu em’ mà nói ‘anh dấu em’ thì không khéo lại bị hỏi ‘anh giấu cái gì?’.

Trong từ ‘chợ búa’ thì ‘búa’ có nghĩa là gì?
‘Búa’ là âm xưa của chữ [铺], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán.
‘Búa’ trong ‘chợ búa’ chắc chắn không liên quan đến cái búa để đốn cây rồi. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến được xem là vững chắc nhất thì cho rằng ‘búa’ là âm xưa của chữ [铺], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. Chợ búa nói chung là nơi người ta tụ tập mua bán.
‘Búa’ trong tiếng Việt hiện đại đã dần mất nghĩa và không dùng độc lập, nhưng nếu nói nó vô nghĩa thì không đúng. Tiếng Việt có rất nhiều từ cổ bị mất nghĩa khi đứng một mình, nhưng chúng không vô nghĩa.

Người ta nói ‘gậy gộc’, ‘gậy’ thì hiểu rồi, còn ‘gộc’?
‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn lớn cũng là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.
‘Gộc’ là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, ‘gộc’ là chữ này [㭲]. Sách ‘Đại Nam quốc âm tự vị’ của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn(?) mà lớn’ và cho ví dụ ‘ông gộc’ là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng ‘gộc’ là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.
Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.
Mình hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không?
Tương tự như ‘gậy gộc’, ‘hỏi han’ không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả ‘hỏi’ và ‘han’ đều có nghĩa.
‘Han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’.
Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. Theo đó, ‘hỏi han’ nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó.
Truyện Kiều của Nguyễn Du từng dùng ‘han’ như một từ độc lập, không dính đến từ ‘hỏi’, trong câu: ‘Trước xe lơi lả han chào / Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi’ (Phần Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). ‘Han chào’ chính là chào hỏi.

Khi mình nói về một chuyện gì đó ‘to tát’ thì ‘tát’ có nghĩa là gì?
‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.’Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’.
‘To tát’ không phải là từ láy mà là từ ghép, cả ‘to’ và ‘tát’ đều có nghĩa. Tuy nhiên, ‘tát’ ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. ‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.
‘Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. Khi nói ‘tuổi tác’ thì đã mang nghĩa lớn tuổi, già rồi.. Tuy nhiên, ngày nay mình hay nói ‘tuổi tác đã lớn’, cách nói này xét về nguồn gốc thì không đúng, bị lặp từ.
Do trong quá trình sử dụng đã có nhiều biến chuyển, nên ‘tuổi tác’ thường dùng để chỉ tuổi. Thậm chí tuổi còn nhỏ cũng dùng ‘tuổi tác’, ví dụ: ‘Tuổi tác còn nhỏ’, ‘tuổi tác mới có bây lớn’,…
Riêng từ ‘to tác’ để chỉ cái gì đó lớn thì đã dùng thành ‘to tát’. Tuy nhiên, để viết đúng chính tả tiếng Việt hiện đại thì mình vẫn cứ dùng ‘to tát’.

Có câu, ‘cần cù bù thông minh’, ‘cần cù’ là từ láy hay từ ghép? ‘Cù’ có nghĩa gì không?
‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả.
‘Cần cù’ là từ ghép, cả ‘cần’ và ‘cù’ đều có nghĩa. Đây là từ gốc Hán, viết là 勤劬. ‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả.
Chữ ‘cù’ này còn xuất hiện trong từ ‘cù lao’ (劬劳) chỉ công ơn cha mẹ (thường nói chín chữ cù lao).
Truyện Kiều có câu:

‘Duyên hội ngộ, đức cù lao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn’.

Không nên nhầm lẫn từ ‘cù lao’ này với từ ‘cù lao’ chỉ cồn đất/cát nổi lên giữa sông do phù sa bồi lắng.

Bếp núc
‘Núc’ là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’ và có thể hiểu núc chính là ông Táo.
– Bếp là nơi nấu ăn;
– Núc là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’, cho nên có thể hiểu núc chính là ông Táo. (theo Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị)

‘Thêu thùa’ là từ ghép tổ hợp (hay ghép đẳng lập), trong đó cả thêu và thùa đều có nghĩa
Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm.
– Thêu là dùng chỉ màu đính lên bề mặt vải làm ra hoa văn;
– Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm.
Về cơ bản thì thêu và thùa giống nhau, đều là hành động thêm hoa văn trang trí trên vải vóc cho đẹp. Nhưng thùa đôi khi còn có nghĩa là hành động mạng lại chỗ vải bị rách cho đẹp.

‘Vải vóc’ là một từ ghép với chữ ‘vóc’ cũng có nghĩa
Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may.
– Vải là chỉ bông hoặc đồ dệt bằng chỉ bông;
– Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may.
Ngày nay thì vải không nhất thiết là dệt bằng chỉ bông mà có thể dệt bằng nhiều chất liệu khác. Còn vóc thì ít khi thấy dùng một mình nữa, người ta thường lầm tưởng ‘vải vóc’ là từ láy.

Gậy gộc

Người ta nói “gậy gộc”, “gậy” thì hiểu rồi, còn “gộc”?
“Gộc” là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, “gộc” là chữ này Sách Ðại Nam Quấc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: “gộc” là “cây củi có khúc đẩn mà lớn” (đẩn, đẵn, đốn có thể là do phát âm vùng miền có ý nghĩa là chặt), và cho ví dụ “ông gộc” là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng “gộc” là “đoạn gốc của cây tre, cây… vầu” hay có nghĩa là “to lớn”. Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.

Hỏi han
Mình hay “hỏi han” nhau, “hỏi” thì rõ nghĩa rồi, vậy “han” có nghĩa không?
Tương tự như “gậy gộc”, “hỏi han” không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả “hỏi” và “han” đều có nghĩa. Ðại Nam Quấc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: “han” nghĩa là “hỏi tới”, “nói tới”. Theo đó, “hỏi han” nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó. Nguyễn Du từng dùng “han” như một từ độc lập, không dính đến từ “hỏi”, trong câu: “Trước xe lơi lả han chào/ Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi…” (khi Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). “Han chào” chính là chào hỏi.

Xinh xắn
Mình vẫn nghĩ “xinh xắn” là từ láy và cho rằng chữ “xắn” vô nghĩa. Nhưng không, đây là từ ghép đẳng lập, trong đó: xinh là đẹp, cũng có nghĩa là lịch sự. Ðại Nam Quấc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích “xinh trai” là chàng trai lịch sự. Xắn là sáng, chói, cũng có nghĩa là đẹp. Chữ “xắn” này, vốn là từ sinh đôi (*) của chữ “xán” trong “xán lạn” có nghĩa là rực rỡ, sáng chói (thường… bị viết sai thành “sáng lạng”). Túm gọn lại thì “xinh xắn” là từ ghép và cả hai chữ đều có nghĩa. (Riết rồi tôi không còn tin vào từ láy nữa, tưởng láy hoá ra không phải láy.)
(*) từ sinh đôi hay song lập thể (doublet) là một thuật ngữ của ngôn ngữ học, tạm hiểu là những cặp từ có chung nguồn gốc nhưng phát âm khác nhau.

Sáng láng
Là từ gốc Hán, viết là trong đó: Sáng âm Hán Việt đọc là “sảng”. Tên nữ diễn viên Trịnh Sảng chính là chữ này. Láng âm Hán Việt đọc là “lãng”.… Cả “sáng” và “láng” (tức “sảng” và “lãng”) đều có nghĩa là sáng, rõ, trong. Một lần nữa, “sáng láng” là từ ghép đẳng lập trong khi vẫn bị nhầm tưởng là từ láy và chữ “láng” thường không dùng một mình do nhiều người không rõ nghĩa.
Mông muội
Từ gốc Hán, viết là trong đó:
– Mông là tối, bị che lấp. Chỗ mặt trời lặn gọi là đại mông;
– Muội là mờ mờ, tối tăm.…
“Mông muội” không phải là từ láy mà là từ ghép, ban đầu dùng để chỉ giai đoạn đầu xã hội nguyên thuỷ, khi đời sống con người còn nhiều u mê, như «thời kỳ mông muội». Về sau, «mông muội» còn dùng để chỉ sự ngu ngơ, khờ dại, như “đầu óc mông muội”, «con người mông muội».

Đo đạc
Từ Hán Nôm, trong đó:
– Ðo là tiếng Nôm, viết là đọc là /đo/, nghĩa là dùng thước để so xem dài ngắn rộng hẹp;
– Ðạc là từ gốc Hán, viết là (một âm khác là “độ”), đọc là /dù/, nghĩa là ước chừng, mưu tính.…
“Ðo đạc” là từ ghép, đều mang nghĩa là đo, ước chừng, tính toán khoảng cách. Hiện tượng ghép từ đồng nghĩa giữa Hán và Nôm thật ra rất phổ biến trong tiếng Việt.

Thu thập
Từ gốc Hán, viết là đọc là /shoushi/, trong đó: Thu là bắt, như “thu giám” là “bắt giam”; thập là nhặt nhạnh.… “Thu thập” là từ ghép mang nghĩa là góp nhặt, tập hợp, gom góp lại.

To Tát
Khi mình nói về một chuyện gì đó “to tát” thì “tát” có nghĩa là gì? “To tát” không phải là từ láy mà là từ ghép, cả “to” và “tát” đều có nghĩa. Tuy nhiên, “tát” ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. “Tát” đúng ra phải dùng là “tác”. “Tác” nghĩa là lớn, mình thường gặp qua từ “tuổi tác”. Khi nói “tuổi tác” thì đã mang nghĩa lớn…

Săn sóc
Từ Việt gốc Hán, trong đó:
– Săn là truy đuổi (trong săn thú, săn đuổi). Tiếng Hán viết là đọc là /chèn/, âm Hán Việt đọc là “sấn”;
– Sóc là chăn nuôi, nuôi dưỡng. Tiếng Hán viết là đọc là /chù/, âm Hán Việt đọc là “súc” (trong gia súc).…
“Săn sóc” là từ ghép với nguồn gốc là một “thuật ngữ” của nghề chăn nuôi, chỉ việc săn bắt và nuôi dưỡng thú. Sau này, có lẽ người ta không săn bắt thú nữa (chuyển sang mua bán hết rồi) nên cái nghĩa săn bắt bị mờ dần đi, chỉ còn cái nghĩa chăn nuôi, nuôi dưỡng. Thành ra, “săn sóc” trở thành động từ mang nghĩa chăm nom, chăm sóc.

Trằn trọc
Trong một đêm trằn trọc, mình làm từ “trằn trọc”. Vâng, “trằn trọc” là từ ghép, trong đó:
– Trằn là trì xuống, dằn xuống, đau bụng “trằn trằn” là bụng đau mà cứ trì xuống…
– Trọc, vốn là biến âm của “trục” nghĩa là do dự, nao núng. Chữ «trục» này còn có một âm khác là “trạc”. Hiện tượng biến âm còn có thể thấy qua “cực nhục” thành “cực nhọc”, “túc” thành “thóc”. Như vậy, “trằn trọc” là từ ghép có nghĩa là lẩn quẩn không yên, không dứt ra được. Từ này thường dùng nhất là lúc ngủ mà không ngủ được, cứ day dứt chẳng yên trong bụng.

Đầm Đìa
Ðầm là vùng nước trũng, thường có cây cỏ mọc um tùm, nơi chim và cá tụ lại đẻ trứng… Ðìa là ao vũng, chỗ nước moi sâu mà nhử hoặc nuôi cá. Thông thường, “đầm” là vũng nước trũng tự nhiên còn “đìa” là vũng nước trũng nhân tạo. Nói chung, “đầm đìa” là danh từ chỉ hai loại hình thuỷ vực. Nhưng mà dân ta mượn “đầm đìa” để dùng trong các trường hợp ướt sũng, sũng nước, kiểu “nước mắt đầm đìa”, “mồ hôi đầm đìa”.

Lố lăng
“Lố lăng” là một từ ghép (không phải láy) nửa Nôm nửa Hán. Trong đó:
– Lố là từ Nôm nghĩa là quá mức, thái quá;
– Lăng là từ gốc Hán nghĩa là lấn lướt, xâm phạm, là chữ “lăng” trong “xâm lăng”.
“Lố lăng” là từ dùng để chỉ những gì vượt quá lẽ thường, vượt quá chuẩn mực chung của xã hội, như “hành vi lố lăng”, “ăn nói lố lăng”, “ăn mặc lố lăng”.

Sầm uất
Từ gốc Hán, chữ Hán viết là phiên âm là /cényù/, trong đó:
– Sầm là núi nhỏ mà cao;
– Uất (còn có âm là “úy”) là tên một loại cỏ, gọi cỏ úy, cũng có nghĩa là cây cỏ xanh tốt, rậm rạp, từ đó nảy sinh thêm nghĩa là hưng thịnh.
Từ điển Nguyễn Quốc Hùng giảng “sầm uất” là “cao và rậm rạp, nói về những cánh rừng rậm trên núi” và cũng dùng để “chỉ sự đông đảo, thịnh vượng”. Ngày nay chúng ta đều dùng theo nghĩa chuyển này.

Giỗ quải
Bữa viết về từ “cô hồn”, mình có nhắc từ “giỗ quải”, thì nay mình nói về từ này luôn.
“Giỗ quải” là từ Nôm, trong đó:
– Giỗ là kỵ cơm, cúng cơm cho vong hồn, làm lễ giáp năm, lễ cúng cơm cho người chết mà có nhắc công lao khi còn sống;…
– Quải là cúng cơm cho tổ tiên, dọn bữa ăn mà có nhắc mời ông bà cha mẹ đã khuất.
Nói chung thì “giỗ” có thể nói chung cho việc cúng cơm người đã khuất thân hay không thân, còn «quải» thì khu biệt chỉ việc cúng cơm cho người trong họ tộc gia đình đã mất.
Tìm hiểu nghĩa của những từ như này thú vị lắm các vị. Cũng có một số từ mình không lý giải nổi, thí dụ từ “Tết nhứt (nhất)”. Cho tới bây giờ, mình cũng chưa tìm được duyên cớ nào cho ra từ này mà mình thấy thuyết phục. Chờ cao nhân giải thích.

Hống hách
Từ gốc Hán, viết là đọc là /hou xià/ trong đó:
– Hống là gào, thét, gầm, rống;
– Hách là doạ nạt.…
“Hống hách” là từ ghép, ban đầu có nghĩa là lớn tiếng nạt nộ, gào thét để thị uy. Sau này dần biến nghĩa trở thành từ dùng chỉ thái độ ra oai để tỏ rõ uy quyền. Kiểu cán bộ mà tỏ thái độ khinh khỉnh, coi thường dân thì bị cho là có thái độ “hống hách” dù cán bộ không có gào thét gì.
Nói “thái độ hống hách” thật ra không đúng lắm, vì “hống hách” là động từ, không phải tính từ, không thể dùng miêu tả thái độ.
Vậy chứ đố mọi người, “hống hách” và “hách dịch” có giống nhau không?

Hách dịch
từ gốc Hán, viết là đọc là /hèyì/, trong đó:
– hách là to lớn, lẫy lừng;
– dịch là to lớn, long trọng.
“Hách dịch” vốn có nghĩa là vẻ to lớn, chói loá, thậm chí là dữ dằn khiến người khác khiếp sợ. Sau này dùng theo nghĩa làm ra vẻ oai nghiêm, lên mặt với người khác.

Bồ bịch
Tại sao hai người yêu nhau thì gọi là bồ bịch?
– Bồ bịch là một từ ghép, chỉ hai nông cụ. Bồ là dụng cụ đựng lúa, có đáy; bịch cũng là dụng cụ đựng lúa nhưng là tấm ví khoanh tròn, không đáy mà lấy nền nhà làm đáy. Ca dao có câu: “Bởi anh chăm việc canh nông, cho nên mới có bồ trong bịch ngoài.”
– Tiếng Việt trước đây có từ “bầu” (trong bầu bạn), biến âm của từ “bầu” là từ “bồ”, tương tự như đậu xanh – đỗ xanh, thi đậu – thi đỗ… Cho nên thay vì nói “bầu bạn”, cũng có thể nói thành “bồ bạn”. Vì từ bồ (bạn) đồng âm với từ bồ (cái bồ) nên người ta mượn từ “bồ bịch” để chỉ những người thân thiết, yêu nhau. Ðây là hiện tượng mượn âm trong tiếng Việt. Rồi từ đó có thêm các từ chỉ việc có người yêu như “cặp bồ”, “có bồ”. (Ðương nhiên, “bồ” và “bầu” là hai âm tương đương nghĩa, nhưng từ “có bồ” đến “có bầu” lại là câu chuyện khác!).

SƯU TẦM