Powered By Blogger
CHIẾN DỊCH ĐỐT SÁCH CỦA ĐOÀN QUÂN 
PẮC PÓ (CSVN) SAU 30.4.1975
Việt Nam vốn tự hào là quốc gia có hơn 4000 năm văn hiến, nhưng sách vở của người xưa để lại thì rất ít. Nguyên nhân chính là vì quân nhà Minh bên Tàu đã ra lệnh hủy hết sách vở ngay trong những ngày đầu đô hộ nước ta để dễ bề cai trị. Đến khi cộng sản chiếm miền ngày 30.4.1975, người cộng sản đã cho đốt hết toàn bộ sách của miền nam - một việc làm tưởng như chỉ có trong thời Tần Thủy Hoàng trước công nguyên, không ngờ hơn 2000 năm sau sau lại xuất hiện ở VN trong thế kỷ 20 - thời đại Hồ chí Minh.

Cho dù với bất cứ lý do nào đi chăng nửa, việc đốt sách được coi là những  hành động mọi rợ kém văn minh của nhửng bộ óc ích kỷ, mặc cảm, tự ti vì tri thức yếu kém - một hành động đáng phỉ nhổ của những con thú đến từ Pắc Bó, bắt đầu cho chiến lược, bóp nghẹt tiếng nói đối lập, đàn áp tự do ngôn luận do những kẻ cai trị độc tài chủ xướng. Để đảng tự do bóp méo, tuyên truyền xuyên tạc chính quyền tự do dân chủ và nhân bản VNCH. Người dân miền nam VN thật bất hạnh khi đàn bò về thành phố chúng đã cho đốt hết những gì thuộc về phạm trù văn học do VNCH sáng tác - Những công trình sáng tác đồ sộ của các nhà văn, thi sĩ, kịch sĩ, các bậc thức giả miền nam, các sách báo về khoa học kỹ thuật. Đó là những sáng tác trong môi trường hoàn toàn tự do với những ngòi bút không bị bẻ cong vì bàn tay can thiệp thô bạo của đảng csVN. 
Việc đốt sách xảy ra trên thế giới từ xưa tới nay chỉ thấy xuất hiện nơi các chính quyền độc tài. Tần thủy Hoàng (tháng 1 hoặc tháng 12, 259 TCN – 10 tháng 9, 210 TCN) , một nhà Vua độc tài tàn ác khét tiếng của Trung Hoa đã thực hiện việc đốt sách đầu tiên trong lịch sử thế giới với chiến dịch được gọi là "Đốt sách chôn nho". (chữ Hán: 焚書坑儒;  Hán-Việt: Phần thư khanh nho). Lần đốt sách này có thể coi như lần đốt sách đầu tiên trong lịch sử thế giới mà Tần Thủy Hoàng đã thực hiện, để bảo vệ chế độ. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa lần đầu tiên, thừa tướng của ông là Lý Tư đã đề nghị Thủy Hoàng đế dập tắt tự do ngôn luận để thống nhất các chính kiến và tư tưởng bằng cách đốt hết tất cả các sách và các nhà nho giáo hoặc thông thái có tư tưởng khác với mình. Lý Tư chỉ trích giới trí thức đang dùng dối trá để tạo ra phản loạn. Nhà độc tài Tần Thủy Hoàng tin vào triết học của Pháp gia và muốn tiêu diệt những triết học khác như Bách Gia Chư Tử hay Nho giáo. Từ năm 213 TCN, tất cả những kinh điển từ thời Chư Tử Bách Gia (trừ sách Pháp gia, trường phái của Lý Tư) đều bị đốt sạch.
Lý Tư đã đề nghị đốt sạch tất cả những thi, thư, sách vở, trừ những quyển được viết vào thời nhà Tần. Sách của chính phủ trong lĩnh vực triết lý và thi ca, trừ những sách của Bác sĩ (nhà cố vấn vua) đều bị đốt cháy. Tất cả những người dùng sử sách để chỉ trích chính quyền đều bị hành hình, cũng như những quan lại thờ ơ với việc này. Những sách dạy về y dược, bói toán, và nông nghiệp không bị đốt cháy. Tất cả mọi người muốn học luật phải học từ các luật sư chính quyền. Những ai dựa vào chế độ xưa để phê phán chế độ hiện thời sẽ bị xử tội chém ngang lưng.
Lần đầu tiên đã xãy ra việc đốt sách ở VN vào thời Minh Thành Tổ-Trung Hoa, Vào thời này, VN từng bị kẻ thù xâm lược cướp sách, đốt sách. Năm 1407, chỉ sau 1 năm thực hiện việc xâm lược nước ta, quân Minh đã đánh bại triều đình nhà Hồ và bắt sống cả vua tôi giải về Trung Hoa. Tướng giặc là Trương Phụ được lệnh của Minh Thành Tổ Chu Đệ cho in các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh và Tính lý đại toàn đem sang nước ta để phát cho những người Nho học và tịch thu sách vở của nước ta từ đời Trần trở về trước đưa về Kim Lăng.

Năm 1418, nhà Minh còn sai người sang tiếp tục tìm tòi và thu lượm tất cả những sách chép về lịch sử và sự tích xưa nay do người Việt viết. Năm 1419, nhà Minh lại cho người đem sách Khổng giáo, Đạo và Phật giáo của Trung Hoa sang thay thế cho những sách trước kia chúng lấy đi. Nhiều sách bị quân Minh đốt phá, đồng thời trừng phạt người Việt nào còn lưu giữ sách của chính dân tộc mình. Cướp, đốt, phá hủy sách vở được tiến hành song song với việc đưa sách của Trung Hoa thay thế rõ ràng là một chính sách phá hoại nền văn hóa của dân tộc ta, là âm mưu đồng hóa, nô dịch hết sức thâm độc.

Trong Đại Việt thông sử (viết năm 1749), Lê Quý Đôn còn liệt kê thêm một số sách báo tài liêu quan trọng của nước ta như: "Hoàng tông ngọc diệp" (thời Lý Thái Tổ), Nam Bắc phân giới địa đồ (thời Lý Anh Tông), Quốc triều thông chế (thời Trần Thái Tông), Công văn cách thức (thời Trần Anh Tông)… Ngoài ra, có nhiều tài liệu rời thuộc nhiều lĩnh vực… có giá trị khác cũng đã bị tiêu hủy hay bị quân Minh lấy mất. Sự mất mát đó không có gì bù đắp được! Tội ác quả thực “trúc Nam Sơn không ghi hết tội” (Cáo bình Ngô)! Dân tộc ta không bao giờ quên lịch sử đau thương đó!

Chiến dịch đốt sách do đảng csVN chủ trương sau ngày 30.4.1975 là bắt chước cái tàn ác cái độc tài bóp nghẹt tự do ngôn luận giống như các thời chuyên chế bên Tàu và nhất là triều đại do Mao chủ xướng trong cuộc cách mạng văn hóa từ năm 1966 đến năm 1976. Đến khi cuộc Cách mạng Văn hóa chấm dứt, nó đã để lại rất nhiều hậu quả: khoảng 200 triệu người sống tại các vùng nông thôn bị suy dinh dưỡng kinh niên do nền kinh tế kiệt quệ; có tới 20 triệu người bị điều chuyển về các vùng nông thôn; và khoảng 2 triệu người đã bị hành quyết hoặc bức tử, những thư viện lưu trữ các cuốn sách ngoại văn đã bị phá hủy, và Đại sứ quán Anh thì bị thiêu cháy.
Riêng tại VN, cs Bắc Việt đã thực hiện nhiều lần việc đốt hết những gì thuộc VNCH sáng tác, bắt hết các văn nghệ sĩ miền nam đi học tập cải tạo.




CHIẾN DỊCH BÀI TRỪ VĂN HÓA ĐỒI TRỤY CỦA CỘNG SẢN

Tại miền Nam , ngay sau ngày 30/4/1975, việc đốt sách được thể hiện qua chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động - Một chiến dịch "đốt sách chôn ngụy" tương tự như " đốt sách chôn Nho" thời Tần Thủy Hoàng.. Chiếm Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975, chỉ hơn 3 tháng sau, Bộ Thông tin Văn hoá đã ra chỉ thị cấm lưu hành các tác phẩm bị xem là phản động hay đồi truỵ. Một số chỉ thị có nội dung tương tự lại được lặp lại với những tên sách cụ thể hơn trong các năm sau đó. Trong số những tác giả bị cấm toàn bộ, có những người ít nhiều viết về chính trị hoặc chiến tranh như Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Chu Tử, Hồ Hữu Tường, Nguyên Sa, Nhã Ca,  Phan Nhật Nam, Thế Uyên, v.v… Đã đành. Ngay cả những người hầu như chỉ viết thơ tình như Đinh Hùng, Hoàng Hương Trang hay truyện tình như Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, v.v… cũng bị cấm. Cấm, dưới tên tác giả, dường như sợ chưa đủ rõ ràng, người ta còn soạn ra một danh sách dài loằng ngoằng gồm tên tác phẩm của từng người.
Bắt tác giả và cấm tác phẩm. Cũng chưa đủ. VC còn tổ chức các cuộc hội nghị để vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ văn học miền Nam. Ngoài ra, người ta còn viết bài đăng trên các tạp chí cũng như xuất bản thành sách để tiếp tục công việc vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ ấy. Nội dung của chiến dịch vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ ấy khá giống nhau; giới cầm bút tại miền Nam nếu không ăn tiền của Mỹ thì cũng tuân theo các chỉ thị của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa dùng ngòi bút của họ như một vũ khí chống cộng. Nếu không chống cộng thì cũng làm sa đọa con người bằng thứ văn chương đồi truỵ nhầy nhụa mùi xác thịt. Ngay cả với những tác giả hoàn toàn không dính líu gì đến chính trị, không viết về tình dục, chỉ viết về tình yêu một cách đầy thơ mộng của tuổi học trò cũng bị vu cho cái tội tâm lý chiến: ru ngủ tuổi trẻ, để không ai còn quan tâm đến đất nước cả. Như vậy, viết về chính trị: có tội; không viết về chính trị: cũng có tội. Với lối quy chụp như thế, hầu như không có ai trong giới cầm bút miền Nam thời 1954-1975 có thể được xem là có lý lịch sạch cả.
Có khoảng 180 chục triệu cuốn sách đủ loại ở miền Nam nằm trong vùng định chế sách bị tiêu hủy, vẫn có một số sách không nhỏ trên thoát nạn do sự cất dấu của những người có lòng với văn học và do cả óc trục lợi của một số người. Dù cho có trục lợi đi nữa thì cũng vẫn là một điều đáng làm vì gián tiếp giúp cho sinh mệnh chữ nghĩa miền Nam vẫn có cơ hội sống lại.
Chính trong cái khung cảnh sinh hoạt sách báo miền Nam bị vây khốn khó khăn như thế đã làm nảy ra một nghề mới: Nghề bán sách dạo, sách bán ở vỉa hè. Nghề này từ nay thay thế công việc của ông Khai Trí cũng như cho khoảng 2500 nhà sách trên toàn miền Nam đã phải tự động đóng cửa sau 1975.
Chỉ là một con đường nhỏ dài chừng 200m, nối liền hai đường Ký Con và Calmette là những sạp chứa đầy sách, đối diện nhau qua một lối đi bộ…
Cũng nhờ chợ sách này mà nhiều tác phẩm xuất bản trước 1975 của miền Nam được lưu truyền, gìn giữ. Có những gia đình cất dấu nhiều sách quý , nhưng sau đó đứt ruột chia tay với sách vì sinh kế. Mua bán sách cũ cũng giúp bao gia đình thoát được cái đói. Cảnh đó chỉ có những người ko may mắn kẹt lại Sài Gòn sau 75 mới thấu hiểu!
Trong quyển " Hồi ký dang dở của cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa có đoạn đề cập tới việc " bài trừ văn hóa đồi trụy" của cộng sản Bắc Việt như sau:

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một ủy ban gọi là “ủy ban bài trừ văn hóa đồi trụy” ra đời. Thành phần gồm một cán bộ Ðảng CSVN và sinh viên học sinh chít khăn đỏ trên tay (mà người dân Sài Gòn gọi là mấy con “cọp 30”), tại Sài Gòn Chợ Lớn thì mỗi quận một tiểu ban, ở các tỉnh thì mỗi tỉnh một tiểu ban.

“Văn hóa đồi trụy” được định nghĩa là tất cả những ấn phẩm thuộc mọi lãnh vực chánh trị, kinh tế, lịch sử (nhất là lịch sử), giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn hóa, văn nghệ, phim, ảnh. v.v… đang được lưu hành và sử dụng tại Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 30 Tháng Tư, 1975 trở về trước, được in, chép hay thu vào băng nhựa, bằng tiếng Việt Nam hay bất cứ loại sinh ngữ ngoại quốc nào (trừ chữ Tàu và chữ Nga).

Mục tiêu mà các VC nhắm vào trước tiên là Thư Viện Quốc Gia (national library) ở đường Gia Long. tất cả sách bìa cứng bìa mềm, gáy tím gáy vàng, dày mỏng gì cũng đều được mang ra đường xé nát và đốt hết. Tội nghiệp cho mấy bộ tự điển và Encyclopédia chữ Anh chữ Pháp (trên 100 cuốn), và rất nhiều bộ sách quý thuộc các ngành Công Pháp quốc tế, Khoa Học Kỹ Thuật, Hàng Không và cả khoa học Không Gian,v.v… mà anh Hữu đã tốn công sưu tầm trên 10 năm dài để làm giàu cho thư viện của Ðất Nước, trong phút chốc bị VC xơi tái hết! 

Mục tiêu kế tiếp của VC là Thư Viện Bộ Giáo Dục, các nhà sách ở khu chợ Bến Thành và dài dài vô đến Chợ Lớn… sau đó tiểu ban đi xét từng nhà khắp đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Ðịnh, ai sợ thì cứ tự mình đốt, bỏ…

Về văn nghệ thì tất cả các bản nhạc in hoặc thu vào băng nhựa, nếu không phải loại nhạc lai căn (lai nhạc Tàu) từ nhóm văn công miền Bắc mang vào, đều được liệt vào loại “nhạc vàng của đế quốc Mỹ và tay sai,” cấm lưu hành, xé đốt, hủy bỏ, ai lưu giữ sẽ có tội. Các kịch bản hay các vở tuồng cải lương, hát bộ v.v… cũng phải được duyệt xếp loại lại (Bà thiếu tá cách mạng đào hát Kim Cương phụ trách phần này).

Theo ông Nguyễn văn Lục viết trong "30 tháng 4 – Ði tìm thời gian đánh mất (p2) ", thì cuộc truy lùng sách vở “ngụy”, bị đánh giá đồi trụy và phản động này, thì ông Linh mục (LM) Trương Bá Cần, nguyên giáo sư sử học, hay Trần Bá Cường tỏ ra biết lợi dụng thời cơ nhất. Trần Bá Cường đã yêu cầu địa phận, nhà xứ, nhà in nộp tất cả tài liệu ấn phẩm tôn giáo. Từ đó cho người sàng lọc tài liệu nào không cần thì đem bán kí lô, tài liệu nào xử dụng được hay có giá trị lịch sử thì ông cất giữ cho riêng mình. Ông Nguyễn văn Lục cho biết rằng riêng địa phận Sài Gòn và nhà in Tân Định còn tàng trữ rất nhiều tài liệu quí giá từ thời Pháp thuộc. Các văn kiện liên quan đến Tòa thánh, các phúc trình địa phận, các thư từ giao dịch của các vị giám mục tiền nhiệm, các sắc chỉ, bài sai, các sách cũ quý và hiếm không đâu có, các sách đạo như kinh bổn, hạnh thánh, báo chí như tờ Nam Kỳ địa phận trong suốt hơn 40 năm… Không biết ông Cường đã cướp được những tài liệu gì và cất giữ ở đâu. Điều chắc chắn là cả một di sản văn hóa tinh thần có giá trị lịch sử Thiên Chúa giáo Việt Nam bỗng chốc trở thành tiêu ma.

Trong chiến dịch lên án và triệt hạ “Văn hóa đồi trụy” này, theo thống kê chính thức năm 1981, trong chiến dịch đợt 3 vào tháng 6 năm 1981 chính quyền cộng-sản đã tịch thu trên toàn quốc 3 triệu đơn vị ấn phẩm trong đó 316,314 sách báo bị cấm; riêng ở Sài-gòn 60 tấn sách (151,200 cuốn), 41,723 cuộn băng nhạc, 53,751 bức tranh, 631 cuộn phim. v.v. Đồng thời khám phá ra 205 nhà in bí mật (-Theo Trần Thọ, Tạp-chí Cộng-Sản 10-1981


Nói tóm lại cs Bắc Việt chủ trương hủy bỏ tất cả những gì mà họ cho là tàn tích của Mỹ Ngụy từ 75 trở về trước, để đem thay thế vào đó những gì mà miền Bắc đang có và đang áp dụng, không cần biết có hợp với dân tộc Việt Nam hay không và cũng không cần lượng xét hậu quả sẽ như thế nào (có nghĩa là thay vì đẩy Miền Bắc tiến lên để theo kịp đà phát triển của Miền Nam, họ làm mọi cách nhằm kéo lùi Miền Nam thụt lùi lại vài chục năm, sao cho trình độ văn minh tiến bộ của hai miền Nam Bắc phải ở cùng nằm ở một trình độ kém phát triển như nhau… nhằm đưa đất nước Việt Nam vào con đường xã hội chủ nghĩa đúng theo lệnh của các quan thầy Liên Xô và Trung Cọng…Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/dien-dan/Hoi-ky-dang-do-Tiep-theo-ky-truoc-2848/

Tuy không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn.

Dù thế nào đi chăng nửa, chính hàng trăm triệu sản phẩm văn hoá bị  người cộng sản kết án và cấm đoán này đã giúp dân miền Bắc tỉnh ngộ, hiểu ra là mình đã bị “một chế độ man rợ” lừa gạt cả đời thanh xuân, như nhà văn Dương Thu Hương đã công nhận. Có thể nói là từ đống tro tàn của sản phẩm văn học nghệ thuật của Miền Nam hồi ấy đã hình thành những Dương Thu Hương và một nền văn học phản kháng, tiếp nối truyền thống của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm của giữa thập niên 1950. 

Để bảo tồn nền văn hóa nhân bản của VNCH, hiện nay nhiều thư viện online, tủ sách của người Việt Hải ngoại đã lưu giử được một số sách bào và ấn phẩm trước 1975. Điểm qua vài Web sites lưu giữ sách báo xuất bản trước 1975 tại Miền Nam:
Hiện có một số Web sites lưu trữ nhiều sách báo xưa, song người đọc chỉ có thể vào đọc những cuốn sách phần lớn đã được đánh máy lại và đọc tại chỗ, không thể tải xuống máy computer hay các máy di động khác, như điện thoại hay tablet, để đọc mà không cần phải lên mạng. Điển hình là Thư Viện Việt Nam tại https://www.tvbtv.org/, hay Việt Nam Thư Quán tại https://vnthuquan.net/, và một số văn khố điện tử khác trên mạng. 
Sách giáo khoa Google Drive, 
Tại https://drive.google.com/drive/mobile/folders/0B-JKbAa37-OQNTF6N1Y2VzRQNVE. Thực ra đây chỉ là một đường dẫn vào nơi lưu trữ trên mây (cloud) của ai đó, trên đó chứa trên 100 cuốn sách giáo khoa xưa, phần lớn xuất bản vào thời Việt Nam Cộng Hoà, do chủ nhân có nhã ý mở ra để công chúng vào tham quan hay tải xuống cuốn nào tùy sở thích đọc. Khách viếng thăm cũng có thể tải xuống toàn thể bộ sưu tầm, nếu muốn, song sẽ hơi lâu, và cũng tùy theo tốc độ của dịch vụ Internet của mỗi người. Tôi vừa làm thử, bấm Download All ở trên góc tay phải. Tổng cộng sách lưu trữ tải xuống được là 1.9 GB, không nhẹ.
Tại http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoChuaSachCu.htm, chứa nhiều sách báo xưa, trong đó có một số ấn hành từ đầu thế kỷ 20. Tôi cũng vừa download thử cuốn Viet-Nam Tự-Điển của các soạn giả Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, do nhà Khai trí xuất bản năm 1970, dầy tổng cộng 1311 trang. Đây là Quyển Hạ, từ vần M tới X. 
Xem tiếp tại:Trùng Dương- Điểm qua vài Web sites lưu giữ sách báo xuất bản trước 1975 tại Miền Nam: https://www.diendantheky.net/2019/01/trung-duong-iem-qua-vai-web-sites-luu.html
Cộng sản ra lệnh triệt hạ nền văn hóa VNCH của miền nam, cho đốt sách (thực chất là đốt sử), nhưng chúng không ngờ là sau 44 năm cũng không thể nào xóa sạch được văn hóa VNCH. Tình cảm, lòng mến mộ nền văn hóa VNCH của người miền nam vô tình đã bảo tồn được các sáng tác về âm nhạc mà người dân thường gọi đó là nhạc vàng,  một thứ văn hóa ăn sâu vào trái tim của người miền nam. Đây là một phạm trù văn hóa VNCH đã chiến thắng được cuộc cách mạng văn hóa do đảng csVN chủ xướng. Ngày nay nhạc vàng đã vươn mạnh trong dân gian từ nam chí bắc, đâu đâu cũng thấy người dân lưu trử và hát những bản nhạc vàng và nó đã đánh bại hoàn toàn nhạc đỏ do các nhạc sĩ gia nô sáng tác.
Nhạc vàng, một thứ văn hóa mà cách đây 44 năm đã bị cs Bắc Việt lên án và triệt để tìm diệt! vì họ lên án đó là thứ văn hóa đồi trụy. Nhưng ngày nay,   trong gia đình của những tên đảng viên, cán bộ văn hóa cũng nghe và hát các bản nhạc vàng do văn nghệ sĩ VNCH sáng tác một cách say mê. 5 triệu người Việt tự do hải ngoại, khi rời khỏi VN đã mang theo quê hương miền nam của họ trong đó có văn hóa VNCH đến xứ người và bảo tồn cho đến hôm nay -  giờ đây đã trở thành một thứ vũ khí đánh bại được những định hướng về văn hóa của đám khỉ Pắc Bó. Văn hóa VNCH cũng đã tham dự vào mặt trận chính trị trên các mạng xã hội, đã làm mất ăn mất ngũ giới lãnh đạo csVN . Mai đây khi VN không còn cộng sản, đất nước VN trong thời hậu cộng sản sẻ tái lập và phát triển rực rở nền văn hóa VNCH trên 3 miền đất nước để trả lại một VN với nền văn hóa dân tộc trong sáng và tiến bộ trong giáo dục và đào tạo những thế hệ thật tốt cho quốc gia.

Tóm lại việc đốt sách thực tế chỉ là một chiến lược nhằm đồng hóa tư tưởng con người, nhưng đã bị tác dụng ngược  không tạo được tác dụng triệt để trong việc xóa sạch vết tích văn hóa vàng như người cộng sản chóp bu mong muốn.
Văn hóa VNCH  tuy chỉ tồn tại trong thời gian vỏn vẹn có 20 năm nhưng đã đào tạo ra những lớp người nhân hậu, biết yêu nhân loại và đất nước, biết sống thật với mình và với người chung quanh, những con người được trang bị thứ tư tưởng khai phóng, đó là chính là những kẻ thù tiềm ẩn cho bất cứ một chế độ độc tài nào. Sự khai phóng nó đi xa hơn những đòi hỏi tự do trong hành động và các hoạt động chính trị - xã hội. Văn Hóa VNCH khác với thứ Văn Hóa do người cs chủ xướng, vì đó là một thứ  đã làm đạo đức xuống thấp kéo theo một xã hội đầy dối trá, lường gạt. Người dân trong nước đang  bị lạc trong thế giới văn minh và tiến bộ về tư tưởng trong thời đại hôm nay.  Nó thúc đẩy tất cả các cởi trói về tư tưởng, cổ vũ cho những suy nghĩ tự do, và luôn luôn muốn lật ngược lại các vấn đề. Những con người vừa mang tư tưởng tự do, đòi hỏi và thực hiện một hệ thống chính trị-xã hội tự do, yêu quê hương đất nước mình, và quý mến đồng loại hiển nhiên sẽ trở thành kẻ thù và kẻ chống đối tiềm tàng của một chế độ độc tài khét tiếng đàn áp chính người dân mình. Đó là lý do  mà những người cộng sản cố xóa sổ cho được những tinh hoa của chế độ miền Nam Cộng hòa.
Một lý do khác mà những người cộng sản cố xóa mọi dấu vết và hạ nhục chế độ VNCH là vì vấn đề tính chính danh. Bằng cách bôi nhọ và hạ nhục chế độ VNCH thì chế độ mới mới có được tính chính danh khi đem quân “giải phóng”. Một chiến dịch không thể nào gọi là “giải phóng” và có tính chính danh khi bên đem quân đi tấn công, đòi giải phóng một quốc gia lại có một đẳng cấp phát triển kém xa bên “bị giải phóng”. Đó không gọi là giải phóng được, mà đó gọi là xâm chiếm, ăn cướp....

Vì vậy mà bằng mọi cách phải dập tắt các văn hóa phẩm của VNCH, vì nếu để những văn hóa phẩm này có cơ hội lan tỏa khắp đất nước, nó khác nào cho người dân thấy rằng nền văn hóa của VNCH là một nền văn hóa phù hợp với Việt tộc hơ những thứ văn hóa mà đảng đả rước về từ cái đống rác của thế giới cộng sản. Văn hóa VNCH là một thứ làm nhức nhối những cái đầu đất trong Bộ Chính Trị và đã cải tạo được phần nào tư tưởng bị sơ cứng vì chủ nghĩa của người miền bắc.

THAM KHẢO: 
1.Con đường sách Sài Gòn và câu chuyện đốt sách
2.Mở lại hồ sơ vụ án Nhân Văn Giai Phẩm (phần 1)
3.Một đánh giá mới về Nhân Văn - Giai Phẩm
4. Sách cũ miền nam 1954 - 1975
5.Ông Nguyễn Hùng Trương và nhà sách Khai Trí
https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Ong-Nguyen-Hung-Truong-va-nha-sach-Khai-Tri-4737/
6.Bốn mươi năm Dương Nghiễm Mậu và tự truyện Nguyễn Du
6.văn học miền nam tự-do 1954-1975 (phần i)
https://damau.org/35749/van-hoc-mien-nam-tu-do-1954-1975-phan-i
7.văn học miền nam tự-do 1954-1975 (phần II)
8.30 tháng 4 – Ði tìm thời gian đánh mất (p2) - Nguyễn Văn Lục

Biên khảo Hậu duệ VNCH Lý Bích Thủy 23.4.2019

XE LỬA LEO NÚI ĐÀ LẠT-PHAN RANG

niềm tiếc nuối về tuyến đường sắt răng cưa ‘độc nhất vô nhị’

Từ xưa đến nay, trên thế giới chỉ có 2 tuyến đường sắt răng cưa độc đáo có thể leo lên núi, một đường ở Thuỵ Sĩ dài 25km, còn một đường khác là nằm ở Việt Nam. Đó là tuyến đường sắt Đà Lạt – Tháp Chàm (Phan Rang) dài tới 84km, vượt miền duyên hải lên cao nguyên ở độ cao 1.500m. Giờ đây, dẫu chỉ còn là phế tích, nhưng nó vẫn mang một vẻ đẹp độc đáo, gợi bao niềm tiếc nhớ.
Tuyến tàu lửa Đà Lạt – Tháp Chàm được thi công năm 1908 nối tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận. Sau 24 năm xây dựng, toàn tuyến dài 84km hoàn thành và đưa vào hoạt động. Trong ảnh là tàu hỏa chạy trên cầu bắc qua vực sâu trên đèo Ngoạn Mục năm 1930.
Để qua được đèo dốc, người ta phải thiết kế những bánh răng cưa lắp thêm vào trong đầu máy. Tuyến đường có 16 km răng cưa, vượt độ cao 1.500 m trên mực nước biển với độ dốc thường xuyên 12%. Trong ảnh là nhà ga Đà Lạt hoàn thành 1938 – điểm cuối cùng của tuyến đường sắt răng cưa – đã được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia.
Tuyến đường này đã đi vào lịch sử ngành công nghiệp đường sắt, khi là một trong hai tuyến đường sắt thế giới (cùng với cung đường Jungfraujoch, vượt dãy Alpes ở Thụy Sĩ) chạy bằng bánh răng cưa, vượt miền duyên hải lên cao nguyên ở độ cao 1.500m. Hiện nay để phục vụ du lịch, nhà ga Đà Lạt vẫn còn lưu lại hình mẫu bánh răng cưa dùng để kéo đoàn tàu lên những con dốc cao.
Năm 1972, do chiến sự ác liệt ở miền Nam, tuyến đường sắt đã ngưng hoạt động. Giữa năm 1975, khi đất nước thống nhất, tuyến tàu hỏa hoạt động trở lại nhưng không lâu sau đó cũng phải dừng vì không hiệu quả kinh tế. Hiện chỉ còn 7 km Đà Lạt – Trại Mát còn được sử dụng với mục đích phục vụ khách du lịch.
Cách trung tâm Đà Lạt khoảng 25 km là ga Cầu Đất, nằm ở độ cao khoảng 1.600 m so với mực nước biển. Toàn tuyến đường sắt có 11 nhà ga (Lâm Đồng 7 ga, Ninh Thuận 4 ga), chạy song song với đường quốc lộ 27.
Bản tên nhà ga cùng với chữ tiếng Pháp vẫn còn lưu lại ở nhà ga Cầu Đất.
Dấu tích con đường sau hơn 40 năm tại khe núi thuộc xã Trạm Hành, TP Đà Lạt.
Trên toàn tuyến đường sắt có 5 hầm với chiều dài khoảng 600 m. Đường hầm Eo Gió (huyện Đơn Dương) hiện vẫn được người dân địa phương chạy xe máy qua lại.
Rạch tiêu nước bên trong đường hầm số 2 (TP Đà Lạt) vẫn còn khá kiên cố với lớp bêtông vững chắc.
Vùng đất D’Ran (huyện Đơn Dương, Lâm Đồng) gắn liền với ga Eo Gió một thời tấp nập người lên, kẻ xuống. Ngày nay, ga Eo Gió bỏ hoang, người dân tận dụng để làm chuồng nuôi bò, tập kết nông sản.
Mố cầu đường sắt cao khoảng 30 m đứng sừng sững giữa khe núi sau vài thập kỷ bị phá bỏ. Sau khi qua cây cầu Eo Gió, đường tàu lửa sẽ băng qua rừng, đổ đèo Ngoạn Mục để xuống Ninh Thuận.
Ngày nay dấu tích đường tàu lửa trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận cũng còn rất ít. Đáng kể nhất là cầu Tân Mỹ bắc qua sông Cái tại xã Mỹ Sơn (huyện Ninh Sơn), dài khoảng 300 m với 10 nhịp vẫn giữ được hình dáng ban đầu.
Sau khi bị dỡ đường ray và thanh tà vẹt, cầu Tân Mỹ hiện chỉ còn bộ khung sắt. Để hoang lâu ngày, cỏ cây mọc bao trùm cả cây cầu nổi tiếng một thời.
Lịch sử hình thành tuyến đường sắt Đà Lạt – Tháp Chàm
Năm 1893, bác sĩ người Pháp Alexandre Yersin dẫn đầu đoàn thám hiểm đi về vùng núi phía Tây của vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Sau hơn 1 tháng băng rừng, vượt núi, vào lúc 15h30 ngày 21/6/1893, đoàn thám hiểm lần đầu nhìn thấy cao nguyên Lang Biang.
Ấn tượng đều tiên về cao nguyên hùng vĩ được Yersin ghi chép lại trong nhật ký của chuyến hành trình: Cao nguyên nhấp nhô cao từ 900m đến 1.200m khoảng từ 15km đến 20km trước khi đến chân núi. Tôi đứng trên một vùng hoàn toàn trơ trụi. Đất đồi mấp mô khiến tôi cảm giác như đang đi trên một đại dương xao động vì những ngọn sóng khổng lồ. Từ xa, núi Lang Biang đứng sừng sững ở giữa như một hòn đảo và hình như ngày càng xa dần khi tôi đến gần. Dưới chỗ trũng, đất màu đen và đầy than bùn. Những đàn nai lớn để yên cho chúng tôi đến gần vài trăm mét. Đàn nai vụt chạy ra xa rồi ngoái cổ lại tò mò nhìn chúng tôi…”.
Sau khi phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, Yersin viết thư cho Toàn quyền Pháp Paul Dumer – người đang tìm một địa điểm thích hợp để xây dựng một khu nghỉ dưỡng kiểu châu Âu tại Đông Dương. Trong thư, bác sĩ Yersin khẳng định vùng đất này hội tụ đầy đủ các yếu tố để xây dựng khu nghỉ dưỡng lớn, đó là: Độ cao trên 1.200m, nguồn nước dồi dào, đất đai có thể canh tác và khả năng thiết lập đường giao thông thuận lợi.
Tháng 3/1899, Yersin tháp tùng Toàn quyền Paul Doumer cưỡi ngựa từ Phan Rang lên Lang Biang thị sát cao nguyên. Để xây dựng Đà Lạt thành khu nghỉ dưỡng, vấn đề tiên quyết chính là mở đường giao thông từ đồng bằng lên đây. Năm 1901, Paul Doumer ký sắc lệnh lập tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt. Tuy nhiên, từ năm 1902, Paul Dumer trở về Pháp, kế hoạch xây dựng đường sắt cũng như khu nghỉ dưỡng đồ sộ Đà Lạt bị ngưng trệ. Vài năm sau đó, dự án mới được tái khởi động dưới thời của toàn quyền Albert Sarraut.
Để xây dựng đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt, người Pháp đã tuyển hàng chục ngàn phu trong cả nước. Từ năm 1912 đến 1920 mới chỉ hoàn thành được 38km từ Phan Rang đến Krông Pha dưới chân đèo Ngoạn Mục. Năm 1922, Công ty Thầu khoán Châu Á đảm nhiệm thi công từ Krông Pha lên Đà Lạt. Đây là đoạn khó khăn, phức tạp nhất bởi phải làm đường vượt qua những dãy núi cao cùng nhiều vực sâu, thác ghềnh, sông suối. Trong khi đó, việc mở đường chỉ thực hiện bằng bằng sức người và những dụng cụ thô sơ.
Công việc vất vả, điều kiện sinh hoạt khổ cực, khí hậu khắc nghiệt, thú dữ khiến hàng ngàn phu đường phải bỏ mạng. Theo thống kê thời ấy, trung bình cứ 10 công nhân tham gia xây dựng đường sắt Đà Lạt – Tháp Chàm thì 5 người chết vì tai nạn, bệnh tật. Ký ức đau thương về quá trình xây dựng tuyến đường vẫn còn được lưu truyền cho đời sau qua bài vè:
Kể từ níp-đớp-vanh-đơ (tức năm 1922)
Quan tây, thầy thuốc ma-xừ Rô-ca. 
Kể từ làm sở Sông Pha. 
Làm hai cây số đục qua miệng hầm.
Bạc vàng không biết mấy trăm. 
Nhân dân hao phí ăn nằm gió sương. 
Kẻ sụp đất người nghiến xương. 
Kẻ bị hột nổ tan xương nát đầu.
Nói ra kẻ thảm người sầu. 
Bất đắc kỳ tử thác sâu linh hồn. 
Người nào không giấy bổn thôn. 
Không hình căn cước bắt dồn lên quan.
Làm sao cho khỏi mang mền. 
Làm ba bốn bữa trốn lên hòn Bồ. 
Cây khô thì lá cũng khô. 
Phận nghèo đi tới nơi mô cũng nghèo
Công nhân đang làm đường sắt đoạn có răng cưa
Đến năm 1938, tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt chính thức hoàn thành với tổng chi phí hết hơn 200 triệu Francs. Tổng chiều dài 84km, qua 9 nhà ga, 5 đường hầm xuyên núi, 2 cầu lớn, 2 đèo cao là Ngoạn Mục và Đran; có 3 đoạn phải chạy trên đường sắt răng cưa với độ dốc 12% gồm: Sông Pha – Eo Gió, độ cao từ 186m đến 991m, Đơn Dương – Trạm Hành độ cao từ 1.016m đến 1.515m, Đa Thọ – Trại Mát độ cao từ 1.402m đến 1.550m. Mỗi ngày trung bình có 2 đôi tàu chạy tuyến Đà Lạt – Nha Trang và Đà Lạt – Sài Gòn. Các tàu được vận hành bởi 11 đầu máy hơi nước nhãn hiệu HG 3/3 và HG 4/4, là loại đầu máy chuyên để vượt núi và chạy trên đường sắt răng cưa do Đức chế tạo.
Vua Bảo Đại dự lễ khánh thành
Nhờ có tuyến đường sắt này mà vật liệu xây dựng được chở lên Đà Lạt thuận lợi với khối lượng lớn, tạo ra sự bùng nổ về xây dựng tại Đà Lạt giai đoạn 1938 – 1945. Từ đây, các sản phẩm nông sản của xứ lạnh cũng tỏa khi khắp cả nước, du khách đến với Đà Lạt cũng nhiều hơn. Đà Lạt ngày càng sầm uất, hưng thịnh. Tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt như một dải lụa tuyệt đẹp vắt ngang đồng bằng ven biển và cao nguyên, nắm giữ nhiều kỷ lục như chênh lệch về độ cao lớn nhất, xây dựng gian khổ, tốn kém nhất…
Tàu hỏa Đà Lạt – Phan Rang đang chạy vào thập niên 1940
Ký ức người lái tàu
Trong khu tập thể hỏa xa do người Pháp xây dựng cách đây một thế kỷ tại đường Quang Trung, Phường 9, TP. Đà Lạt, chúng tôi gặp cụ Nguyễn Văn Viễn – người lái tàu duy nhất trên tuyến đường sắt Đà Lạt – Tháp Chàm từ thời Pháp thuộc đến nay vẫn còn sống. “Tôi sinh năm 1922 tại làng Quý Lý, xã Hải Ninh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Năm 20 tuổi đi làm phu trà tại Sở trà Cầu Đất (Đà Lạt). Đây là nhà máy chè đầu tiên do người Pháp lập tại Đông Dương. Khi Nhật vào xâm lược nước ta, Sở trà Cầu Đất đóng cửa, tôi lên Đà Lạt đi làm bồi cho người Pháp. Ngày 1/4/1947, tôi được một sĩ quan Pháp giới thiệu vào làm tại Sở hỏa xa Đà Lạt.” – cụ Viễn nhớ lại.
Khi mới vào làm, cụ Viễn cũng chỉ được giao vài việc lặt vặt như đốt lò, dọn vệ sinh, soát vé trên tàu. Đến năm 1953, cụ mới chính thức trở thành phụ lái, rồi lái chính. Ngày ấy, mỗi đầu máy hơi nước thường có 1 lái tàu, 2 nhân viên phụ trách tiếp nước, đốt than. Là người kỹ tính nên cụ Viễn thường xuyên có cuốn sổ ghi chép công việc thường ngày. Chỉ vào những trang giấy cũ nhàu, cụ Viễn giải thích: “Quãng đường từ Phan Rang lên Krông Pha khá bằng phẳng nên chạy bằng đầu máy loại thường, mỗi đầu có thể kéo 20 toa. Tuy nhiên, khi tới Krông Pha thì phải thay bằng đầu máy vượt đèo, lúc này mỗi đầu máy chỉ kéo được tối đa khoảng 65 tấn, tương đương 4 toa. Thời gian trung bình đi từ ga Tháp Chàm lên Đà Lạt mất khoảng 3 tiếng rưỡi”.
Hệ thống đường ray răng cưa
Để vượt đèo, mỗi đầu máy có lắp hệ thống bánh răng, khi lên đèo, lái tàu sẽ điều kiển cho hệ thống này “ngoạm” chặt vào đường răng cưa nằm giữa 2 đường ray để leo lên dốc. Nếu như ở đường bằng, tàu có thể chạy với tốc độ 35km/h thì ở những đoạn răng cưa chỉ đạt khoảng 5 – 10km/h. Đây cũng là những giây phút căng thẳng nhất đối với người lái tàu, bởi chỉ cần sơ sểnh một chút cả đoàn tàu sẽ bị tuột hoặc lật về phía sau. “Năm 1940, tại km 40 + 800 tàu bị trật đường ray lao xuống vực làm hơn 30 người thiệt mạng. Năm 1968, tàu bị trúng mìn trong chiến tranh làm toàn bộ tổ lái 4 người chết. Rồi còn vô số vụ tai khác nữa…” – cụ Viễn ngậm ngùi nhớ lại.
Năm 1972, do chiến sự ác liệt ở miền Nam, tuyến đường sắt đã ngưng hoạt động. Sau tháng 4 năm 1975, tuyến tàu hỏa hoạt động trở lại nhưng không lâu sau đó cũng phải dừng vì không hiệu quả kinh tế. Hiện chỉ còn 7 km Đà Lạt – Trại Mát còn được sử dụng với mục đích phục vụ khách du lịch.
Đến tận bây giờ, trên thế giới cũng chỉ có 2 tuyến đường sắt răng cưa lừng danh được xây dựng, bao gồm tuyến vượt dãy núi Alpes (Thụy Sĩ) và đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt (Việt Nam).
Tuy nhiên, trong khi tuyến đường sắt ở Thụy Sĩ hiện đang đưa du khách vượt dãy Alpes với giá vé lên tới 60 USD/người cho đoạn đường không tới 25 km, thì tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm – Đà Lạt gần như bị bỏ hoang.
Nguyên nhân, sau năm 1976, ngành đường sắt dần dần cho tháo dỡ các thanh ray và tà vẹt để sử dụng vào việc sửa chữa tuyến đường sắt Bắc-Nam, mặc cho các chuyên viên kỹ thuật hỏa xa ra sức can ngăn bởi chúng được chế tạo đặc biệt (có lỗ đặt ốc vít để gắn các thanh thép răng cưa), nếu tháo đi thì sau này sẽ không thể tìm đâu ra để lắp lại.
Sau đó đến lượt các cây cầu cũng bị tháo dỡ để lấy sắt, chỉ còn những mố cầu trơ trụi. Các đầu tàu hơi nước cổ, chuyên dụng dùng để leo đèo trên đường sắt răng cưa ở Đà Lạt cũng đã bị một doanh nghiệp của Thụy Sĩ thu gom với giá sắt vụn!

NGUỒN: (nhacxua.vn biên soạn từ nguồn vnexpress và đặc san Dalat info)- https://nhacxua.vn/xe-lua-leo-nui-da-lat-phan-rang-niem-tiec-nuoi-ve-tuyen-duong-sat-rang-cua-doc-nhat-vo-nhi/
CHỈ CÓ DƯƠNG VĂN MINH ĐẦU HÀNG - KHÔNG CÓ VIỆC 
QUÂN DÂN CÁN CHÍNH VNCH ĐẦU HÀNG CS BẮC VIỆT !!
Trong mùa quốc nan 2019 của nước VNCH năm nay, chúng tôi hậu  duệ VNCH cố gắng đi tìm những góc khuất về cái chết của VNCH, để làm bài học cho tương lai, soi sáng thêm chính sử của VNCH, và để hàng ngũ hậu duệ VNCH có thêm tài liệu đưa vào quân sử VNCH - đồng thời làm sáng tỏ thêm về vai trò của con tắc kè Dương văn Minh.

Người viết muốn đề cập đến sự vi hiến của đám thổ tả thành phần thứ ba - còn được coi là những con rối của PG Ấn Quang và đám nón cối dép râu nằm vùng ở miền nam, khi đám này đưa Dương văn Minh  trở lại sân khấu chính trị ở giờ thứ 25 của miền nam VN.

BỐI CẢNH CÁI CHẾT CỦA VNCH

Sau khi ký xong hiệp định Paris 1973, người Mỹ đã ôm đầu bỏ chạy, trước sự vi phạm thô bạo một hiệp định quốc tế của cs Bắc Việt, bản văn chính Mỹ đã khởi xướng vào năm 1968 và long trọng ký kết vào năm 1973 trước mặt thế giới. Vào ngày 30.4.1975, Tây Phương theo chân Mỹ, cúi mặt bịt tai trước sự vi phạm một hiệp định quốc tế - một bản văn mà chính Tây Phương đã cổ võ, ca ngợi, trước mặt thế giới, nào là nhân danh những lý tưởng nhân đạo, tự do và hòa bình. Thế nhưng tất cả, đã quay mặt lại với VNCH,  mặc cho cái ác từ đó lên ngôi mà không một nước nào đưa ra được một lời công đạo cho số phận của  đất nước VNCH - cái bất hạnh đó đã úp lên toàn bộ quân, dân, cán, chính miền nam trong những ngày sau khi đàn bò cs Bắc Việt tiến chiếm miền nam.
Kể từ khi phản bội VNCH, người Mỹ đã gây khó khăn cho chính quyền của VNCH sau khi hiệp định Paris 1973 được ký kết. Đất nước VNCH đã bị áp lực mạnh về quân sự từ phía cộng quân, đã đè nặng trên 4 vùng chiến thuật cho đến ngày miền nam hoàn toàn rơi vào tay bọn cướp nước Bắc Việt. Năm ngày cuối cùng của VNCH, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã từ chức và bị ép rời VN. Ông đã đến Đài Bắc  vào đêm 25.4.1975 với quyết định bổ nhiệm làm Đặc sứ của VNCH đến Đài Bắc để chia buồn về việc ra đi của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, do  Tổng Thống Trần văn Hương ký.

Ông Thiệu ra đị trước áp lực của  các thành phá hoại VNCH, đám thổ tả này mong muốn nhanh chóng mở cuộc nói chuyện hòa bình cho miền nam  với cs Bắc Việt để gọi là tìm lối thoát chính trị cho miền nam VN.

Trong khi đó, cộng sản Bắc Việt ngụy tạo được hào quang cho cái gọi là đại thắng mùa Xuân (?!), khi VNCH đã bị đồng minh phản bội và cúp quân viện, đó cũng là lúc mà bọn Pắc Bó lớn tiếng khoe khoang thành tích là " Thành công giải phóng được miền nam" làm nên trang sử mới (?!) và những ngày tiếp sau đó đám đầu lĩnh Ba Đình đã huênh hoang viết rằng: "Chính quyền hợp pháp của Quốc Gia Miền Nam đã đầu hàng (?!)". Chính quyền mà cộng sản Bắc Việt  cho là hợp pháp của Dương văn Minh (?!) chỉ là một thứ không chính danh vi hiến , không do dân miền nam VN bầu lên - Tổng thống Dương văn Minh có sao??

VNCH CÓ HAY KHÔNG ĐẠI TƯỚNG, TỔNG THỐNG DƯƠNG VĂN MINH??

Việc VNCH đầu hàng cộng sản với việc có ông tổng thống Dương văn Minh buổi chợ chiều tuyên bố đầu hàng, có sao? Ai nói có! xin hảy chứng minh tính hợp hiến về 2 chức vụ Đại Tướng và Tổng Thống  của Dương văn Minh ? Chỉ có đám nón cối dép râu và đám thổ tả thành phần thứ ba là công nhận, người dân VNCH không có ủy nhiệm nào cho DVM trong cương vị Tổng thống VNCH hay Đại Tướng. 

Dương văn Minh làm tổng thống của VNCH trong tình trạng hoàn toàn vi hiến, chức vụ đại tướng của y cũng chỉ là tự xưng vì ông đã bị cho giải ngũ từ ngày 21.5.1965. Coi như 10 năm sau cùng của ông  Dương văn Minh chỉ là một phó thường dân nam bộ không hơn không kém. Đất nước VNCH trong thời điểm 1975 không có ông Đại Tướng nào hay Tổng Thống nào có cái tên là Dương văn Minh.

Tất cả chỉ là trò hề chính trị của đám thổ tả thành phần thứ ba. Thế nên con tắc kè nầy xuất hiện trong chính trường miền nam vào hai ngày cuối của VNCH và tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn vào sáng 30.4.1975 là một sự tiếm quyền và tự xưng trong chức vụ Đại Tướng và Tổng Thống VNCH.

Vào những ngày cuối cùng của Nam Việt Nam,  Dương Văn Minh là người, mà bọn thổ tả thuộc thành phần thứ ba, chọn và coi như là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng; mặc dầu bản thân ông Minh và bộ tham mưu của ông vẫn còn tin tưởng vào giải pháp chính phủ liên hiệp như các nhân vật trong nội các do Dương văn Minh thành lập là Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, những con rối của phe  Ấn Quang. Một nội các được gấp rút thành lập hoàn toàn bất chấp những các qui định về điều thứ 56, ghi trong hiến pháp 1967 của nước VNCH về:" Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước hạn kỳ", như trường hợp vô chính phủ của VNCH trong những ngày cuối.

Được đám thổ tả này bất chấp Hiến Pháp 1967 đã ngang nhiên ũng hộ và ủy thác Dương văn Minh lên làm Tổng thống - chưa đầy 48 tiếng, thì y đã  ra lệnh đầu hàng, tuyên bố của DVM được phát đi trên hệ thống Truyền Thanh Quốc gia vào buổi trưa ngày 30/4/1975.

Đám trí thức công chức cao cấp của nền đệ nhị cộng hòa trong cái gọi là nội các DVM, ngu muội tin tưởng rằng khi suy tôn Dương văn Minh lên làm Tổng Thống, sẽ làm thay đổi được tình hình chính trị của miền nam trước áp lực quân sự của cs Bắc Việt. Nhưng tất cả sự việc đều xảy ra đều ngoài ngoài dự đoán của đám trí thức thổ tả này. Đến khi đám thổ tả này hiểu được cộng sản là gì?  thì đám này đã trở thành những tội đồ của người dân và đất nước VNCH. 

KHÔNG CÓ ĐIỀU KHOẢN NÀO CỦA HIẾN PHÁP VNCH 1967 CHO PHÉP DƯƠNG VĂN MINH ĐƯỢC LÀM TỔNG THỐNG

Ngày 30-4-1975, trong khi người dân bàng hoàng trước bản tin do Đại tướng kiêm Tổng Thống Dương văn Minh đọc trên đài phát thanh Sài Gòn,  kêu gọi người lính VNCH buông súng để bàn giao cho VC. Dương văn Minh một tổng thống tự phong (vi hiến) tự nó không có tư cách nào để đại diện cho chính quyền VNCH lúc đó! Dương văn Minh chỉ là thứ trái độn, một tên cướp cạn được đám trí thức thổ tả, là thành phần thứ ba và đám nón cối, dép râu nằm vùng đẩy ra chính trường trong lúc VNCH vô chính phủ.
Những tài liệu và hình ảnh lịch sử sau này có trên internet đã cho thấy được, bọn Việt Cộng với nón cối dép râu mang xe tăng húc sập cánh cửa Dinh Độc Lập, tiến vào chiếm hữu ngôi nhà biểu tượng cho chủ quyền Quốc Gia của VNCH, cái mà chúng thường gọi là "cướp chính quyền bằng bạo lực cách mạng" chứ chúng đâu nào có vào để nhận bàn giao từ chính quyền hợp pháp của VNCH.

Đối với phe thắng cuộc, buổi lễ “bàn giao” hôm đó chỉ là một màn hài kịch, do đám thổ tả phản bội lại VNCH, tên đại tướng tổng thống Dương văn Minh, một người từng phá nát nền đệ nhất Cộng Hòa vào ngày 1.11.1963 và xóa bản đồ nước VNCH vào cuối tháng 4.1975,  hợp xướng cùng đám nón cối dép râu.

Dương văn Minh là tội đồ của nước và dân VNCH, y không có chức vụ nào gọi là Đại Tướng của quân đội VNCH trong thời gian từ thời gian từ tháng giêng năm 1965 cho tới ngày 30.4.1975
Ông Trần Văn Lắm, cựu chủ Tịch Thượng Viện đã từng kể lại với Tiến sĩ Lâm Lễ Trinh rằng tối 27 tháng 4, ông Lắm đến báo tin với Cụ Hương về việc Lưỡng Viện Quốc Hội đã biểu quyết đồng ý để TT Trần Văn Hương từ chức và trao quyền lại cho Dương Văn Minh rồi sau đó đến gặp ông Minh và đề nghị nên làm lễ bàn giao vào hồi 9 giờ sáng ngày hôm sau 28 tháng 4. Trần Văn Lắm kể lại việc bàn giao chức vụ tổng thống đúng một ngày sau khi quốc hội biểu quyết, đó không phải là ý của Cụ Hương mà đó là quyết định của Dương Văn Minh.

Người dân VNCH không quên ngày 28-4-75, khi cụ Trần Văn Hương bị ép từ chức tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, thì định chế hành pháp cũng đã theo chân cụ Hương không còn tồn tại nữa. Định chế lập pháp, tức quốc hội cũng giống như tình trạng của hành pháp,  không có thẩm quyền gì để bầu tổng thống, hay chỉ định tổng thống, hoặc cho phép ai trao chức vụ tổng thống cho ai. Nếu quốc hội đứng ra làm những việc đó đều được coi là vi hiến. Vì trong Hiến Pháp VNCH 1967 không có quy định Quốc Hội lưỡng viện VNCH được phép làm điều đó. Và quốc hội chỉ được làm những điều mà nhân dân đã mịnh thị giao phó, qua những điều khoản được ghi trong hiến pháp.

Hiến pháp VNCH 1967 không có ghi một điều khoản nào cho phép quốc hội được trao chức vụ tổng thống cho ai. Căn cứ vào điều 54 HP/VNCH thì Dương văn Minh là một Tổng Thống tự xưng (vi hiến), từ đó không có thẩm quyền đại diện cho quốc gia VNCH để nói chuyện với VC. Màn kịch 30.4.1975 do các diển viên Dương văn Minh và đám dép râu nón cối Bắc Việt chỉ là một màn hài kịch được dựng ra trong tình trạng vô chính phủ và thời điểm tháng 4 -1975.
Trích từ youtube "Lời Tuyên bố đầu hàng: "Có một điều thú vị đằng sau lời tuyên bố đầu hàng, đó là sự không nhượng bộ của chính ủy Bùi Văn Tùng khi ấy với Tổng thống Dương Văn Minh. Ông Dương Văn Minh chỉ muốn nói là: Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, nhưng Trung tá Bùi Văn Tùng yêu cầu ông phải đọc là Tổng thống. Cuối cùng thì lời tuyên bố đầu hàng là: "Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống của Chính quyền Sài Gòn.", hết trích. 

Căn cứ vào bản tuyên bố này người ta thấy được chính Dương Văn Minh cũng đã từng nhất quyết không nhận mình là "tổng thống" vì y biết đó là vị trí hoàn toàn vi hiến trong chức vụ Tổng thống của y - một chức vụ do đám thổ tã hám danh thuộc thành phần thứ ba và cộng sản Bắc Việt suy tôn chứ không phải là một tổng thống chính danh của VNCH được nhân dân miền nam  ủy thác để lãnh đạo. Nhân dân miền nam VN không có ai đồng thuận trong việc  tín nhiệm DVM làm tổng thống, ngoài đám cơ hội, những con rối chính trị của miền nam tín nhiệm mà thôi.

Khi tuyên bố là Đại Tướng trước Tổng Thống, đã nói lên được tính không chính danh và nghịch lý của Dương văn Minh ngay trong bản tuyên bố này- khi y bị ép đọc trên đài phát thanh Sài Gòn sáng ngày 30.4.1975. Tuy nhiên đám dép râu cs Bắc Việt đã hí hửng xem đó là thành tích đáng để ghi vào tài liệu lịch sử.

Nếu phân tích nơi câu đầu của bản tuyên bố cho thấy, thay vì DVM chỉ dùng danh xưng: tôi nhân danh là Tổng Thống VNCH là đũ, không cần phải nói là Đại Tướng, vì Tổng thống chính là tổng tư lệnh của Quân Đội VNCH theo Hiến Pháp VNCH 1967 qui định - nắm trong tay vị trí quyền lực cao nhất nước trên cã Đại Tướng. Khi tên chính ủy Bùi Văn Tùng khoe khoang là đã ép được DVM đọc bản tuyên bố cuối cùng trên Đài PT-SG, cho thấy trình độ hiểu biết giới hạn và  kém cỏi về luật pháp của một nước dân chủ tự do nơi tên Trung Tá chính ủy dép râu nón cối, của cái gọi là phe thắng cuộc trước sự thẹn thùng của ông đại tướng tiếm quyền và vi hiến Dương văn Minh.

Một điều mà các Hậu Duệ VNCH chúng ta cũng cần biết đến,  Tổng thống đương nhiệm lúc đó, là cụ Trần Văn Hương, không có cái quyền để trao lại quyền lực và chức vụ tổng thống cho Dương văn Minh.  Hiến Pháp VNCH có ghi " nếu trong trường hợp không có Tổng Thống và Phó Tổng Thống để lãnh đạo đất nước , thì chủ tịch thượng viện lúc đó là ông Trần văn Lắm, chủ tịch Thượng Viện (1973 đến 30.4.1975) sẽ tạm thời đãm nhiệm việc lèo lái con thuyền quốc gia trong thời gian chờ bầu cử một lãnh đạo mới, chứ không phải là tên hám danh Dương văn Minh.
Lợi dụng tình hình bất ổn về chính trị trong những ngày cuối tháng tư 1975 của VNCH,  Dương Văn Minh nằng nặc đòi cụ Hương trao quyền tổng thống Việt Nam Cộng Hòa cho y, lúc đó mọi người đã nhìn thấy rõ bản chất  háo danh và nhất là cái đần độn của y. Y nằng nặc đòi được làm tổng thống, rồi ôm toàn bộ quyền lực hảo để đi đầu hàng vc. Nhưng thực tế y vì không am tường hết các điều khoản đã ghi trong hiến pháp 1967 của VNCH, để rồi trở thành một tên tội đồ của quân, dân, cán chính VNCH, y ôm ấp giấc mộng được trọng dụng vì có công trạng đã dâng miền nam cho cs Bắc Việt.

Trích điều 56 Hến Pháp nước VNCH 1967:
ĐIỀU 56
1- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước hạn kỳ trong những trường hợp :
a- Mệnh chung.
b- Từ chức.
c- Bị truất quyền.
d- Bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc Hội xác nhận với đa sốba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
2- Trong trường hợp nhiệm vụ của Tổng Thống chấm dứt trên một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ tạm thời đảm nhiệm chức vụTổng Thống trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống cho nhiệm kỳ mới.
3- Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng Thống chấm dứt dưới một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống đến hết nhiệm kỳ, ngoại trừ trường hợp Tổng Thống bị truất quyền.
4- Nếu vì một lý do gì Phó Tổng Thống không thể đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện sẽ đảm nhiệm chức vụ này trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống.

TÓM LẠI:

Bọn cướp ngày cộng sản Bắc Việt đã tiếp nhận quyền lực ở miền nam từ trong tay tên cướp cạn Dương Văn Minh, chứ không phải tiếp nhận từ chính quyền hợp pháp VNCH. Thế nên, nói VNCH đã đầu hàng VC là chuyện đánh tráo lịch sử của hai tên cướp, một bên là cộng sản Bắc Việt và bên kia là tên cướp cạn Dương văn Minh. VNCH không có cử một đại diện hợp pháp nào để gọi là đầu hàng cs Bắc Việt, đó mới là chính sử. Chuyện Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, đó là cá nhân của Dương văn Minh và đám thổ tả thành phần thứ ba, không đại diện cho người dân miền nam và chính quyền chính danh VNCH.

VNCH chưa bao giờ đầu hàng cộng sản Bắc Việt, mà chỉ có mọi người đã lầm về vị trí của Dương văn Minh trong tình trạng vô chính phủ của 2 ngày cuối cùng tháng tư 1975. VNCH vẩn còn tồn tại cho tới hôm nay, sau này với sự góp mặt của hàng ngũ hậu duệ  trong các vị trí từ quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao....trong việc xây dựng một quốc gia Dân Chủ, Hạnh Phúc, Phú Cường.

Hậu duệ ngày hôm nay mang đầy đũ tính truyền thống của các Ông, Cha, Anh  đã từng có mặt trong cơ chế VNCH trước 1975 - sẽ chung sức với toàn dân để VN có được Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do và Dân Sinh hạnh Phúc.

Biên khảo Hậu duệ VNCH Lý Bích Thủy 21.4.2019