Powered By Blogger
 ĐẠO LÀM TƯỚNG NƠI 
THIẾU TƯỚNG LÊ MINH ĐẢO

Viết để vinh danh tướng Lê Minh Đảo, một chỉ huy giỏi, một tướng quân trung thành tuyệt đối với Tổ quốc VNCH - Được thể hiện qua nguyện vọng của ông:

*Kiếp sau, tôi vẫn muốn làm người lính VNCH 
*Sau này, khi tôi mất, tôi sẽ phù hộ cho VNCH


Ông trước sau như một , sống trọn vẹn với quốc tịch VNCH, thật xứng là một quân nhân ưu tú của QL.VNCH, được toàn thể con dân nước VNCH kính trọng tuyệt đối: Với lý tưởng "Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm " ông đã làm rạng danh hàng ngũ QL.VNCH. Hôm nay Hậu duệ VNCH xin được trình bày một số nét về đạo làm tướng của ông. Trước hết, chúng tôi xin được lược qua một vài nét về cái đạo làm tướng của quân đội Đại Việt xưa.

ĐẠO LÀM TƯỚNG TRUYỀN THỐNG XƯA VÀ NAY

Là một tướng chỉ huy phải tròn trách nhiệm với sơn hà,  luôn giử được giữ tác phong đứng đắn của một cấp chỉ huy QL.VNCH,  thi hành chu toàn các trách nhiệm do quân đội giao phó trong việc bảo quốc an dân. Biết bảo vệ tính mạng của thuộc cấp, biết bảo vệ tài sản và mạng sống của đồng mình trước lằn đạn của quân thù. 

Ngoài ra còn phải trung thành tuyệt đối với tổ quốc, luôn đặt tổ quốc lên trên quyền lợi của cá nhân, tôn trọng hiến pháp, tuân thủ kỷ luật thép của quân đội, thương yêu thuộc cấp như anh em trong tinh thần "huynh đệ chi binh", một tình thương yêu truyền thống từ cấp thấp nhất tới cấp cao nhất trong QL.VNCH.

Đạo làm tướng là phải biết nếm khổ, vui sau cái vui của thuộc cấp đúng theo truyền thống nhân bản của quân đội Đại Việt, từng bách chiến bắch thắng với quân Đại Hán ln quân Nguyên Mông trong nhiều trận chiến long trời lỡ đất vào thế kỷ từ 10 tới 13. Đó chính là những cách ứng xử cần có của một cấp chỉ huy: "nắng không che lọng, trời lạnh không mặc áo cầu dầy, gặp chỗ đường khó thì xuống đi chưn; giếng nước trong quân đào xong, tướng mới được uống nước; cơm của lính nấu chín rồi, tướng mới được ăn; lũy trong quân xây xong rồi tướng mới được nghỉ; khi cực nhọc hoặc khi nhàn hạ, tướng phải cùng sống với quân lính" - như thế  mới là kế sách dùng binh lâu ngày để làm tăng thêm sức mạnh và tình đoàn kết keo sơn của quân đội.

Một mãnh tướng thì không cần biết quân đội nhiều hay ít, không cần biết địch mạnh hay yếu, ba quân đều tuân lệnh răm rắp, quân có thể biến hóa hàng muôn ngàn cách khác nhau theo ngón tay chỉ huy, ra quân bất ngờ, cử động thần diệu, một ngựa một kiếm có thể xung phong đi trước, khiến quân địch không kịp xoay trở, phải sợ mà tránh xa, đó là những mãnh tướng như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ...

Đạo làm tướng truyền thống của quân đội Đại Việt ngày xưa và QL.VNCH ngày nay trên căn bản, không khác nhau bao nhiêu về đạo đức và phong cách lãnh đạo, sẳn sàng trung thành với lý tưởng QG, họ luôn nêu cao lý tưởng: Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm. Các đức tính trong đạo làm tướng của ngày xưa, người ta đều tìm thấy được nơi tướng của Lê Minh Đảo 

TƯỚNG LÊ MINH ĐẢO VỚI TINH THẦN " PHỤ TỬ CHI BINH"

Tháng 8 năm 1300 trước khi lâm chung, Hưng Đạo Vương đã từng khuyên vua  Anh Tông về chiến lược tăng cường nội lực cho quân đội Đại Việt là; "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước dồn sức lại thì chúng (giặc) đành phải chịu trói… Nếu thấy quân giặc đến ồ ạt như lửa to gió táp thì đó là tình thế dễ chế ngự… Phải gây dựng một đội quân cha con rồi có thể sử dụng được. Vả lại, nên dưỡng sức dân để làm kế gốc sâu rễ bền, đó là thượng sách giữ nước vậy" (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - 397).
Gây dựng một đội quân cha con, đó là mục đích mà Phạm Ngũ Lão (1255 - 1320), và ông đã từng thực hiện được điều này. Ông sống rất bình dị, đối xử với quân sĩ như người thân, đồng cam cộng khổ, người bấy giờ gọi đoàn quân của ông là "Phụ tử chi binh" (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - 562). "Phụ tử chi binh" chính là "Huynh đệ chi binh " trong QL.VNCH trước năm 1975.


Tướng Lê Minh Đảo là hậu duệ của Trần Hưng Đạo, Quang Trung, những người đang kế thừa những di huấn , sách lược cứu nước và xây dựng một đạo quân hết lòng vì nước nên hành trang của các danh tướng VNCH đều thể hiện được phong cách "Huynh đệ chi binh" tướng là lính và luôn có tinh thần hoà hợp với lính. Đây chính là phong cách của những người lãnh đạo quân đội Đại Việt trước đây, còn gọi là là sách lược "Phụ Tử Chi Binh", một sách lược đã từng làm giặc Nguyên Mông tan tác 3 lần trước quân dân thời nhà Trần. " Phụ tử Chi Binh" là " Huynh Đệ Chi Binh" ngày nay.



TƯỚNG LÊ MINH ĐẢO VỚI NGƯỜI LÍNH TỬ TRẬN

Trường hợp sĩ quan tử trận ông gửi thư phân ưu đích danh ký tên đến cha mẹ, vợ hoặc thân nhân gần nhất của anh em quá cố, với lời lẽ tha thiết, cảm động người đọc, an ủi phần nào sự mất mát của gia đình. Ông còn cử một sĩ quan cấp Tá, ít nhất là Trung tá (nếu sĩ quan tử trận cấp Úy) đến tận nhà phân ưu với gia đình và truy tặng Anh dũng Bội tinh, gắn lên di quan anh em quá cố. Nếu gia đình đơn chiếc, ông xuất quỹ Hậu phương yểm trợ tiền tuyến cấp cho gia đình một số tiền tương đối lớn, trang trải chi phí an táng.  Với binh lính ông cũng cư xử gần giống như cấp sĩ quan: http://www.sudoan18bobinh.com/phanngoctrung/4516877615
Trong những ngày dưỡng quân, thỉnh thoảng ông cho tổ chức khiêu vũ tại Câu lạc bộ đơn vị, mời tất cả sĩ quan SĐ đồn trú quanh vùng đến tham dự. Ông thường nói làm việc ra làm việc, chơi ra chơi. Người chiến sĩ phải vừa là lính mà cũng vừa là nghệ sĩ. Xem tính nghệ sĩ của tướng Lê Minh Đảo trong clip video kèm theo đây:https://www.youtube.com/watch?v=jrYKi9FmERE

Như trên đã trình bày một số nét chính về  đạo làm tướng của Thiếu tướng Lê Minh Đảo lúc nào ông luôn quan tâm với thuộc cấp, các sĩ quan trong sư đoàn 18 được ông quí trọng tuyệt đối lúc còn chiến đấu cũng như lúc bị thương hay khi tử trận. Ấy là chưa nói đến việc ông luôn luôn rộng rãi thăng thưởng công minh ngoài mặt trận, về vấn đề đặc cách cũng như thường niên và không ngần ngại giúp đỡ sĩ quan, binh lính các cấp trong sư đoàn 18.


TƯỚNG LÊ MINH ĐẢO VỚI CÁC THƯƠNG BINH



Không những lo lắng quyền lợi binh sĩ, ông còn chăm lo sức khỏe từng anh em. Có lần ông đến Tổng Y Viện Cộng hòa thăm thương bệnh binh và tặng quà ủy lạo. Khi gặp các thương phế binh, ông dừng lại hỏi thăm. Có lần, một thương phế binh SĐ18BB than phiền chiếc xe lăn mình đang xử dụng xấu và nặng, nên khi di chuyễn bị khó khăn, anh này tỏ ý muốn có một chiếc xe mới tốt hơn, đẹp hơn và nhẹ hơn. Một anh thương phế binh SĐ khác có chiếc xe lăn của Đức muốn bán, và anh này đồng ý bán cho tướng Lê Minh Đảo, để anh mua xe lăn khác tốt hơn chiếc xe anh đang xài. Nghe thế, tướng Lê Minh Đảo liền móc bóp lấy tiền ra mua lại xe lăn để tặng cho anh TPB Sư Đoàn 18 của ông, trước sự chứng kiến của gần 30 thương phế binh.

Anh thương phế binh SĐ18 ngồi trên chiếc xe lăn, nghiêm người chào ông, lắp bắp lời cảm ơn mà nước mắt tuôn trào. Ông bắt tay an ủi, chúc anh mau xuất viện rồi tiếp tục thăm các thương binh khác. Cử chỉ của ông gây tiếng lành vang xa trong cũng như ngoài SĐ. 
Sau khi đến nhận chức Tư lệnh Sư đoàn không bao lâu, ông ra lệnh Khối Chiến Tranh Chính Trị CTCT in hàng ngàn giấy tờ ghi rõ quyền lợi binh sĩ và hạ sĩ quan, rồi chỉ thị các đơn vị phân phát cho từng binh sĩ, không sót một ai. Đồng thời ông ra lệnh Khối CTCT các cấp tổ chức học tập, giúp binh sĩ nắm vững quyền lợi mà đòi hỏi. Ông nhấn mạnh bằng một chỉ thị đặc biệt, với nội dung đơn vị nào không thi hành đúng sẽ bị khiển trách nặng. Nếu Đoàn Thanh tra Sư đoàn hoặc cá nhân ông đến thăm đơn vị, bất chợt hỏi một binh sĩ nào đó đã được học tập và nhận giấy tờ không, nếu thiếu sót thì các đơn vị trưởng liên hệ sẽ bị phạt nặng.
Từ khi nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 18, ông được lệnh đưa Sư đoàn vào An Lộc thay thế Sư đoàn 5 Bộ binh  và Với sự tăng cường của Liên đoàn 5 Biệt động quân, Sư đoàn 18 trở thành đơn vị phòng thủ chính tại phía Bắc Sài Gòn. Ông nhiều lần chỉ huy Sư đoàn, liên tục hành quân giải tỏa trục đường 13, làm giảm áp lực bao vây của cộng quân vây quanh An Lộc. Với thành tích này nên nhân ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp Chuẩn tướng khi mới 39 tuổi.

Theo lời kể của đại úy Phạm Hữu Đa, Khóa 25 VBĐL, tùy viên của Tướng Lê Minh Đảo, thì Sư Đoàn 18 BB đã đánh những trận nổi tiếng như: Võ Xu(1966), Suối Long(1967), Túc Trưng, La Ngà(1969), cùng với các đơn vị bạn đã truy đuổi và tiêu diệt cơ quan đầu não của địch (Cục R) trên đất Combodia, tham dự chiến trường An Lộc, và chiến thắng lớn nhất là trận Xuân Lộc, khi cả tuyến phòng thủ của đơn vị này chặn đánh quyết liệt quân Cộng Sản Bắc Việt vào những ngày cuối cùng cuộc chiến, Tháng Tư năm 1975. So với một số tướng lãnh VNCH khác đã tháo chạy từ những ngày trước đó, Tướng Lê Minh Đảo đã được dân chúng ngưỡng mộ và ca ngợi tinh thần dấn thân vì nước của ông. Thiếu tướng Lê Minh Đảo có đủ điều kiện bỏ Sư Đoàn 18 sang Mỹ, nhưng ông không đi, ở lại quyết chiến với cộng quan cùng với thuộc cấp, để rồi sau đó phải gánh chịu những trù dập của kẻ thù vì ông đã làm chậm bước chân của đoàn quân cướp nước khi tiến về Sài Gòn - để trả thù chúng đã nhốt ông 17 năm tù trong các trại cải tạo từ bắc tới nam với cái tội là "Tư Lệnh Sư Đoàn 18". Ông là vị tướng cuối cùng rời khỏi trại cải tạo cộng sản.

Ngày cuối cùng của VNCH, vào chiều 29 tháng 4, 1975, ông vẩn còn họp tại Bộ Tư lệnh Sư đoàn đóng ở Long Bình, cùng bộ tham mưu bàn kế hoạch đưa SĐ về án ngữ phía Nam sông Sài Gòn bảo vệ thủ đô. Ngày hôm ấy chiếc trực thăng C&C của ông đậu tại BTL/SĐ với đầy đủ xăng nhớt và phi công cũng có mặt sẵn sàng để ông có thể bay ra Hạm đội 7. Nhưng ông nhất quyết không bỏ đơn vị chạy trốn như một số các tướng lãnh khác và sau đó bị cộng quân trù dập hơn 17 năm trường khổ ải.

LỜI KẾT:

Nơi tướng quân Lê Minh Đảo người ta tìm thấy tất cả đức tính nhân
bản truyền thống của một tướng quân trong quân đội Đại Việt ngày xưa - đạo làm tướng của ông chỉ thấy nơi  quân đội VNCH. Quân đội gọi là nhân dân không bao giờ có được những vị tướng gương mẫu - tướng cộng sản ngày nay còn tệ bạc hơn nửa, trong hạng chóp bu về tham nhũng thì không thiếu sự có mặt của các cấp chỉ huy từ đại tướng, trung tướng, thiếu tướng. Phùng Quan Thanh, một đại tưướng thuộc hàng tham những gộc, Ngô Xuân Lịch một tướng quân không biết trận mạc cũng như không hề biết đọc  bản đồ quân sự, còn các tướng CA thì đi bảo kê các đường dây buôn lậu, đánh bạc xuyên quốc gia trên mạng Internet....

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thi coi sinh mạng quân sĩ như là vật thí để bước lên con đường thăng quan tiến chức, ông là một tướng vô học về quân sự, lên tướng không qua một cấp bậc nào trong quân đội. Cách thăng tướng của QĐND giống như trong hàng ngũ của đạo tặc giang hồ, ông Giáp nổi tiếng với biệt tài là nướng quân.

Tướng phi nhân, như Lê Đức Anh, từng ra lệnh cho các chiến sĩ giử đảo Gạc Ma năm 1988, lấy thân mình làm bia cho Tàu cộng bắn, không được bắn trả để dâng đảo  Gạc Ma (Trường Sa) cho giặc Tàu. Tướng QĐND còn là những tướng hèn, không có khả năng bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và sinh mạng ngư dân ngoài biển. khi giặc Tàu xâm chiếm biển đảo VN thì lo bám bờ, xua ngư dân ra bám biển. Tướng QĐND phần lớn là hèn với giặc ác với dân.

Những cấp chỉ huy QĐND, năm này qua năm nọ, luôn đề cao giặc và tri ân giặc đả giúp súng đạn và nhân lực để thành công trong việc cướp miền nam. Đó cũng là nguyên nhân VN đã mất đi Hoàng Sa Trường Sa, núi Lão Sơn, 11.000 km2 trong Vịnh Bắc Bộ, Ải Nam Quan, 1/2 thác Bản Giốc, hang Pắc Bó nơi chúa vượn đỏ ra đời để tàn phá đất nước trong nhiều thập niên qua.

Hàng trang của QL.VNCH là hành trang "Nhân bản" giới hạn dùng vũ lực để cảm hoá địch quân, "lấy chí nhân thay cường bạo" từng thành công trong việc đem 200.000 quân cộng sản quay về với chính nghĩa quốc gia trong chiến dịch " Chiêu Hồi", góp phần không nh trong việc cứu lấy sinh mạng của thế lực thù địch với VNCH, cũng như đã từng cứu hàng trăm ngàm thương binh cộng sản đã bị cấp chỉ huy của họ bỏ lại, sau những lần phá hoại trong vùng trách nhiệm của VNCH trong suốt 20 năm xâm lăng miền nam VN.
Biên khảo từ Hậu Duệ VNCH
 Lê Kim Anh 22.03.2020
NHÀ NƯỚC "VÌ DÂN" TIẾP TỤC TÌM ĐŨ 
 BIỆN PHÁP HÚT MÁU DÂN TRONG THỜI DỊCH BỆNH


Trong lúc tình hình dịch cúm Vũ Hán ( Covid 19) đang bùng phát dử dội trên khắp thế giới, chưa có dấu hiệu thuyên giãm, thì tại VN những lãnh đạo Pắc Bó đã đề những biện pháp để móc túi dân và tiếp tục nhập Virus Vũ Hán vào VN thêm.

Tính đến ngày 19/3/2020 tình trạng dịch cúm Vũ Hán (Covid 19) được ghi nhận
ở VN là 76 trường hợp mắc tại 13/63 tỉnh, thành phố, trong đó 16/76 trường hợp đã được điều trị khỏi và ra viện. Tổng số mẫu đã xét nghiệm cộng dồn: 15.009 (số mẫu dương tính: 80, số mẫu âm tính: 14.929, số mẫu chờ kết quả: 307). Đây là con số chính được tà quyền csVN công bố với thế giới, bắt chước đàn anh TQ nên con số bi tà quyền ếm bt rất nhiều.

Số trường hợp mắc ghi nhận tại Trung Quốc là 80.905 tại 31/31 tỉnh, thành phố, chiếm 40,7% tổng số trường hợp mắc trên toàn thế giới. Số trường hợp mắc ghi nhận tại Trung Quốc là 80.930 tại 31/31 tỉnh, thành phố, chiếm 36,6% tổng số trường hợp mắc trên toàn thế giới. 

Số mắc bệnh tại các quốc gia khác là 139.909 trường hợp mắc, trong đó các nước có số mắc cao là Italia: 35.713, Iran: 17.361, Tây Ban Nha: 14.769, Đức: 12.824, Mỹ: 9.464, Pháp: 9.134, Hàn Quốc: 8.565. Nguồn:https://afamily.vn/cap-nhat-tinh-hinh-dich-covid-19-tai-viet-nam-va-the-gioi-den-ngay-19-3-20200319190037419.chn

Giửa lúc tình hình dịch bệnh đang lên cao, người dân VN đang lo lắng và vất vả để đối phó, lợi dụng tình hình này, đám súc vật lãnh đạo Bộ Công Thương đã nâng giá điện và làm bảnh giá biểu mới để hút máu người dân. Đảng là thứ gian thương vô lương tâm nhất trong việc độc quyền phân phối điện. Năm nào cũng cũng tăng, nhiều năm tăng 2 lần để bọn tham quan cấu xé đưa vào túi riêng, đưa đến vấn đề báo lỗ, rồi tăng giá điện để bù lỗ không cần biết đến sự sinh hoạt khó khăn của người dân ra sao? Khi đám súc vật này cần là cứ tăng một cách vô tội vạ.


Đám súc vật lãnh đạo Bộ Công Thương lấy lý do là giá điện các nước khác cao hơn nước ta. Cái khốn kiếp và gian xảo của chúng, không lấy bình quân thu nhập đầu của các nước trên để làm so sánh, thí dụ: Bình quân thu nhập đầu người của Mỹ: 62.518 USD (hạng 11), Hàn Quốc: 31,430 USD (hạng 27), Thái Lan: 6.265 USD, còn CHXHCNVN bình quân đầu chỉ có: 2.750 USD (hạng 129). Mà chúng cứ bla..bla các nước trong khu vực có giá điện cao hơn VN gấp 1,65 tới hơn VN (?!), nên chúng phải tăng giá cho bằng. Trước khi tăng giá điện chúng cho các tên tiến sĩ , thạc sĩ súc vật, làm gia nô, lên tiếng hùa theo hát nhạc xẩm với chúng.

Dưới đây là cách so sánh của đám súc vật Bộ CT về các số liêu về giá điện sinh hoạt các nước Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan cho thấy tỉ lệ giá điện sinh hoạt ở bậc cao nhất so với bậc thấp nhất khoảng từ 1,65 - 3 lần. 

Vì vậy, Bộ độc quyền Hút máu (Công thương) kiến nghị vẫn tiếp tục áp dụng giá bán lẻ điện theo các bậc với giá điện tăng dần với cải tiến về khoảng cách giữa các bậc và giá điện cho từng bậc phù hợp với thực tiễn sử dụng điện của người dân (?!).



Theo đó, Bộ Hút máu đưa ra bốn phương án gồm: phương án 1 điện đồng giá, bằng với mức giá điện bình quân hiện hành cho sinh hoạt là 1.897 đồng/kWh; phương án 2 gồm ba bậc trong đó giá điện bậc 1 từ 0 - 100 kWh, bậc 2 từ 101 - 400 kWh, bậc 3 từ 401 kWh trở lên; phương án 3 gồm 4 bậc với giá điện bậc 1 từ 0 - 100 kWh, bậc 2 từ 101 - 300 kWh, bậc 3 từ 301 - 600 kWh, bậc 4 từ 601 kWh trở lên.

Riêng phương án 4 gồm 5 bậc, nhưng có hai kịch bản. Thứ nhất là giá điện bậc 1 (0 - 100 kWh) giữ như mức giá bậc 1 theo biểu giá hiện hành, bậc 2 từ 101 - 200 kWh, bậc 3 từ 201 - 400 kWh, bậc 4 từ 401 - 700 kWh, bậc 5 từ 701 kWh trở lên. 

Với kịch bản thứ 2, giá bán lẻ điện bình quân cho sinh hoạt không đổi nhưng gộp bậc 1 và bậc 2 với giá điện giữ nguyên theo bậc 1 nhằm đảm bảo ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ chính sách xã hội không thay đổi; phần doanh thu thiếu được bù vào bậc trên 700 kWh; giá điện của bậc 201 - 400 kWh được gộp theo giá bình quân của bậc 4 (201 - 300 kWh) và bậc 5 (301 - 400 kWh) của giá điện cũ. Xem:https://tuoitre.vn/bieu-gia-dien-con-5-bac-tien-dien-co-tang-20200228233139405.htm.

Cách giải thích lòng vòng và bất cập của Bộ hút máu dân để đi đến mục đích cuối cùng là tăng giá điện, nhằm thoả mản nhu cầu bù lỗ vì đám quan tham chưa hút đũ máu dân chúng chưa đã thèm. Đám súc vật Bộ CT là đám  phá hoại NSNN kinh khũng nhất. Một bầy sâu lớn ngang với bầy sâu của Bộ Quốc Phòng.

Không như CHXHCNVN ở các nước văn minh và dân chủ, tỉ lệ tham nhũng rất thấp như Mỹ, lãnh đạo đất nước này đã có những biện phát chống dịch Vũ Hán( Covid 19) rất nhân đạo, M thật sự có một nhà nước vì dân, và họ hổ trợ dân bằng cách:
1/ mỗi đầu người lợi tức thấp được hỗ trợ $1,000 và cắt giảm thuế cho người dân Mỹ
2/Nhà nước sẽ dùng $300 triệu mỹ kim của ngân quỹ để bù đắp thiệt hại cho các nhà kinh doanh nhỏ trong lúc cách ly.
3/ tiền nhà , điện, nước, gas sẽ không phải trả cho tới khi cuộc sống trở lại bình thường
4/ tiền phone , Internet, thuế sẽ không phải trả cho đến cuối tháng 7, có thể sẽ nới lâu hơn nếu cần.
5/ Điện , gas, nước sẽ không cắt cho dù không trả tiền.


Nhìn nước Mỹ , một nước mà xưa, đảng dốc lòng đánh cho cút khỏi VN thì nay đám súc vật lãnh đạo lại cho 60.000 con cái của chúng sang Mỹ để học, lạy lục Mỹ để làm lá chắn TQ trên biển đông. Mổi khi có chuyện ngửa tay xin đô la của Mỹ. 

Khi chưa ngửi thấy mùi đô la, thi chúng nhốt Covid 19 xuống tàu lặn Kilo, rồi công bố với thế giới là hết dịch bệnh, nhưng khi nghe mùi đô la từ Mỹ sẽ giúp cho các nước bị dịch cúm Vũ Hán hoành hành, thì ngay lập tức chúng cho táu Kilo nổi lên và lùa Covid 19 ra trận, để cảm động thế giới. Đám súc vật diển hài làm Mỹ cảm động, viện trợ ngay cho 37 triêu USD. Thật là một đám lãnh đạo thô bĩ nhất hành tinh!! Ngoài việc đóng kịch để nhận viện trợ Mỹ chống dịch, tăng giá điện, mặt khác chúng còn phát động chiến dịch móc túi, hút máu nhân dân qua bàn tay của Mặt Trận Tổ Quốc

ĐẢNG CHỊ THI CHO MẶT TRẬN TỔ CHỨC HÚT MÁU DÂN

Để hút máu dân trong mùa dịch bệnh, đảng đã giao cho Mặt Trận Tổ Quốc , một cơ sở ngoại vi củ đảng để hút máu dân bằng cách tổ chức lễ phát động nhắn tin “Toàn dân ủng hộ, phòng, chống dịch bệnh Covid-19” đã diễn ra tại Hà Nội vào chiều nay 19/3, được nguỵ danh dưới dạng "Cổng Thông tin điện tử nhân đạo Quốc gia 1400 - đầu số 1407". Một hình thức quyên tiền qua hình thức nhắc tin vào điện thoại của những người xử dụng mạng của VN. Đảng đã huy động các bộ phận tham gia như: Bộ TT&TT phối hợp cùng Bộ Y tế, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức đợt vận động nhắn tin ủng hộ, đóng góp “Toàn dân ủng hộ phòng, chống dịch bệnh Covid-19” thông qua Cổng Thông tin điện tử nhân đạo Quốc gia 1400 - đầu số 1407.

Thời gian tiếp nhận tin nhắn ủng hộ sẽ bắt đầu từ 0h00 ngày 19/3/2020 đến 24 giờ ngày 18/6/2020. Mỗi thuê bao có thể ủng hộ tối thiểu 20.000 đồng và tối đa là 2 triệu đồng.


Trong quãng thời gian, các thuê bao di động sẽ nhận được tin nhắn "BO TTTT, BO Y TE, UBTW MTTQVN, HOI CHU THAP ĐO VN vận động đóng góp ủng hộ phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Quý vị ủng hộ, hãy soạn: CV n gửi 1407 (Trong đó, n là số lần ủng hộ 20.000 đồng). Mỗi tin nhắn Quý vị đóng góp 20.000 đồng nhân n lần (trong đó n giới hạn từ 1 đến 100). Điện thoại hỗ trợ: 19001530. Website:1400.vn. Trân trọng cảm ơn".

Sau khi thực hiện ủng hộ, thuê bao sẽ nhận được tin nhắn cảm ơn với nội dung: “Cảm ơn Quý vị đã ủng hộ số tiền là “20.000 đồng nhân n lần” để phòng, chống dịch bệnh COVID-19”.

Số tiền tiếp nhận đóng góp của đợt vận động chuyển về Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để quản lý, sử dụng theo quyết định của Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid-19.

Các doanh nghiệp viễn thông thực hiện nhắn tin đồng loạt tới các thuê bao di động vào đúng thời điểm diễn ra lễ phát động 16h30 phút nhằm thông báo cho cho người dùng.

Trước đó, với truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của dân tộc (?!), ngay sau lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức cá nhân đã phát huy trách nhiệm của mình cùng chung tay ủng hộ phòng, chống dịch Covid -19, sau 3 ngày kể từ khi chính thức phát động đến ngày 19/3/2020, tổng số tiền ủng hộ và đăng ký ủng hộ phòng, chống dịch Covid-19 đã lên tới trên 282 tỷ đồng. Nguồn:

Lễ phát động nhắn tin “Toàn dân ủng hộ, phòng, chống dịch bệnh Covid-19” đã diễn ra tại Hà Nội vào chiều nay 19/3. Bộ TT&TT phối hợp cùng Bộ Y tế, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức đợt vận động nhắn tin ủng hộ, đóng góp “Toàn dân ủng hộ phòng, chống dịch bệnh Covid-19” thông qua Cổng Thông tin điện tử nhân đạo Quốc gia 1400 - đầu số 1407.

Thời gian tiếp nhận tin nhắn ủng hộ sẽ bắt đầu từ 0h00 ngày 19/3/2020 đến 24 giờ ngày 18/6/2020. Mỗi thuê bao có thể ủng hộ tối thiểu 20.000 đồng và tối đa là 2 triệu đồng.                      

TÓM LẠI: 

Nhà nước CHXHCNVN là một nhà nước khoát trên người cái áo "vì dân" nhưng là một thứ vừa hèn với giặc Tàu, vừa ác với dân thêm vào bộ mặt thô bỉ không có nhà nước nào trên trên thế giới có thể so sánh, ngoài trừ thằng anh TQ. Một nhà nước, lúc nào cũng tìm hết cách này hay cách khác trấn áp và hút máu dân trong suốt chiều dài 7 thập niên qua.

Trong lúc dịch bệnh hoành hành, thế giới - gần như nơi nào cũng đóng cửa biên giới, thì CHXHCNVN xả cảng để nhập Vũ Hán vào, rồi năn nỉ dân hổ trợ, đoàn kết chống Vũ Hán (?!). Dân có nhập Vũ Hán vào VN đâu? sao đảng không kêu đám súc vật trong đảng hổ trợ mà lại kêu dân? Có logic không? Dân giúp cho đảng xong - nay mai hết dịch , bầy súc vật  của đảng lại ôm súng đi trấn áp dân oan  tiếp tục, cái vòng lẩn quẩn này đến bao giờ mới hết?


Dứt khoát không thể hổ trợ đám súc vật đang lãnh đạo đảng, dân gian có câu " giúp vật vật trả ơn còn giúp đảng sẽ bị trả oán". Đây là châm ngôn dứt khoát phải nằm lòng. Nên nhớ câu chuyện của bà Cát Hạnh Long là một thí dụ điển hình về cái đảng súc vật csVN. Bà Cát hạnh Long là người nuôi dấu các tên súc vật lãnh đạo đảng csVN, là người có công với đảng trong thời chống Pháp, nhưng khi hết giặc, đảng đem ra xử bắn trước tiên trong vụ CCRĐ.  Dân ta đừng bao giờ quên cái bản chất khốn kiếp này của cái đảng súc vật.

Tham luận chính trị t Hậu Duệ VNCH Võ Thị Linh 20.3.2020
SƯ ĐOÀN 18 BỘ BINH QL.VNCH


Sư Đoàn 18 Bộ Binh đồn trú tại Quân Khu III VNCH, Đồng bằng Cửu Long. Cấp số SĐ18BB gồm 3 Trung đoàn tác chiến: Trung Đoàn 43, 48, & 52. Các đơn vị yểm trợ SĐ18BB gồm: 1 Đại Đội Trinh Sát, 1 Tiểu Đoàn Công Binh Chiến Đấu, 1 Trung đoàn Pháo với 3 Tiểu Đoàn Pháo binh. Sau đây là những huy hiệu được SĐ18BB QLVNCH sử dụng trong suốt cuộc chiến Việt Nam:

Tiền thân của Sư Đoàn 18 là Sư Đoàn 10 Bộ Binh, chính thức được thành lập vào ngày 16.5.1965 tại Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh với cơ cấu được hình thành từ các Trung Đoàn 43, Trung Đoàn 48 và Trung Đoàn 52 Biệt Lập, cùng các đơn vị yểm trợ và tác chiến kỹ thuật. Sau đó, Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh cũng được gia nhập và trở nên thành phần cơ hữu của Sư Đoàn 10 Bộ Binh.

Phù hiệu SĐ10BB là màu xanh nhạt tượng trưng cho bầu trời xanh, có hình núi Chứa Chan màu xanh lá cây với mười (10) ngôi sao màu vàng hình vòng tròn chung quanh ngọn núi, phía dưới có hai lằn tượng trưng cho con sông La Ngà.

Vào ngày 1.1.1967, Sư Đoàn 10 Bộ Binh được cải danh thành Sư Đoàn 18 Bộ Binh, theo lời đề nghị của Chuẩn Tướng Đỗ Kế Giai, đương kim Tư lệnh Sư đoàn.

Phù hiệu SĐ18BB là màu xanh nhạt tượng trưng cho bầu trời xanh, màu xanh đậm tượng trưng cho màu đất, và cung tên dựa vào truyền thuyết "Nõ Thần" thời An Dương Vương trong lịch sử cổ đại của dân tộc Việt: một phát tên bắn ra có thể giết chết hàng vạn tên giặc.

Các huy hiệu được sắp xếp theo thứ tự Trung Đoàn, Tiểu Đoàn, và các huy hiệu các đơn vị yểm trợ.


Trong giai đoạn đầu từ năm 1965 đến năm 1969, Sư Đoàn 18 Bộ Binh chịu trách nhiệm Khu 33 Chiến Thuật, bao gồm những tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Đặc Khu Vũng Tầu.



Lực lượng cơ hữu của Sư Đoàn 18 Bộ Binh gồm có:

- Đại Đội 18 Trinh Sát trực tiếp dưới quyền điều động của Tư lệnh Sư đoàn.

TRUNG ĐOÀN 43:

Trung Đoàn 43 là một trong những đơn vị kỳ cựu của QLVNCH, thoát thai từ Trung Đoàn 404 Bộ Binh của Sư Đoàn 15 Khinh chiến (cải danh từ Sư Đoàn 5 Khinh Chiến vào năm 1955), được thành lập tại Phan Thiết, đã tham dự các chiến dịch tại chiến trường Miền Nam, như dẹp loạn Bình Xuyên của Bảy Viễn, loạn Ba Cụt ở Miền Tây. Trước khi trở thành đơn vị cơ hữu của SĐ10BB (tiền thân của SĐ18BB), Trung Đoàn 43 Biệt lập thuộc Biệt Khu Bình Lâm, bản doanh đóng tại Quận Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Hoạt động hành quân trong lãnh thổ ba tỉnh: Lâm Đồng, Bình Thuận và Bình Tuy.



Các vị sĩ quan ưu tú từng nắm giữ chức vụ chỉ huy Trung Đoàn như Lam Sơn, Võ Văn Cảnh, Quách Đăng, Lý Bá Phẩm, Đàm Văn Quý, Nguyễn Văn Điền, Lâm Quang Chính, Trần Đình Bích, Trần Văn Nhựt, Nguyễn Bá Mạnh Hùng, Hứa Yến Lến, và cuối cùng là Đại Tá Lê Xuân Hiếu.

Hậu cứ của Trung đoàn 43 đóng tại tỉnh Long Khánh.

Năm 1974, Tiểu đoàn 2/43 đã được Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tuyên dương công trạng trước Quân đội.


TRUNG ĐOÀN 48:

Trung Đoàn 48 được đổi danh hiệu từ Trung Đoàn 32/Sư Đoàn 21 Bộ Binh để trở thành Trung Đoàn 48 Bộ Binh Biệt Lập vào ngày 16/03/1963, để cùng hai Trung đoàn 43 và 52 kết hợp thành SĐ10BB vào năm 1965.

Trung đoàn 48 đã hoạt động khắp lãnh thổ Miền Tây và Vùng III chiến thuật. Những địa danh đã đi qua như Thừa Đức, Bình Đại ở Bến tre, Năm Căn, Cái Nước, Biện Nhị, Sông Ông Đốc, Thới Bình, Huyện Sử, U Minh của Cà Mau thuộc Vùng IV Chiến Thuật, tận cùng đất nước của đồng bằng Sông Cửu Long; cho đến những địa danh ở Vùng III Chiến Thuật như: Mã Đà, Rang Rang, Đồng Tình Ra, Suối Chó Chết, Xóm Xình, Xóm Cạn, Bầu Cá Trê, Phú Giáo, Nước Vàng, Ngã Ba Ông Lình, Gióc Bà Nghĩa, Bình Cơ, Bình Mỹ, Xóm Bà Chủ, Khánh Vân, Đồng Xoài, Phước Long thuộc Chiến Khu Đ, mật khu Mây Tào, Mũi Kê Gà, cửa khẩu Bình Châu, Vỏ Xu, Mê Pu, Mật khu Ara Sa Lua, Bình Giả, tái chiếm Quận Đất Đỏ, Xà Bang, mật khu Hắc Dịch, Trảng Táo, Cây Gáo, Trảng Bàng, Đồng Ớt, mật khu Hố Bò, Bời Lời, hành quân vượt biên sang Krek, Mimot, Chúp, Chipu Campuchia... Tái chiếm Đồi Gió, Phi trường Quảng Lợi An Lộc, khai thông Quốc Lộ 13 khu vực Búng ở Lái Thiêu sau khi ngưng bắn đầu năm 1973, khai thông Quốc Lộ 15 ở Suối Cát, Quận Long Thành Tỉnh Biên Hòa, Tam Giác Sắt, tái chiếm An Điền, Căn cứ 82.


Các vị sĩ quan từng nắm giữ chức vụ chỉ huy Trung Đoàn như Trần Ngọc Nguyên, Trần Bá Thành. Đại Tá Trần Bá Thành nắm giữ chức vụ Trung đoàn trưởng cho đến tháng 1 năm 1975 thì được chỉ định đi làm Tỉnh Trưởng Bình Tuy. Vị Trung đoàn trưởng cuối cùng là Trung Tá Trần Minh Công.

Hậu cứ của Trung đoàn 48 đóng tại căn cứ Long Giao (căn cứ Black Horse củ), cách Chi khu Xuân Lộc 8 cây số về hướng Nam.

TRUNG ĐOÀN 52

Trung Đoàn 52 trước khi trở thành đơn vị cơ hữu của SĐ18BB là Trung đoàn 135 Địa Phương, đồn trú tại Sàigòn, hậu cứ Trung đoàn đặt tại Trại Lê Văn Duyệt mãi cho đến ngày tan hàng.

Khoảng năm 1965/66 tại xã Võ Xu-Võ Đắc thuộc tỉnh Bình Tuy, Tiểu đoàn 1/52 đã lập được chiến công rất lớn, đánh tan khoảng 2 Tiểu Đoàn VC, địch chết vài trăm mạng và thu được rất nhiều vũ khí. Trong trận này Tiểu đoàn đã nhận được huy chương của Tổng Thống Mỹ tại sân cờ Bộ Tư Lệnh SĐ18BB năm 1967. Tướng Westmoreland lúc đó là Tư Lệnh Quân Đội Mỹ tại VN đại diện Tổng Thống Mỹ trao tặng huy chương. Năm 1974, Tiểu đoàn 1/52 đã được Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tuyên dương công trạng trước Quân đội với thành tích bắt sống xe tăng địch tại An điền (Bến Cát). Hai chiếc xe tăng địch đã được kéo về trưng bày trong khuôn viên Dinh Độc Lập.


Trong trận đánh cuối cùng vào tháng 4.1975 tại mặt trận Xuân Lộc (Long Khánh), TĐ2/52 đã lập được chiến công tiêu diệt 1 đoàn xe vừa chở quân, vừa chở đồ tiếp tế và hơn 100 xác CSBV bỏ lại tại chiến trường; nhiều vũ khí kể cả đại liên phòng không gắn trên xe bị tịch thu gần Suối Tre. TĐ3/52 cũng vang danh trong trận đánh tại Đồi Móng Ngựa. Trung đoàn 52 có hậu cứ tại Đồi Phượng Vỹ, Núi Chứa Chan (ngã ba Ông Đồn). Vị Trung đoàn trưởng cuối cùng là Đại Tá Ngô Kỳ Dũng.

-Pháo binh của Sư đoàn gồm có Tiểu Đoàn 180 Pháo Binh trang bị các khẩu đội 155 ly, và các Tiểu Đoàn 181, 182, và 183 Pháo Binh trang bị các khẩu đội 105 ly. Các Tiểu đoàn pháo binh có hậu cứ đóng tại Long Bình.

-Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh (Armory Cavalry 5 Regiment) có hậu cứ tại Long Bình gồm các chiến xa M41 và thiết vận xa M113.



Ngoài ra Sư đoàn 18 Bộ Binh còn có các đơn vị chuyên môn yểm trợ gồm có:

- Tiểu đoàn 18 Quân Y
- Tiểu Đoàn 18 Truyền Tin
- Tiểu Đoàn 18 Công Binh (18th Engineer Brigade)
- Tiểu Đoàn 18 Tiếp Vận
- Đại Đội 18 Vận Tải
- Đại Đội 18 Tổng Hành Dinh
- Đại Đội 18 Công Vụ
- Đại Đội 18 Quân Cảnh (18th Military Police Battalion)
- Biệt Đội Quân Báo (thuộc Trung Tâm Quân Báo)
- Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử (thuộc Phòng 7/BTTM)
- Biệt Đội Kỷ Thuật (thuộc Phòng 7/BTTM)

TUYÊN DƯƠNG CÔNG TRẠNG:

Năm 1972, Quân kỳ của Sư Đoàn được tưởng thưởng "một Anh Dũng Bội TInh với Nhành Dương Liễu."
Năm 1974, SĐ18BB đã được tuyên dương là "Đơn Vị Xuất Sắc" của QLVNCH.
Năm 1975, Quân kỳ của Sư Đoàn được tưởng thưởng "Ba Anh Dũng Bội TInh với Nhành Dương Liễu."

Tổng cộng Quân kỳ của Sư Đoàn được tưởng thưởng bốn (4) lần “Anh Dũng Bội TInh với Nhành Dương Liễu" và được vinh dự mang "Giây Biểu Chương màu Quân Công Bội Tinh" (màu xanh).



NHỮNG VỊ TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN:

Sư Đoàn 18 Bộ Binh được lần lượt đặt dưới quyền chỉ huy của những vị Tư Lệnh sau:

1. Đại Tá Nguyễn Văn Mạnh (16/05/1965-10/08/1965) cấp bậc cuối cùng là Trung Tướng. https://linhvnch.wordpress.com/tr-tuong-nguyen-van-manh/
2.Chuẩn Tướng Lữ Lan(10/08/1965-15/09/1966) khi rời Sư đoàn là Thiếu Tướng, cấp bậc cuối cùng là Trung Tướng https://linhvnch.wordpress.com/tr-tuong-lu-lan/
3.Đại Tá Đỗ Kế Giai (15/09/1966-20/08/1969) , khi rời Sư đoàn là Chuẩn Tướng, cấp bậc cuối cùng là Thiếu Tướng. https://linhvnch.wordpress.com/t-t-do-ke-giai/
4.Chuẩn Tướng Lâm Quang Thơ (20/08/1969-04/04/1972) cấp bậc cuối cùng là Thiếu Tướng) https://linhvnch.wordpress.com/t-t-lam-quang-tho/
5.Tư lệnh cuối cùng, Đại Tá Lê Minh Đảo ( 04/04/1972-04/30/1975), cấp bậc cuối cùng là Thiếu Tướng. http://lybichthuy.blogspot.com/2020/03/thieu-tuong-le-minh-tu-lenh-mat-tran.html

Trận đánh cuối cùng của Sư Đoàn 18 BB là trận Xuân Lộc vào tháng 4/1975. Xin mời xem tiếp nơi đường link: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?6481-Thi%E1%BA%BFu-T%C6%B0%E1%BB%9Bng-L%C3%AA-Minh-%C4%90%E1%BA%A3o








Tổng hợp từ Hậu Duệ VNCH Lý Bích Thuỷ 19.03.2020
THIẾU TƯỚNG LÊ MINH ĐẢO 
TƯ LỆNH MẶT TRẬN XUÂN LỘC 4/1975


Tướng Lê Minh Đảo là một danh tướng của VNCH, Ông sinh ngày 5 tháng 3 năm 1933 trong một gia đình có cha là viên chức bình thường tại xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định. Từ nhỏ, ông có tiếng học giỏi, ông đã học tại trường Lycėe Pėtrus Ký, Sài Gòn theo chương trình Pháp. Năm 1952, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II).

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Cuối tháng 9 năm 1953, thi 
hành lệnh động viên, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 53/125.441. Theo học khóa 10 Trần bình Trọng tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1953. Ngày 1 tháng 6 năm 1954, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Do có thành tích học tập tốt (hạng 18/400), ông được giữ lại trường để làm Cán bộ Trung đội trưởng, hướng dẫn khóa sinh của những khóa kế tiếp: khóa 11 Phạm Công Tuân và khóa 12 Cộng Hòa.


Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Cuối năm 1955, khi Quân đội Quốc gia đổi tên thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được chọn đi du học lớp Huấn luyện viên tại Trường Võ bị Lục quân Fort Benning, Tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ. Ông được xem là một học viên toàn diện, có thể tự lái Trực thăng và làm Hoa tiêu phụ bay đêm. Đầu tháng 6 năm 1956, sau khi mãn khóa học về nước, ông được thăng cấp Trung úy tiếp tục làm Cán bộ và Huấn luyện viên của trường Võ bị Liên quân các khóa 13 Thống Nhất, khóa 14 Nhân Vị và khóa 15 Lê Lợi..



Năm 1959, Thiếu tướng Lê Văn Kim được bổ nhiệm giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Đầu năm 1960, ông được thăng cấp Đại úy và chọn làm Sĩ quan Tùy viên cho tướng Kim. Vì vậy, năm 1961 khi tướng Kim được điều về Bộ Tổng tham mưu làm Phụ tá Tư lệnh hành quân, ông cũng được chuyển công tác theo. Sau đó, ông được cử đi du học lớp tác chiến chống du kích trong rừng già tại Malaysia (Tác chiến trong rừng). Sau khi về nước, ông phục vụ tại Khối Nghiên cứu của Bộ Tư lệnh Hành quân. Ngày 2 tháng 11 năm 1962, ông được thăng cấp Thiếu tá và được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng tỉnh Long An thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Xinh.

Khi xảy ra cuộc Đảo chính ngày 1 tháng năm 1963, ông được tướng Lê Văn Kim, bấy giờ đã được thăng Trung tướng, Tổng thư ký kiêm Ủy viên Ngoại giao của Hội đồng Quân nhân Cách mạng, triệu hồi về Sài Gòn để chuẩn bị nhân sự. Tuy nhiên, sau đó không lâu, tướng Nguyễn Khánh đã thực hiện cuộc chỉnh lý để loại bỏ ảnh hưởng của các tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim và Mai Hữu Xuân để lên nắm quyền lãnh đạo. Bị cho là thuộc cấp thân tín của tướng Kim, nên cuối năm 1964, ông phải bàn giao chức vụ Tỉnh trưởng lại cho Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc và chuyển công tác về Phòng 3 (Hành quân) của Quân đoàn IV.

Mãi đến đầu năm 1965, ông mới được bổ nhiệm vào chức vụ chỉ huy, bắt đầu sự thăng tiến trong binh nghiệp. Ban đầu là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 31, Sư đoàn 21 Bộ binh, không lâu sau, ông được thăng chức làm Trung đoàn phó Trung đoàn 31. Đầu năm 1966, ông được điều trở về Bộ Tư lệnh Quân đoàn IV, giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Hành quân.


Tháng 9 năm 1967, ông được  Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Chương Thiện thay thế Trung tá Chương Dzềnh Quay. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1968, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Cuối tháng 2 năm 1969, bàn giao chức vụ Tỉnh trưởng Chương Thiện lại cho Trung tá Nguyễn Văn Ngưu, ông chuyển sang làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Định Tường thay thế Trung tá Huỳnh Ngọc Diệp Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1970, ông được đặc cách tại mặt trận thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Tháng 3 năm 1972,  Đại tá Lê Minh Đảo được điều về làm Tư Lệnh  sư đoàn 18 được hơn 7 tháng, thì sư đoàn 18 đã lột xác và trở thành một trong những sư đoàn giỏi của QL.VNCH. Những ngày làm Tư Lệnh sư đoàn 18, ông sống gần gủi với anh em binh sĩ thuộc cấp trong tình huynh đệ chi binh. Để chăm sóc sức khoẻ tốt cho các chiến sĩ khi bị đau ốm và bị thương, đồng thời sửa sang lại khu gia binh.








Tháng 6 năm 1972, ông được lệnh đưa Sư đoàn vào An Lộc thay thế Sư đoàn 5 Bộ binh. Với sự tăng phái của Liên đoàn 5 Biệt động quân, Sư đoàn 18 trở thành đơn vị phòng thủ chính tại phía Bắc Sài Gòn. Ông nhiều lần chỉ huy Sư đoàn, liên tục hành quân giải tỏa trục đường 13, giải to áp lực bao vây của đối phương vây quanh An Lộc. Do chiến tích lẫy lừng này nên ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được đặc cách tại mặt trân thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm khi mới 39 tuổi.

Với khả năng điều binh tuyệt vời, tướng Lê Minh Đao từng giáng lên đầu các sư đoàn cộng sản, những đòn ác liệt. Tướng Lê Minh Đảo được coi là một trong những tướng lĩnh chỉ huy cấp Sư đoàn có khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa. Ông từng là người hùng của Tư lệnh chiến trường Xuân Lộc, phòng tuyến cuối cùng của Sài Gòn vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975. 



Khi tiếp nhận phòng tuyến này, Tướng Đảo đã trực tiếp đi quan sát địa hình, nơi sư đoàn 18 phụ trách để lập kế hoạch phòng thủ và phản công để đẩy lùi các áp lực đang đè nặng tại đây.

Thứ nhất, ông cho chiếm tất cả các điểm cao xung quanh Xuân Lộc, và đặt các đài quan sát ở đó. Cách bố trí các khẩu pháo của tướng Đảo rất thông minh. Tướng Đảo chỉ để 4 khẩu pháo trong thị xã Xuân Lộc, còn lại, ông cho bố trí pháo trên Núi Thị, và các núi phía Nam. Khi cộng quân tấn công, bị pháo của tướng Đảo bắn vào rất chính xác, gây nhiều thiệt hại nặng nề. Để nghi binh tướng Đảo cho đào 3 hầm trú ẩn tránh pháo kích của cộng quân, ở 3 nơi khác nhau, nếu hầm này bị phá, thì di chuyển sang hầm khác. Nên trong 11 ngày chiến đầu, cộng quân không phát hiện được tướng Đảo ở đâu.



Nhờ vào lực lượng truyền tin giỏi trong việc giải mã các thông tin của cộng quân, nên khi đối phương truyền tin cho nhau, thì phe ta được giải mã kịp thời, nên tướng Đảo luôn luôn biết trước được mọi kế hoạch của đối phương. Trận Xuân Lộc bắt đầu từ ngày mồng 9 tháng 4.

Sáng 27/4 trên QL. 15 Sài Gòn – Vũng Tàu bị cắt đứt và Cộng quân hung hản tiến về Tổng Kho Long Bình. Trong khi đó , các đơn vị của SĐ18BB, SĐ3BB, LĐ1ND, TQLC.. đang tổ chức hệ thống phòng thủ ở phía Đông Sài Gòn và khu vực Bà Rịa. Ngày 24 tháng 4 Tổng thống Hương thăng cấp ông lên Thiếu tướng.



Ngày 28/4, khi quân CSBV đã ào ạt tấn công vào tỉnh Phước Tuy, các đơn vị Nhảy Dù chống trả quyết liệt giữ vững tuyến phòng thủ đến chiều tối cùng ngày, LĐ1ND được lệnh rút về Vũng Tàu trước khi đơn vị Công binh và TQLC bảo vệ cho phá hủy cầu Cỏ May trong đêm 28 rạng ngày 29/4. Cuộc chiến Xuân Lộc chấm dứt vào ngày 29/4 và QL.VNCH tan hàng vào sáng ngày 30.4.1975 khi tướng Dương Văn Minh tuyên bố buông súng ai về nhà nấySau khi nhận được lệnh đầu hàng, ông ra lệnh giải tán đơn vị và tìm cách về Cần Thơ rồi lại quay về Sài Gòn.

Đây là thời điểm bắt đầu cho nổi bất hạnh của toàn thể quân nhân QL.VNCH còn ở lại. Tướng Lê Minh Đảo cùng chung  nổi bất hạnh với các thuộc cấp và đồng đội trước vận nước đổi thay.

Đến ngày 9 tháng 5 năm 1975, ông ra trình diện Chính quyền mới. Tướng Đảo bị bắt đi học tập cải tạo suốt 17 năm liền, trải qua đủ loại nhà tù khác nhau, từ nam ra bắc. Đến năm 1992 thì được thả về nhà ở Sài Gòn, và đến năm 1993, tướng Lê Minh Đảo sang Mỹ đoàn tụ gia đình theo diện HO. Ông là một trong 4 tướng bị tà quyền cộng sản giam giử lâu nhất.

THAM KHẢO:

1.Nguyễn Hữu Chế – TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG
https://vantuyen.net/2015/11/07/nguyen-huu-che-tran-chien-cuoi-cung/
2.Thiếu tướng Lê Minh Đảo,https://linhvnch.wordpress.com/t-t-le-minh-dao/
3. Cuộc chiến đấu cuối cùng ở Xuân Lộc
https://hoiquanphidung.com/showthread.php?6481-Thi%E1%BA%BFu-T%C6%B0%E1%BB%9Bng-L%C3%AA-Minh-%C4%90%E1%BA%A3o
4.Mặt Trận Xuân Lộc tháng Tư 1975 – Mũ Đỏ Trịnh Ân
https://bienxua.wordpress.com/2019/04/11/mat-tran-xuan-loc-thang-tu-1975-mu-do-trinh-an/
5.Thiết Giáp tại mặt trận Tây Bắc Xuân Lộc, tháng 4/1975
http://tsnkt.blogspot.com/2011/01/thiet-giap-tai-mat-tran-tay-bac-xuan.html

Tổng hợp từ Hậu Duệ VNCH Lý Bích Thuỷ 18.3.2020