Powered By Blogger
CHÍNH ĐẢNG
và CHÍNH ĐẢNG CÁCH MẠNG
Chính đảng, Politische Partei ( tiếng Đức), Political party ( tiếng Anh), Parti politique ( tiếng Pháp) là một hiện tượng ở nước ta mới có từ cuối thế kỷ XIX đến nay.Tại VN  trước thế kỷ XIX chưa xuất hiện các chính đảng, mà chỉ có những cuộc đấu tranh chống Pháp, đấu tranh giữa những người yêu nước và quân xâm lược, giữa chính nghĩa và phi nghĩa v.v… như các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ( khởi nghĩa Lam Sơn) hay các cuộc nổi dậy chống phong kiến (khởi nghĩa Tây Sơn) và nhiều sự kiện lịch sử khác song không có vấn đề chính đảng theo ý nghĩa hiện đại của khái niệm này.
Cuối thế kỷ XIX, các phong trào chống ngoại xâm, bảo vệ vương quyền chính thống và chủ quyền độc lập của quốc gia thường được gọi là các “đảng Cần Vương” song đó là các lực lượng kháng chiến vũ trang của các nghĩa sĩ đấu tranh cho một mục tiêu cứu nước song không hình thành các chính đảng, tức là các đảng phái chính trị (thường được gọi là nghĩa hội hay nghĩa đảng).http://saigonecho.com/index.php/lich-su-vn/chien-tranh-vn/cac-nhan-vat/10983-phong-trao-can-vuong
                               
Toàn văn Chiếu Cần Vương.
Bước vào thế kỷ XX, dân tộc ta bước vào thời kỳ đối mặt với thảm họa mất nước vào tay chủ nghĩa thực dân đế quốc câu kết với các thế lực phong kiến phản động trong nước. Từ thân phận những người nô lệ, nhân dân ta phải đoàn kết, đứng lên giành lại độc lập, tự do. Từ thập niên đầu thế kỷ, các phong trào yêu nước cách mạng trên khắp nước lần lượt nổi dậy, nối tiếp nhau, khi hòa bình, khi kịch liệt, như các phong trào Đông Du, Duy Tân/ Minh Tân, Đông kinh Nghĩa thục, phong trào Trung kỳ Kháng thuế, các cuộc khởi nghĩa của Hùm Thiêng  Yên Thế do ông Hoàng Hoa Thám ( Đề Thám) http://hdangbinh2.blogspot.de/2009/07/hum-thieng-yen-anh-hung-dan-toc.html
Chân dung Hoàng Hoa Thám
Hoàng Hoa Thám và các nghĩa quân của ông
Phan Bội Châu (ngồi) và Cường Để (đứng), hai thành viên 
quan trọng của Phong trào Đông Du

Cụ Phan Chu Trinh và Phong Trào Duy Tân đầu thế kỷ XX

 Các âm mưu khôi phục của vua Duy Tân và các nghĩa sĩ Trần Cao Vân, Thái Phiên. Nổi bật lên trong các phong trào yêu nước 25 năm đầu thế kỷ là hai nhà cách mạng yêu nước Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh cùng các chí sĩ ái quốc và dân chủ khác. Tuy nhiên, hai cụ Phan trong hoạt động của mình cũng chưa có ý tưởng thật cụ thể, rõ ràng về việc thành lập các chính đảng. Các cụ chỉ mới thành lập các nghĩa thục, các hội đoàn, chưa có hình dạng một chính đảng. Cụ Phan Bội Châu sau thất bại của phong trào Đông Du đã nghĩ đến thành lập một đảng cách mạng kiểu hiện đại ban đầu là Việt Nam Quang phục Hội, sau dự tính đổi tên là Việt Nam Quốc Dân Đảng.  VNQDĐ đưọc xem là Chính Đảng đầu tiên của VN đã xuất hiện vào ngày 25.12,1927.
                             
Khác với cụ Phan Bội Châu chủ trương quân chủ, bạo động, cụ Phan Châu Trinh chủ trương dân chủ, cải lương , “ỷ Pháp cầu tiến bộ” từ trong nước đến ra nước ngoài, cổ động dân chủ, đánh đổ vua quan, song cho đến năm 1925, từ Pháp về nước, hô hào quốc dân “đối mặt với cường quyền áp chế” song cụ Phan Châu Trinh trước lúc qua đời cũng chưa có ý tưởng và ý định thành lập một chính đảng làm nòng cốt cho phong trào yêu nước, dân chủ.
Chân dung cụ Phan Bội Châu
Một nhà yêu nước trẻ tuổi hơn hai cụ Phan sau đó đã thành lập một Đảng cách mạng tên là Việt Nam Quốc dân Đảng, cùng các đồng chí vận động đấu tranh vũ trang, đánh đuổi thực dân Pháp, VNQDĐ đã tổ chức cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Yên Bái (năm 1930) bị thực dân Pháp trấn áp khốc liệt. Lãnh tụ của Đảng là một sinh viên yêu nước anh hùng Nguyễn Thái Học bị xử tử cùng với các đồng chí trên đoạn đầu đài, để lại một trang sử đấu tranh dành độc lập oanh liệt cho Việt tộc.                     
Ảnh minh hoạ anh hùng Nguyễn Thái Học

ảnh minh hoạ ngày tổng khởi nghĩa của VNQDĐ năm 1930

Tượng đài các anh hùng VNQDĐ tại Yên Báy
Các tổ chính trị của Việt Nam hiện nay mang rất nhiều danh hiệu khác nhau như, Đảng, Hội, Lực Lượng, Đoàn, Chiến đoàn, Tập Đoàn, Liên Đoàn, Liên Minh, Liên Hiệp, Đồng Minh, Khối, Phong Trào..v..v..Ngoài các đảng phái, còn có các hoạt động của các Hội Tương Tế, Hội Ái Hữu Cựu Chiến Binh, Hội Tị Nạn CS...các hội nầy hoạt động trong một phạm vi giới hạn.

Sinh hoạt các chính đảng chỉ có trong một thể chế Dân Chủ Tự Do như thời đệ nhị Cộng Hoà với khoảng 87 chính đảng, và các tổ chức khác lên đến 160, trong đó có những Tổ chức Thân cộng. Thời đệ nhị cộng hoà là một sinh hoạt thật sự Dân Chủ và Tự Do chứ không như chế độ độc đảng của CHXHCNVN và VNDCCH. Tuy là một chính thể thật sự dân chủ nhưng lúc nào củng bị bọn đầu lỉnh Hà Nội rêu rao và bêu xấu và xuyên tạc là nguy quyền. Với một cái nhìn khách quan mà nói, chế độ VNCH từ năm 1967 trở đi là một chế độ Dân Chủ hàng đầu của vùng Đông Nam Á Châu cùng thời. Bài viết chỉ tóm tắt một số nét đại cương về các tổ chức chính trị chớ không ghi nhận được hết toàn bộ sinh hoạt chính trị trong quá khứ và hiện tại, củng như không có đề cập chi tiết đến Đảng CSVN, tức đảng cầm quyền nước CHXHCN.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_sách_tổ_chức_chính_trị_Việt_Nam_tại_hải_ngoại

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO( Nguyễn Trãi)
                                 
Bình Ngô đại cáo trang đầu tiên

.................
Nhân tài thu diệp,
Tuấn kiệt thần tinh.
Bôn tẩu tiền hậu giả ký phạp kỳ nhân,
Mưu mô duy ác giả hựu quả kỳ trợ.
Đặc dĩ cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông;
Cố ư đãi hiền chi xa, thường cấp cấp dĩ hư tả.

Dịch

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.

Tuấn kiệt ngày hôm nay quả thật như sao buổi sớm mai trên bầu trời, không khác gì một chính đảng hay một tổ chức đấu tranh có thực lực để tạo niềm tin cho quần chúng trong việc thắp sáng ngọn lữa trên quê hương. Trước quá nhiều chân giả bất minh trong sinh hoạt cộng đồng Hải Ngoại hiện nay. Người viết xin được ghi lại một vài ý nhỏ về các chính đảng trong quá khứ củng như hiện tại.

CHÍNH ĐẢNG

Theo quan niệm của người xưa, những phần tử yếu nhược thường dựa dẫm vào nhau để hầu tạo nên sức mạnh, tạo nên nghị lực hoặc để thể thoả mãn vấn đề tâm lý nội tại . Đó là cách xoay xở, ứng phó của kẻ tiểu nhân . Trái lại, người quân tử có sẵn bản lĩnh, đủ tài năng nên không cần đến sự dựa dẫm ấy, và câu " Quân tử quần nhi bất đảng" là cách xử sự, là thái độ độ của họ trong các sinh hoạt xã hội . Tuy nhiên, người quân tử vẫn có sự hợp quần nhưng không phải là kết bè kết đảng như kẻ tiểu nhân .

Hợp quần là quy luật tự nhiên, là phương tiện sinh tồn cho cả muôn loài . Sự khác biệt giữa sự hợp quần của kẻ tiểu nhân và người quân tử là, kẻ tiểu nhân kết tụ để thành bè đảng, băng đảng hay tà đảng và mục tiêu của băng đảng hay tà đảng thì luôn luôn đi ngược lại quyền lợi chung của nhân quần - xã hội; còn sự hợp quần của người quân tử thường hướng đến những mục tiêu cao đẹp, như hổ tương nhau để sinh tồn hay đấu tranh cho sự sống còn, cho quyền lợi của Đất Nước và Dân Tộc, thực hiện một lý tưởng cao đẹp mà theo họ sẽ mang lại lợi ích cho xã hội . Tùy theo từng mục đích, từng lãnh vực, từng nghề nghiệp, địa phương...mà có những sự kết hợp tương xứng . Thông thường thì sự kết hợp ấy đều mang danh nghĩa các Hiệp Hội, Hội Đoàn, Cộng Đồng, Tập Đoàn... Trên bình diện chính trị thì sự kết hợp bắt đầu bằng hình thức Phong Trào, Mặt trận, Liên Minh và hình thức cao nhất là CHÍNH ĐẢNG (Political Party) .
Chính đảng là một tập họp có mục đích chính trị, một tập thể cùng theo đuổi, thực thi một lý tưởng, một đường lối, một chủ nghĩa chính trị . Hay nói một cách khác, những thành viên trong cùng một chính đảng đều có chung một tín ngưỡng chính trị .

Ở Việt Nam vào thời Pháp mới xâm lăng, các phong trào Cần Vương, Văn Thân... là những tập hợp có mục đích chính trị nhằm đánh đuổi thực dân Pháp để giành lại vương quyền cho nhà Nguyễn . Nối tiếp là thời kỳ của các hội kín . Hội kín là những tổ chức có mục đích chính trị nhưng chưa có chủ nghĩa, chưa có một hệ thống lý thuyết chính trị rõ ràng . Bắt đầu vào những năm cuối thập niên 20, hình thức chính đảng đã hiện rỏ . Bởi vì, những tập hợp, những tổ chức trong thời kỳ nầy đều phụng sự một chủ thuyết chính trị như: Việt Nam Quốc Dân Đảng với Chủ Nghĩa Tam Dân, Đông Dương Cộng Sản Đảng với Chủ Nghĩa Marx, Đại Việt Quốc Dân Đảng với Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn . Đến thập niên 40 lần lượt xuất hiện Đại Việt Duy Dân với Chủ Thuyết Duy Dân, Đại Việt Quốc Xã với lý thuyết Duy Trung Tam Vật, Đại Việt Dân Chính với lý thuyết chính trị do Nhất Linh Nguyễn Tường tam đúc kết...Hầu hết các lý thuyết, chủ nghĩa nêu trên đều dựa trên một căn bản triết học và đương nhiên đã có sẵn tính chất miên viễn, diên trường . Khác với những kết hợp của các Hội Đoàn, Mặt Trân, Liên Minh...chỉ có mục đích nhằm đáp ứng với nhu cầu của từng giai đoạn hay từng thời kỳ ngắn hạn, chính đảng là sự kết hợp có tính cách cán bộ, mang sắc thái của một tập đoàn cán bộ có cùng chung một chí hướng (danh từ Đồng Chí được dùng trong trường hợp nầy), tuyệt đối tôn trọng kỷ luật của tổ chức và được đào tạo - huấn luyện về chủ thuyết cũng như lý tưởng mà đảng đang theo đuổi .
Chính đảng cần có một chương trình làm việc dài hạn từ việc ổn định chính trị đối nội lẩn đối ngoại, an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế trong bình diện tổng thể......Ngoài ra các chính đảng cần phải luôn đáp ứng nhu cầu về nhân sự để khi nắm chính quyền phải có nhân sự đầy đủ trong các cơ sở hành chánh để điều hành guồng máy quốc gia. Là một gạch nối quan trọng giửa nhà nước và nhân dân. Phải luôn là một cơ sở đối lập trong quốc hội với đảng nắm chính quyền để trong sạch hoá guồng máy điều hành quốc gia và ngăn chặn kịp thời các sai trái của đảng cầm quyền dẩn tới mất độc lập và tự chủ của đất nước, như đảng cộng sản VN đã từng làm trong quá khứ vì đứng trên tư thế độc đảng,  không có tiếng nói đối lập để ngăn chặn các hậu quả tai hại; như làm Hán nô ( bưng bô) cho xâm lược Bắc Phưong...lén lút dâng đất, biển đảo cho ngoại bang. Vì không có tiếng nói đối lập để ngăn chận nên CHXHCNVN hiện nay là một trong những cây đại thụ có tầm vóc về tham nhũng hạng Top Ten trên thế giới.


Chính Đảng là một công cụ phục vụ quyền lợi cho dân và nước,  đóng vai trò tìm người tài gia thay mặt người dân lãnh đạo chính phủ qua lá phiếu. Một khi người dân cho họ một cơ hội để đại diện điều hành đất nước, họ không còn là người của đảng nữa, và không thể nào đặc quyền lợi của đảng lên quyền lợi của dân tộc.

Trong những nước Dân Chủ văn minh - ví dụ nước Mỹ và một số các nước Âu Châu - người dân đâu phải ai cũng là thành viên của đảng này hay đảng kia. Họ có quan niệm rằng nếu họ thấy một ứng viên có những đường lối phù hợp với họ thì họ bầu, họ cho ứng viên một cơ hội thay mặt họ để điều hành đất nước. Và họ cũng có quan niệm rằng, sau khi một ứng viên đã đắc cử thì họ thuộc về dân, làm việc cho dân, chớ không thuộc về chính đảng nào.
CÁC CHÍNH ĐẢNG THỜI ĐỆ NHẤT và ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ:

Mở đầu hoạt động chính trị tại miền nam sau năm 1955 tại miền Nam VN, là phát xuất từ các Đảng phái Quốc gia theo đoàn người di cư vào nam như:
1. Đoàn Sinh Viên Đại Học Hà Nội
2.Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia http://www.hoahao.org/D_1-2_2-188_4-4168_5-50_6-1_17-9_14-2_15-2/
3, Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng Quốc Gia lật đổ Bảo Đại.
4.Các Chính Đảng như: Đại Việt Quốc Dân Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng, BìnhXuyên, Dân Xã Đảng. Đảng Dân Chủ Tự Do của Phan Quang Đán, Mặt Trận Quốc Gia Đoàn Kết của Phan Khắc Sửu. Ngoài ra còn có Lực Lượng Cách Mạng Thống Nhất của Nguyễn Văn Lực, ông nầy đã cùng con là Nguyễn văn Cừ, Trung uý Phạm Phú Quốc ném bom Dinh Độc Lập ngày 27.2.1962, để ám sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm nhưng thất bại.
                                             
Cờ của lực lượng Bình Xuyên


5. Các Đảng thân cộng thì có Đảng Nhân Dân Cách Mạng Việt Nam, do Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một công cụ ngoại vi của đảng cộng sản VN, thành lập để chống lại chính quyền miền nam.                               
Sau khi đảo chính Ông Ngô Đình Diệm thành công, nền đệ nhị cộng hoà củng khởi sắc với các sinh hoạt của các chính đảng.

TRONG THỜI ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ.

1.Trong thời nầy, các chính đảng được phép công khai hoạt động và tham chính như Phó Thủ Tướng Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký, Tổng Trưỡng Nội Vụ của Đại Việt. Củng từ việc tham chính, nội bộ Đại Việt Quốc Dân Đảng đã bị chia rẻ, các ông Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Ngọc Huy và Phan Thông Thảo đứng ra thành lập Tân Đại Việt. Còn Ông Hà Thúc Ký thì họp Đại Hội cải tổ lại Đại Việt và lấy tên là Đại Việt Quốc Dân Cách Mạng Đảng. http://nguyenvancanh.blogspot.de/2009/10/oc-cuon-hoi-ky-cua-ha-thuc-ky.html
                       
Chân dung ông Hà Thúc Ký
2.Việt Nam Quốc Dân Đảng Chủ Lực củng tham chính với Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Tường Bá cùng gia đình và thân thuộc. Về Xứ Bộ Miền Nam của VNQDĐ, có ông Nguyễn Hoà Hiệp và Trần Văn Tuyên với chức vụ Phó Thủ Tướng và Tổng Trưỡng Nộ Vụ.http://www.vietnamvanhien.net/tranvantuyen.pdf                                          


DB Trần Văn Tuyên (giữa) phát biểu trong một cuộc biểu tình trước Quốc Hội VNCH. 

3. Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội do ông Nguyễn Đăng Thục và Vũ văn Vỵ cầm đầu.
                               
Đảng kỳ Việt Cách tiên khởi VNCMĐMH)

4. Tôn giáo:

PHẬT GIÁO

4.1 Khối Phật Giáo Xã Hội do Thích Trí Quang,Thích Nhất Hạnh và Ông Võ Văn Ái.( được coi là thân cộng)
4.2 Đoàn Thanh Niên Tân Xã do Phạm Đình Tuân chỉ huy, cộng cộng và trung lập.
4.3 Đảng Hưng Việt, do các phật tữ miền trung thành lập
4.4 Đảng Phật Giáo Xã Hội ( Phật Xã) do các phật tữ di cư miền Bắc thành lập.

PHẬT GIÁO HOÀ HẢO:


4.5 Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng gọi tắt là Dân Xã do đức Huỳnh Phú Sổ và Nguyễn Bảo Toàn thành lập năm 1936. Sau khi Đức Huỳnh Phú Sổ qua đời Đảng Dân Xã bị chia làm 3 nhánh, do 3 ông Trình Quốc Khánh; Trương Kim Cù và Phan Bá Cầm chỉ huy. Đến thời đệ nhị cộng hoà thì 2 ông Phan Bá Cầm và Trương Kim Cù sát nhập với nhau nên chỉ còn 2 hệ phái Dân Xã Đảng.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_%C4%90%E1%BA%A3ng
http://quangminhtu.blogspot.de/2013/11/phat-giao-hoa-hao-trong-dong-lich-su_5976.html
         
Đảng kỳ Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng

4.6 Ngoài đảng Dân Xả, Phật Giáo HH còn có TẬP ĐOÀN CƯỤ CHIẾN SỈ HOÀ HẢO DÂN XÃ do Ông Lâm Thành Nguyên, Lưu Nhất và Trần Ngọc Bảo chỉ huy. Một Hội Cựu quân nhân PGHH do Trần Duy Đôn chỉ huy.

CÔNG GIÁO

4.7 Lực Lượng Công Dân Công Giáo Đại Đoàn Kết do Linh Mục Hoàng Huỳnh, Nguyễn Gia Hiễn, Nguyễn Văn Bách, Vũ Ngọc Anh và Hoàng Thái Ninh thành lập. Chống cộng và chống liên hiệp với CS
4.8 Trung Ương Công Giáo Tranh Đấu, do LM Hoàng Hùynh , LM Mai Ngọc Khuê, ông Trần Thiện thành lập.
4.9 Mặt Trận Dân Tộc Tự Quyết, do LM Hoàng Huỳnh, Ông Nguyễn Đăng Viên, Đinh xuân Cầu, Lê Thanh Vân thành lập.
4.10 Lực Lượng Quốc Dân Liên Hiệp do Huỳnh Kim Nên thành lập.
4.11 Mặt Trận Công Dân Công Giáo của LM Trần Du.
4.12. Đảng Dân Chủ Thiên Chúa giáo với Hoàng Xuân Việt, Nguyễn văn Triển.
4.13 Lực Lượng Bảo Vệ hay còn gọi là Mặt Trận Toàn Lực Quốc Gia ( MT Toàn Lực) do Nguyễn Bảo Kiếm ( Nguyễn Kim Báu), Nguyễn Tường Huân thành lập. Quốc Gia.

CAO ĐÀI


4.14 Việt Nam Phục Quốc Hội do các ông Nguyễn Thành Phương, Huỳnh văn Hiệp, Trần Văn Chiêu và Nguyễn Duy Tài lảnh đạo.
4.15 Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến, do Trương Lương Thiện, Nguyễn tấn Mạnh em Tướng Trịnh Minh Thế lảnh đạo.
4.16 Hội cựu chiến sĩ Cao Đài do Nguyễn Thành Phương và Trương Lương Thiện cầm đầu., chủ trương bảo vệ quốc gia, chống CS, nhưng Trung Lập.
4.17 Mặt Trận Thống Nhất Dân Tộc VN do các cựu Sĩ Quan Cao Đài là Đại tá Lương Văn Chương và Đặng Thanh Sử chỉ huy. Mặt Trận chủ trương Trung Lập.

LIÊN MINH TÔN GIÁO

4.18 Mặt Trận Công Dân Các Tôn Giáo thành lập để chống chính phủ Phan Huy Quát năm 1965, Liên Minh gồm có:
* Đại Diện Công Giáo LM Hoàng Huỳnh...
* Đại Diện Cao Đài, Lê văn Trung
* Đại diện Phật Gáo HH, Trình Quốc Khánh, Lâm Thành Nguyên.
* Đại Diện Tổng Giáo Hội với Thượng Tọa Thích Chơn Bổn.
*Đại Diện GGPGVN Thống Nhật ( PG Ấn Quang) Thượng Toạ Pháp Tri.
*Đại Diện Tin lành, Ông Lương Văn Thức Đào Thành Long.
Lập trường của Mặt Trận Công Dân Các Tôn Giáo (MTLT) là chống cộng.., bảo vệ tự do tín ngưỡng... MẶT TRẬN LIÊN TÔN, do Hoà Thượng Thích Trí Dũng và LM Hoàng Huỳnh đồng chủ tịch.
4.19 Hội Cựu Chiến sĩ Chống Cộng CAO ĐÀI, do Nguyễn Thành Phương, Trương Lương Thiện có cả Trương Kim Cù của Hoà Hảo và Bình Xuyên.

LIÊN MINH CÁC CHÍNH ĐẢNG:

4.20 Lưc Lượng Quốc Gia Thống Nhất, gồm có: Mặt trận Quốc Gia Thống Nhất của Nguyễn Bảo Truyền. Đảng Dân Xã của Trương Kim Củ. Lực Lượng Quốc Dân Liên Hiệp của Huỳnh Kim Nền. Đảng Tân Đại Việt Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Ngọc Huy. Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến( Cao Đài Liên Minh) của Trương Lương Thiện http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Duy_d%C3%A2n_C%C3%A1ch_m%E1%BB%87nh_%C4%90%E1%BA%A3ng
4.21 Mặt Trận Thống Nhất Dân Tộc gồm có: Đại Việt Duy Dân Đảng với Nguyễn Xuân Chữ. Mặt Trận Nhân dân Cứu Quốc của Lâm Văn Tết. Việt Nam Quốc Dân Đảng với Vũ Hồng Khanh và Xuân Tùng. Đại Việt chính Thống của Vũ Ngọc Các và Trần Thanh Hiệp lảnh đạo
4.22 Liên Minh Dân Chủ, kết hợp 4 chính đảng lớn, gồm Việt Nam Quốc Dân Đảng, Vũ Hồng Khanh. Việt Nam Dân Chủ Hội Đảng Hoà Hảo, với ông Phan Bá Cầm. Đảng Đại Việt Duy Dân với Lê Vinh. Khối Dân Chủ Xã Hội của Hoàng Cơ Thụỵ.

Ngoài các tổ chức trên còn có hàng trăm Lực Lượng, Khối, Hôi, Đoàn, Phong Trào chống cộng củng như thân cộng....trong đó có những Lực Lượng thân cộng như Liên Minh Dân Chủ Hoà Bình của Trịnh Đình Thảo và Lâm Văn Tết, Lực Lượng Rồng Vàng của Thích Đôn Hậu..... tất cả đều sinh hoạt trong bầu không khí DÂN CHỦ, trên nền tảng PHÁP TRỊ dưới thời đệ nhị Cộng Hoà.


  Thích  Đôn Hậu 1968                


Luật sư Trịnh Đình Thảo (ngoài cùng bên phải) và chủ tịch MTDT GP Miền Nam Việt Nam, 
uật sư Nguyễn Hữu Thọ (người đứng giữa).
                               
Đa Đảng trong đệ nhất và đệ nhị cộng hoà của miền nam VN trước năm 1975 là điều mà chế độ VNDCCH và CHXHCNVN luôn tìm cách tránh né , để tiếp tục đi ngược dòng tiến hoá của thế giới ngày nay.
.

Ngay sau khi CS chiếm miền Nam, một lực lượng kháng chiến Phục Quốc thuộc Mặt Trận Liên Tôn do cha Vàng làm lảnh tụ cùng một số các cựu sĩ quan Quân lực VNCH rút vào trong rừng sâu để hoạt động chống lại bọn cộng sản VN http://forum4.aimoo.com/aitubinhdien/m/T-217-NH-194-N-CH-205-NH-TR-7882/H-i-k-y-n-c-m-t-Linh-M-c-Nguy-n-V-n-V-ng-Ch-t-Trong-X-Lim-Ng-c-T-C-ng-S-n-1-584375.html
                 
Linh mục Nguyễn văn Vàng ( Cha Vàng)

CÁC CHÍNH ĐẢNG HẢI NGOẠI: 
Sau ngày 30.4.1975 một số các Chính Đảng củng theo đoàn người di tản ra khỏi VN và tái hoạt động tại Hải Ngoại hiện nay còn có:

1. Việt Nam Quốc Dân Đảng.
                   
Đảng kỳ của Việt Nam Quốc Dân Đảng





                                       
Cờ sao trắng, đảng ca VNQDĐ                  

2. Đại Việt Quốc Dân Đảng.http://daivietquocdandang.net/
                 
Đảng kỳ của Đại Việt Quốc Dân Đảng củng là đảng kỳ VNQDĐ
         
3. Liên Minh Dân Chủ Việt Nam của Nguyễn Ngọc Huy
                               


Đảng kỳ Tân Đại Việt của Cố GS Nguyễn Ngọc Huy


Đảng kỳ của Đại Việt Cách Mạng Đảng do cụ Hà Thúc Ký chủ xướng

4. Đảng Dân Chủ Xã Hội VN.

Các Đảng phái mới thành lập sau ngày di tản 1975 tại Hải Ngoại gồm có:

1. Chí Nguyện Đoàn Hải Ngoại Phục Quốc của Ông Võ Đại Tôn.http://nguoisantin.wordpress.com/2012/10/03/chien-sy-vo-dai-ton-nguyen-dong-hanh-cung-anh-em/


Chân dung cụ Võ Đại Tôn
                                         
2. Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước của Ông Lê Quốc Tuý với anh hùng Trần Văn Bá bị CS bắt và tử hình 1985.  http://www.tinparis.net/lichsu/2010_06_22_LeQuocTuyHopBaonam1985.html
                                           

                   
Bàn thờ anh hùng Trần văn Bá


3. Liên Minh Cách Mạng VN của Trần Tam Mộng và Nguyễn văn Chúc
4. Lực Lượng Kháng Chiến VN của Đặng văn Thanh.
5. Lực Lượng Kháng Chiến Tự Do.
6. Mặt Trận Kháng Chiến của ông Hoàng Cơ Minh.
               
Ông Hoàng Cơ Minh tại chiến Khu  Ubon ( Thái Lan)

Trong giai đoạn mới của những biến chuyển về tình hình chính trị thế giới và sự phá sản của thời đại Xã Hội Chủ Nghĩa, do đó có một số các tổ chức thay đổi đường lối đấu tranh chấp nhận hoà giải với CS để có chân đứng trong môi trường chính trị độc tài chuyên chính hiện nay. Còn lại hầu như vẩn giữ thế uyển chuyển tuỳ theo nhu cầu nhưng không hoà giải hoà hợp với CSVN, chủ trương giải thể chế độ phi nhân một cách triệt để. Cuộc cách mạnh vẩn còn là một cuộc chiến sống còn quyết liệt và âm thầm giửa ĐCSVN và các tổ chức chính trị trong và ngoài nước.

Thông thường thì người dân các nước dân chủ văn minh họ không cần phải trung thành với đảng của họ, nếu họ là thành viên của một đảng. Nhiều thành viên của đảng này bầu cho ứng viên của đảng khác, chẳng có ai thắc mắc, hay tới nhà gõ cửa hỏi thăm. Hoạc là, nếu một ứng viện muốn ra tranh cử độc lập, họ có thể từ bỏ đảng viên của họ mà chẳng có cần phải đợi bị hay sợ khai trừ ra khỏi đảng. Chính vì vậy, người Mỹ có những câu nhắc nhở những người trong chính phủ rằng:

“In this country one man is as good as another, and, for that matter, very often a great deal better. Thank God this nation does not depend on any one man.”

“Trong quốc gia này một người có thể tốt như người khác, và, với điều đó, nhiều khi còn tốt hơn. Cám ơn trời quốc gia này không phụ thuộc vào chỉ một người.”

“If we were ousted tomorrow and came back a week later, we'd very likely find our places taken by others doing just as well as we did, and in many instances better.”

“Nếu chúng ta bị sa thải ngày mai và trở lại một tuần sau, chúng ta sẽ thấy những công việc của chúng ta được thay thế bởi những người khác đang làm tốt như chúng ta đã làm, và nhiều khi còn tốt hơn.”

CHÍNH ĐẢNG CÁCH MẠNG:
Cách mạng, các nhà cách mạng, chính trị ở Á Đông đều thỏa thuận với nhau về một định nghĩa chung cho danh từ Cách Mạng . Cách có nghĩa là cánh chim thay lông hoặc lông non của cách chim vừa mới mọc sau khi lông gìa đã rụng . Mạng có nghĩa là thiên mạng, trong chế độ quân chủ thì vua là người thừa thiên mạng để trị dân . Cách mạng có nghĩa chung là thay đổi lệnh của trời, tức là xóa bỏ vua . Nhưng theo nguyên nghĩa lông non được mọc ra trên cánh chim, sau khi lông gìa đã rơi rụng, như vậy lông non phải là nguồn sinh lực mới, tất nhiên phải mạnh mẽ và tốt đẹp hơn . Cộng chung hai chữ, cách mạng có nghĩa là vua đã gìa, lạc hậu, phải được thay thế bằng người trẻ thì chế độ mới tốt đẹp và mạnh mẽ hơn .

Vì vậy mà cuộc biến đổi ở nước Nhật đầu thế kỷ 20 tuy đã làm cho nước nhật trở nên giàu mạnh hơn nhưng Minh Trị Thiên Hoàng vẫn là vị vua của nước này, nên người đời đã gọi đó là một cuộc Duy Tân ở Á Châụ Ở Pháp năm 1779 và ở Trung Hoa năm 1911 là những cuộc cách mạng đầu tiên đúng nghĩa với định nghĩa Cách Mạng như quan niệm chung đã đề cập ở trên .

Ngày nay, lại có danh từ cách mạng nhung, cách mạng xanh, cách mạng hồng...để chỉ cho những cuộc biến chuyển, lật đổ nhưng không dùng bạo lực mà kết quá vẫn thay đổi được bộ mặt cũ và đưa những sự hưng thịnh hơn .

Chính đảng cách mạng là một đảng chính trị có mục đích thực hiện công cuộc cách mạng, tức là thay đổi, biến hóa để đưa xã hội tiến đến chỗ tốt đẹp hơn . Ngày nay cách mạng đôi lúc không cần đến bạo lực, giống như cuộc cách mạng nhung ở Đông Âu và Liên Xô. Nhưng củng có những cuộc cách mạng phải có bạo lực kèm theo. Nói như thế trong khi làm cách mạng là còn phải tùy hoàn cảnh mà vận dụng khéo léo các hành động.

Để có sự nhịp nhàng và hiệu quả trong đấu tranh, có nghĩa chúng ta sẽ không loại bỏ bất cứ giải pháp nào để thu ngắn thời gian tiến hành một cuộc cách mạng, không thể nói là chỉ bất bạo động mới có thành quả tốt cho cách mạng, rồi từ chối tất cả phương tiện khác!

Một đảng cách mạng nếu chỉ lật đổ để cướp chính quyền mà không có chương trình, kế hoạch hành động thực tế nào có mục đích cải tiến xã hội thì được gọi là đảo chánh, như các cuộc đảo chánh vào thập niên 60 ở miền Nam Việt Nam . Mỗi quốc gia có đều có vị trí về điạ lý chính trị riêng và trình độ dân trí khác biệt nhau. Nói như thế để hiểu rằng, cuộc cách mạng nếu có xảy ra ở VN, thì nó sẽ không cùng màu với những cuộc cách mạng đã xảy ra trên thế giới trong quá khứ.

Chủ đích của một cách mạng là thay đổi toàn diện hệ thống chính trị cũ để thay vào đó một hệ thống mới với mục đích đem lại ích lợi cho con người và xã hội . Do đó cách mạng bao giờ cũng xuất phát từ quần chúng, từ số đông người . Quần chúng là lực lượng, là sức mạnh của cách mạng .
Quần chúng chỉ là những thể nhân, những phần tử riêng lẻ . Muốn biến những phần tử riêng lẻ nầy thành một khối, một sức mạnh xuyên suốt, một lực lượng duy nhất thì phải cần đến những tố nhân, những sức hút mới kết hợp lại được . Những tố nhân, những sức hút đó đến từ các chính đảng cách mạng có một chủ thuyết chính trị đáp ứng lại nguyện vọng chung của quần chúng .
Chính đảng cách mạng là lò đào tạo nên sức mạnh, cho một cuộc cách mạng . Cán bộ của chính đảng cách mạng hướng dẫn và điều khiển quần chúng thực hiện công cuộc cách mạng . Hàng ngũ cán bộ là hạt nhân, quần chúng là những vệ tinh bao quanh các hạt nhân đó .
Một đảng cách mạng có đông đảng viên chưa hẳn là một đảng mạnh . Giá trị về sức mạnh của đảng phải được căn cứ vào sự tuân thủ các nguyên tắc trong hệ thống tổ chức, sự tuân thủ kỷ luật nội bộ, vào sự hành động duy nhất theo một mệnh lệnh duy nhất .

Muốn thành công để bẩy hòn đá cản thật nặng trên con đường tiến hoá. Với nguyên tắc đòn bẩy của mình, Archimedes đã từng tự tin nói rằng “Give me a lever and a place to stand, and I will move Earth.” (Hãy cho tôi một đòn bẩy và một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng Trái đất lên.

Nói như thế thì trong hệ thống đòn bẩy, NHÂN CÁCH MẠNG chính là điểm tựa và đòn bẩy chính là quần chúng! Nếu như biết phối hợp nhịp nhàng thì chúng ta sẽ giải quyết hết được các vật cản trên con đường vận hành của bánh xe lịch sử.

Trinh Khánh Tuấn.15.8.2014
TẤM THẺ BÀI
      


Anh còn nhớ không ? Tấm thẻ bài lủng lẳng trên cổ anh, sợi dây chuyền mà em đã ghi đậm nét vào tim lúc mới quen anh, với một thẻ bài đượm màu của gió sương và phảng phất mùi thuốc súng...Đó cũng là kỷ vật của tất cã người lính trận của chế độ cộng hoà.

Mỗi một quân nhân VNCH, đều bắt buộc phải mang hai tấm thẻ bài làm bằng kim loại không rỉ sét, đó là vật bất ly thân.  Mỗi tấm thẻ bài được ghi khắc họ tên và số quân để trong trường hợp người chiến sĩ tử trận nếu không nhận dạng được thi thể đơn vị hành quân cũng có thể biết tên tuổi, số quân để biết người tử trận là ai. Trên tấm thẻ cũng có ghi loại máu ( A, B hay O..) để khi cần tiếp máu, người y sĩ chiến trường sẽ biết ngay là máu loại gì mà cung cấp? Khi người chiến sĩ tử trận thì đơn vị hành quân sẽ giữ lấy một tấm để làm tài liệu báo cáo, còn một tấm sẽ gởi về thân nhân tử sĩ.

Tấm thẻ bài tuy vô tri; nhưng gói ghém thâm tình của một người mẹ mất con người vợ mất chồng, người con mất cha... anh hoặc chị mất đi người anh, người em trong cuộc chiến bảo vệ mảnh đất tự do miền nam VN, sao xót thương, ngậm ngùi quá!

Trước năm 1975, bài ca  “Tấm Thẻ Bài “ do tiếng hát truyền cảm của nữ danh ca Thanh Thuý đã gây nhiều xúc động trong quần chúng nhất là trong lòng những người chiến sĩ cộng hoà, cho đến bây giờ nếu được nghe lại bài hát nầy hoặc là nhìn thấy lại "Tấm Thẻ Bài" người cựu chiến sĩ chúng ta thấy ngậm ngùi và thương tiếc cho những đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến chống cộng sản xâm lược.  https://www.youtube.com/watch?v=WJo2DmcWIOE
Khi nhìn thấy hình ảnh tấm thẻ bài hay được nghe cô Thanh Thuý rên rĩ trong ca khúc nầy, tôi nhớ ngay đến tấm thẻ bài của tôi luôn đeo trên ngực trong suốt cuộc chiến tại miền nam VN.
Trước khi lên đường hành quân, tôi cẩn thận xem lại hai tấm thẻ bài đeo trên ngực và thầm cầu nguyện cho tấm thẻ lúc nào cũng đi theo dòng máu nóng của tôi . Hai tấm thẻ nầy là vật kỷ niệm trong suốt cuộc đời quân ngũ cũa tôi, và nó được giữ gìn cẩn thận cho đến ngày tôi vượt biên. Vợ tôi đã thũy táng nó trên biển đông trong hành trình đi tìm tự do và đầu năm 1979. Tấm thẻ bài của người lính cộng hoà còn là linh vật cho những chàng chiến binh ưa thích trường phái cạo gió.

Bàn nhạc "Tấm Thẻ Bài" sáng tác của Hoàng Anh  

Sau cuộc chiến này còn chi không anh?
Còn chi không anh?
Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài
Đã mờ mờ mang tên anh.

Giọt máu nào là của mẹ
Niềm tin nào? là của em
Ôi trên tấm thẻ bài này
Tấm thẻ bài này đã từng
Chuyên chở giấc mộng yêu đương

Mộng yêu đương không bao giờ đến
Không bao giờ đến nữa vì anh
Không còn mang tấm thẻ bài
Trở về bên em

Anh đã đi đã đi vào vùng biển đời người
Anh ngủ yên ngủ yên như cỏ úa
Anh ơi sau cuộc chiến này
Có còn chi để lại
Hay chỉ còn tấm thẻ bài mang tên anh

Tấm thẻ bài mang thẫm máu anh
Máu Việt Nam mang tình của mẹ
Tình của mẹ không bao giờ hận thù

Anh anh có biết
Tấm thẻ bài của anh để lại
Cuộc chiến này vẫn còn đó không thôi
Cuộc chiến này vẫn còn đó anh ơi

Sau cuộc chiến này còn chi không anh?
Còn chi không anh?
Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài
Đang lạnh lùng trên tay em

Giọt máu nào là của mẹ
Niềm tin nào? là của em
Ôi trên tấm thẻ bài này
Tấm thẻ bài này, đã từng
Ấp ủ tất cả giấc mộng yêu đương.

Mộng yêu đương không bao giờ đến
Không bao giờ đến nữa vì anh
Không còn mang tấm thẻ bài
Trở về bên em.

Mộng yêu đương không bao giờ đến
Không bao giờ đến nữa vì anh
Không còn mang tấm thẻ bài
Trở về bên em.


CHUYỆN ĐẦY XÚC ĐỘNG KỂ VỀ TẤM THẺ BÀI CỦA CÔ BÁC SĨ VIVIAN LE


Câu chuyện được bắt đầu vào sáng ngày 23-3-1975......

Sau khi chồng và con trai  bị chết vì đạn pháo kích của VC đồng thời bị thất lạc đứa con gái trong ngày di tản tại tại bãi biển Chu Lai, chị Buôn quấn quýt chạy khắp nơi để hỏi thăm về đứa con gái của mình...chị đã được một người chạy nạn cho biết:

“Con bé khoảng 9 hay 10 tuổi mặc cái áo xanh, quần đen, cổ có đeo cái thẻ bài của lính là con chị sao? Nó được một người trên ca-nô nhào xuống nước bơi vào vớt nó đưa lên ca-nô ra tầu lớn rồi. Thật là may mắn cho nó!”...

Lệ, đứa con thất lạc của chị Buôn được đưa lên tầu Hải quân với chiếc thẻ bài đeo toòng teng nơi ngực. Người ta thấy có khắc tên: Lê văn Buôn Số quân: ..... Họ hỏi Lệ. Lệ nói đó là tên ba nó, ba Buôn của nó, bị lọt lại với má và ba đứa em tại bãi biển Chu Lai. Mới đầu Lệ sụt sùi khóc nhưng có người đàn bà ngồi gần bảo nó khóc không ích gì. Nó cắn răng nghe lời bà này, làm theo những gì người ta chỉ bảo. Tiếng nổ làm cho nó ù tai nhưng cái sợ làm nó quên cả. Kể từ lúc quả lựu đạn nổ, nó gần như mê đi cho đến khi có người vớt nó đưa lên ca-nô rồi lên tầu.

Người vớt nó lên ca-nô và đưa nó lên tầu, nhận nó là con nuôi là một Thiếu Uý Hải quân mới ra trường. Sau thời gian huấn luyện dài đằng đẵng, tim anh còn đầy ắp tình người dành cho đồng hương và cả nhân loại. Ước mơ của anh là những chuyến hải hành xa, đi đến chân trời góc biển, đi đến những đô thị lớn hoa lệ, nguy nga, ngợp ánh đèn về đêm và nườm nượp xe cộ, người đi bộ trên hè phố ban ngày.

Anh tên Lê trọng Nghĩa, 28 tuổi, quê quán ở miệt Thủ dầu Một, ra trường với hạng cao trong số hơn 60 sinh viên tốt nghiệp trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang và hiện là một sĩ quan ưu tú của Giang đoàn 240 đóng ở miền Trung. Chiếc tầu Nghĩa và đứa con nuôi là Lệ về đến bến Bạch đằng Sàigòn vào tuần đầu tháng 4-1975, đang lúc Sàigòn lên cơn sốt y như miền Trung mấy tuần trước. Nghĩa đưa Lệ đến gửi vợ một người bạn trong trại Sĩ quan bến Bạch đằng, lại gửi tiền và nhờ Xuân Hà, tên vợ người bạn, đi mua sắm quần áo và những thứ cần thiết hàng ngày cho Lệ. Xuân Hà nhìn Nghĩa rồi nhìn Lệ và hỏi nhỏ Nghĩa:
“Con bé xin được ở đâu mà xinh quá vậy? Tốn vài tạ gạo nữa là đã ra dáng tiểu thư rồi. Anh lựa hay lắm.”
Nghĩa nghiêm nét mặt bảo Xuân Hà:
“Chị đừng nghĩ vậy. Ba má nó và ba đứa em còn kẹt lại Chu Lai. Chỉ có mình nó được tôi cứu lên tầu. Tôi nhận nó làm con nuôi.”
Xuân Hà tính đùa thêm một câu nhưng thấy mặt Nghĩa lạnh như tiền nên không dám cợt nhả nữa.

Ngày 28-4-1975, Nghĩa lại mang Lệ lên một chiếc tầu Hải Quân HQ thực lớn để chạy sang Guam. Nghĩa con một, cha mẹ Nghĩa đã lớn tuổi muốn sống và chết ở Thủ dầu Một nên không đi mặc dầu trong thời gian ở Sàigòn, Nghĩa đã cải trang về thăm và mời ông bà đi.

Sau 5 tháng ở trong trại tạm cư ở Guam, Nghĩa và Lệ được một nhà thờ bảo trợ đi South Carolina. Từ đây, Nghĩa xin Basic Grant của tiểu bang để vào Đại học học Kỹ sư cơ khí. Ngoài giờ học, Nghĩa đi làm part time cho tiệm Sears ở downtown để lấy tiền chi phí ăn ở cho hai cha con. Nghĩa xin cho Lệ vào học ở trường tiểu học địa phương, có xe bus nhà trường đưa đón mỗi ngày và ăn sáng, ăn trưa miễn phí vì hai cha con Nghĩa chưa có lợi tức. Nghĩa chỉ thêm bài vở cho Lệ mỗi buổi tối sau khi cơm xong. Lệ thông minh nên học rất nhanh. Để giúp ba Nghĩa, nó biết đặt nồi cơm điện, luộc rau, luộc trứng, làm những món giản dị rồi chờ ba Nghĩa về ăn cơm.

Mặc dầu vào ngang thiếu căn bản 4 lớp đầu (học trình Hoa Kỳ), nhưng Lệ đã học xong lớp 5 Việt Nam, Lệ học lại với ba Nghĩa và một cô giáo Mỹ dạy kèm (tutor) tất cả những gì cần thiết chưa được học ở các lớp dưới, nhất là Anh ngữ, vì vậy Lệ tốt nghiệp Trung học lúc mới 17 tuổi với điểm trung bình 4.0, một thành tích vượt mức ngay với học sinh bản xứ.

Nhiều lúc Lệ nhớ ba má, nhớ các em day dứt nhưng nghe ba Nghĩa khuyên, Lệ phải cố quên. Lệ cũng nghĩ và tự nhủ lòng, có khóc, có nhớ ba má và các em cũng không làm được gì, chỉ cản trở việc học. Đã từng ở trong cảnh nghèo của cha mẹ ở Việt Nam, Lệ biết được đi học thế này là một diễm phúc vì vậy Lệ cố gắng và chăm chỉ hết mức. Ba Nghĩa cũng khuyên Lệ, sau này có thể có bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, khi ấy Nghĩa sẽ tìm cách hỏi thăm tìm ra tung tích ba má và các em Lệ. Lệ nghe thế lại tạm yên lòng và hy vọng.

Mùa Thu năm đó, Lệ vào trường Đại học Y khoa South Carolina. Sau 3 năm, Lệ lấy Cử nhân Sinh Vật học với lời khen của Hội đồng Giám Khảo. Lệ chuyển qua học ngành Nhãn Khoa (Opthalmology). Năm 1990, Lệ đậu bằng Bác sĩ Nhãn Khoa hạng tối Ưu với lời ngợi khen của Ban Giám Khảo. Lệ được mời dạy môn Nhãn Khoa cho Sinh viên cùng trường. Lệ hỏi ý kiến ba Nghĩa, sau đó Lệ xin khất cho đến khi trở về từ Việt Nam.

Tốt nghiệp xong, Lệ bàn với ba Nghĩa, lúc này đã có vợ và một đứa con trai 2 tuổi, ba Nghĩa đồng ý, Lệ đi mua vé máy bay về Việt Nam tìm cha mẹ và các em. Sau hơn 10 năm bế quan toả cảng cả nước sắp chết đói, lúc này (từ 1985) chế độ bắt buộc phải mở cửa cho kinh tế thị trường nên cũng dễ dàng cho Lệ đi lại.

Lệ và một người bạn thân về đến Chu Lai vào một buổi chiều mùa Hạ năm 1990 sau khi đã lặn lội đi bằng đủ thứ xe từ Sàigòn ra miền Trung. Sau 15 năm, quang cảnh cũ đã thay đổi nhiều. Có những căn nhà mới mọc lên nhưng cũng có nhiều căn trại cũ biến mất. Chỉ có bãi biển, trông vẫn như trước mặc dù có nhiều hàng quán mọc lên bán thức ăn, thức uống cho du khách. Trại Gia binh ngày nào không còn. Lệ muốn được gặp lại những người hàng xóm của ba má Lệ ngày xưa như vợ chồng bác Sáu, vợ chồng chú Đàm, vợ chồng cô Bé...để hỏi thăm về cha mẹ và các em nhưng đi quanh quanh làng xóm, Lệ không kiếm ra một người quen cũ.

Lệ đeo cái thẻ bài vào cổ như ngày 23-3-1975 ra bãi biển Chu Lai, nhà nào Lệ cũng vào hỏi thăm và cho con cái họ quà bánh Lệ đem từ Hoa Kỳ về, giơ chiếc thẻ bài cho họ coi và hỏi thăm xem có ai biết ba má và các em Lệ không? Nhưng tuyệt nhiên không ai biết. Vốn đã có định kiến, Lệ xin phép chính quyền sở tại, không quên quà cáp cho họ, để mở phòng mạch khám mắt miễn phí cho mọi người. Một Nữ bác sĩ Hoa Kỳ, cô Ruthie O’Brien, bác sĩ gia đình, vốn là bạn thân và cùng ra trường một ngày với Lệ, cùng đi với Lệ về chơi thăm miền Trung Việt Nam, nhân dịp cũng bỏ đồ nghề ra khám bệnh và cho thuốc cùng những lời khuyên hữu ích để phòng ngừa bệnh tật. Các gia đình đến khám mắt và khám tổng quát, nhất là những ông già bà cả đều được hỏi về Trung sĩ Lê văn Buôn, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1, Sư đoàn 2 Bộ binh vào tháng 3 năm 1975 nhưng không một ai biết. Mỗi buổi chiều khi khám bệnh xong, Lệ và Ruthie thường ra bãi biển Chu Lai ngồi ngắm sóng và ngắm hoàng hôn trên biển, nghe những tiếng rì rào của sóng biển chạy vào bờ rồi lại trườn ra xa. Thấy bạn buồn vì không tìm ra gia đình, Ruthie lựa lời khuyên nhủ và hỏi Lệ có còn muốn đến nơi nào khác để kiếm không? Lệ nghĩ chỉ có hai nơi khác ba má Lệ có thể ở là Nha Trang, quê của ba và Trà Vinh, quê của má. Lệ nói cho Ruthie nghe những nơi Lệ hi vọng nhiều nhất, sau đó Ruthie khuyên Lệ nên đi Nha Trang.
Nha Trang không hứa hẹn nhiều cho việc tìm kiếm vì Lệ đã đến đây gần một tuần, đi khắp nơi hỏi nhưng không ai biết cựu Trung sĩ Lê văn Buôn và vợ con.

Lệ thất vọng hoàn toàn, thầm nghĩ chỉ còn một nơi nữa là Trà Vinh. Nếu tại Trà Vinh cũng không có tung tích thì coi như gia đình Lệ đã bị tiêu tán trong hoặc sau ngày 23-3-1975. Nghĩ đến đó, Lệ cảm thấy buồn muốn khóc. Ba má và các em đi hết chỉ để lại mình con thôi sao, thế thì con có sống cũng mang mối u hoài đau khổ ấy suốt đời! Thà con ở lại nhà chia sẻ những đau khổ với ba má và các em rồi chết chung một huyệt cũng là xong một kiếp người. Lệ buồn khôn tả và khóc mỗi đêm về nhưng không dám cho Ruthie biết.
                               

Một buổi sáng, Lệ cùng Ruthie mướn một chiếc xe hơi với tài xế để đi thăm Hòn Chồng, nơi thắng cảnh đẹp có tiếng của Nha Trang. Thật ra Lệ không còn tâm trí đâu ngoạn cảnh vì “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nhưng để chiều Ruthie, Lệ cho Ruthie đi nơi này nơi kia chụp hình lưu niệm và dọc đường có thể tìm vào các quán ăn ngon, các khách sạn sang trọng mướn phòng ngủ qua đêm. Lẽ ra trong chuyến đi này, Lệ mang theo vị hôn phu là bác sĩ Vĩnh quang Dũng, chuyên khoa bệnh tiêu hoá, tốt nghiệp trước Lệ 3 năm và hai người quen nhau khi cùng làm việc trong một bệnh viện nhưng Dũng phải đi Á căn Đình dự một Đại Hội Y Khoa toàn cầu về bệnh tiêu hóa, đại diện cho Bộ Y Tế Hoa Kỳ.

Còn vị hôn phu của Ruthie có cha già đang nằm bệnh viện chữa trị bệnh tiểu đường nên anh cũng không thể theo Ruthie đi du lịch Việt Nam được.

Sau khi đã dạo chơi bãi biển hơn hai tiếng đồng hồ, Lệ đề nghị tài xế chở vòng qua con đường phía sau, nơi đây lưa thưa có dăm cái nhà trên bãi cỏ hoang. Phong cảnh quá tiêu sơ và u buồn, không có bóng một đứa trẻ. Lệ và Ruthie bàn với nhau đi xuống cuối con đường rồi trở lại, trở về thành phố Nha Trang.

Mới đi thêm một khoảng ngắn, đột nhiên chiếc xe bốc khói ở máy. Tài xế vội cho xe ngừng lại và kiểm soát máy thấy máy cạn khô không còn một giọt nước. Anh ta hoảng hồn tắt máy và ngơ ngáo đi tìm xung quanh để kiếm nước châm vào máy. Đó đây, ngoài con lộ đắp bằng đất đỏ thì toàn là gò đống và bụi cây mọc lưa thưa, tít tắp xa mới thấy vài mái tranh hiện trên nền trời xanh lơ. Lệ và Ruthie phải ngồi chờ dưới gốc cây cho bớt nắng trong khi bác tài lội bộ đi tìm nước.

Chợt Lệ trông thấy một đám người lố nhố trên một cái gò, cách xa Lệ khoảng 400 mét. Lệ chợt nghĩ hay là họ đào huyệt chôn người chết như hồi còn bé Lệ đã thấy ở Chu Lai nhưng sao không nghe tiếng khóc cũng không thấy quan tài.Trí tò mò thúc đẩy Lệ vào đó coi xem sao. Lệ cũng có ý nghĩ giúp đỡ công việc họ đang làm, nếu họ quá nghèo, cần đến một, vài chục đô-la của Lệ.

Lệ nói cho Ruthie nghe ý nghĩ của mình, bảo Ruthie ngồi đó chờ mình nhưng Ruthie không chịu, đứng lên cùng đi với Lệ. Hai cô gái cứ tưởng gần và ruộng khô, nào ngờ coi vậy nhưng khoảng cách khá xa và có những chỗ nước ngập mắt cá, hai cô phải tháo giầy cầm trên tay để đi.

Khoảng sáu, bảy người vừa đàn ông, đàn bà, thanh niên, thiếu nữ cắm cúi nhìn vào một cái lỗ huyệt đang đào do 4 thanh niên khoẻ mạnh, người cầm xẻng xúc đất đổ vào mê tre, kẻ bê đất đổ lên bờ, để dần dần hiện ra tấm nắp thiên bằng gỗ đen sì một cái quan tài.

Từ xa lội tới, hai cô gái đã bị những cặp mắt tò mò của đám người trên gò nhìn thấy và theo dõi. Khi hai cô tới gần, tất cả đều ngừng tay nhìn chằm chằm như nhìn một hiện tượng lạ.

Họ quá lạ lùng bởi từ xưa đến nay chưa có người ngoại quốc nào ăn mặc đẹp đẽ thế kia - đám người cho rằng cả hai cô là gái Mỹ, Pháp, Anh, Úc chi đó, lại lội ruộng vào cái gò này để coi cải mả.

Phải, họ đang cải mả. Họ đào cốt người thân chết đã lâu năm, bỏ sang một cái tiểu sành, kiếm chỗ thuận tiên, gần gũi hơn đặt xuống.

Lệ mở lời khi nhìn một người đàn bà lam lũ, già yếu, mặt mày nhăn nheo:

“Chào các bác, các chú, các anh, các chị. Cháu là người Việt sống tại Hoa Kỳ về thăm quê hương. Các bác, các chú đang cải táng cho thân nhân, phải không ạ?”

                     

Nghe cô con gái nói tiếng Việt, cả đám người thật ngạc nhiên. Sao cô gái trông như Mỹ này, chỉ khác mớ tóc đen, lại là người Việt, nói tiếng Việt thạo quá. Họ bỏ xẻng cuốc đứng vây xung quanh hai cô gái. Người đàn bà lớn tuổi trả lời:

“Phải, người ở dưới huyệt là chồng tôi, chết từ năm 1975.”

Lệ nghe giọng nói người đàn bà có điều ngờ ngợ nhưng chưa dám tin là mình có thể đúng. Nhân tiện, cứ hỏi thăm xem có ai biết được ba mình không? Lệ chìa tấm thẻ bài đeo trong ngực áo ra cho họ coi, nói:

“Tấm thẻ bài này của ba tôi. Tôi không biết gia đình ông còn sống không và nay ở đâu. Ông tên là Trung sĩ Lê văn Buôn.”

Người đàn bà trân trối nhìn Lệ xong ngập ngừng nói:

“Thế này thực không phải. Xin lỗi...Có phải tấm thẻ bài này của lính Việt Nam Cộng hoà và cô là ...Lệ phải không?”

Điều Lệ nghi ngờ đã đúng. Giọng nói người đàn bà và nhìn kỹ từ đầu đến chân, Lệ thấy đúng là má Lệ, không còn sai vào đâu được. Lệ ôm chầm lấy bà khóc rưng rức:

“Má ơi! Con đây, Lệ của má đây. Má còn nhận ra con không?”

Bà Buôn, phải, vì người đàn bà đó chính là vợ goá của Trung sĩ Lê văn Buôn, càng ôm chặt Lệ hơn. Bà rên rỉ:

“Lệ ơi, má đâu có ngờ Trời Phật còn cho gia đình mình ngày hôm nay. Người nằm dưới huyệt kia chính là ba con đó. Quả lựu đạn ngày 23-3 đã giết ba và thằng Chưởng. Còn lại hai đứa đứng kia, thằng Tung, con Bi giờ đã lớn từng đó.”

Lệ quay ra ôm hôn đứa em gái và thằng em trai. Chúng cũng xúc động nhưng không xúc động bằng má Lệ và Lệ vì khi xẩy ra biến cố tan nát gia đình, chúng còn quá nhỏ.

Bà Buôn hỏi Lệ:

“Con đeo tấm thẻ bài này 15 năm nay để đi tìm ba má và các em phải không?”
“Dạ, đúng thế má. Con đi tìm ba má và các em vì con đâu biết ba đã hi sinh ngày hôm đó.”

Ruthie đứng ngó mấy mẹ con ôm nhau cũng xúc động nhưng trong ánh mắt cô đọc thấy những tia sáng hân hoan vô bờ của bạn và của mẹ của bạn. Chuyến đi hoàn toàn thành công quá sức mong mỏi, cô lẩm bẩm.

Bốn thanh niên lại tiếp tục đào. Họ cậy tấm nắp thiên. Bộ xương người đen sì lõng bõng nước. Ruthie nhìn thấy sợ quá phải đứng tránh ra xa. Cô đã quen với xác chết trong các bệnh viện nhưng không phải là bộ xương đã rữa mục này. Lần đầu tiên Lệ nhìn thấy bộ xương cải táng nhưng Lệ không sợ mà Lệ muốn đứng thật gần để nhìn cho rõ hình hài của người cha đã sinh ra mình.
                 

Khi má Lệ hỏi Lệ vì sao biết mà vào đây. Lệ thuật lại từ đầu tới cuối, vì sao xe phải ngưng lại, bác tài xế phải đi kiếm nước đổ vào máy xe để đi tiếp v.v...

Bà Buôn thắp lên mấy cây nhang và hai ngọn nến trong khi mấy người đàn ông đổ rượu trắng ra cái chậu sành và rửa từng khúc xương cho sạch, lấy giấy bản lau khô xong xếp vào một cái tiểu sành mầu đất nung đỏ quạch. Trong số người lo chuyện cải táng, có chú Năm thợ hồ có nhiều kinh nghiệm. Chú vừa làm vừa chỉ dẫn cho mấy anh thanh niên làm. Chú nói:

“Tôi học nghề cải táng từ năm mới 16 tuổi mà năm nay đã 55, coi như 39 năm trong nghề mà tôi chưa thấy một vụ nào lại linh thiêng như Trung sĩ Buôn đây. Nghe cháu Lệ vừa nói thì cháu đã để tâm tìm ba má cháu nhiều năm nhưng không ra tung tích; đến bữa nay hồn thiêng Trung sĩ dun dủi làm cho chiếc xe hơi đang chạy ngon lành bỗng hết nước ở ngay khúc đường này, xe bốc khói xuýt cháy máy và từ đó cháu Lệ mới có cơ hội lặn lội vào cái gò này vì tính tò mò và cũng vì tính thương người, muốn giúp đỡ người nghèo. Vì thế mà Trời Phật không bỏ cháu.”

Bác tài xế đã lặn lội đi xin được một bình nước đổ vào xe. Thay vì hai thanh niên phải khiêng chiếc tiểu sành, giờ này chiếc tiểu sành được bỏ lên xe, mọi người về nghĩa trang gần nơi cư ngụ của gia đình bà Buôn.

Nghe Lệ kể sơ lược từ lúc được ba Nghĩa nuôi vớt lên tầu và được học hành ở Hoa Kỳ, hiện đã là một bác sĩ Nhãn khoa Hoa Kỳ, tiền bạc dư dả, tương lai sáng lạn, bà Buôn quá sung sướng lại khóc. Bà chạnh lòng nghĩ đến người chồng bạc phước đã chẳng được sống thêm để nhìn thấy sự thành công của đứa con gái ông yêu quý nhất đời.

Huyệt mộ cho cái tiểu sành đựng nắm xương của người cha bạc số của bác sĩ Vivian Le đã đào xong, nhỏ và nông nên đào rất nhanh. Lần này nó không nằm trên gò đất chung quanh là sa mạc sỏi đá, cây cỏ hoang vu mà ở trong một nghĩa trang đẹp đẽ bên ngoài thành phố Nha Trang.

Khoảng 4 giờ chiều, mọi việc hoàn tất, bà Buôn, Lệ và hai đứa em của Lệ thắp hương, sụp quỳ, vái lậy, khấn khứa. Lệ cố hết sức giữ cho khỏi quá xúc động nhưng khung ảnh trắng đen của cha Lệ trước mặt lúc nào cũng như đang nhìn Lệ âu yếm làm Lệ tràn nước mắt và cái ngày độc địa 23-3-1975, tại bãi biển Chu Lai, lại hiện rõ mồn một như Lệ đang đứng sát bên cha Lệ, bám vào tay ông cho khỏi sóng đánh ra xa.

Nỗi buồn năm xưa dù chưa quên được nhưng hiện tại vẫn là đáng sống. Mẹ con bà Buôn đành phải khép lại trang sử đẫm máu của gia đình và của xóm giềng, thân thuộc để xây dựng ngày mai tươi sáng hơn.

Lệ đã đưa tiền cho má và em đi chợ mua các thức ăn về làm một bữa cơm đãi đằng chòm xóm và những người thân thuộc, trả công hậu hĩ cho những người cải táng hôm đó. Ai cũng tấm tắc khen sao lại có cái thần giao cách cảm đó để mà đến đúng chỗ, đúng lúc, gặp lại mẹ và em và nhìn được hài cốt của cha. Chuyện thực mà khó tin, xẩy ra như trong một giấc mơ.
Nhờ có nghề nghiệp cao và lợi tức vững vàng lại công dân Mỹ của Lệ, hơn hai năm sau bà Buôn và Tung, Bi đã đoàn tụ với Lệ ở Hoa Kỳ.

Bà Buôn lập một ban thờ, một bên để tấm ảnh cuối cùng của thằng Chưởng khi nó 3 tuổi, một bên treo tấm thẻ bài, ở giữa ban thờ là bát hương, có bài vị và khung ảnh đen trắng của Trung sĩ Lê văn Buôn, người Chiến sĩ kiêu dũng VNCH đã hi sinh vì Tổ quốc, người chồng, người cha thân yêu vẫn luôn luôn như đang mỉm cười với vợ và các con!

Đây là câu chuyện thật  mà người viết lấy từ  đã lấy từ bài viết "Tấm Thẻ Bài" của 
Bút Xuân Trần Đình Ngọc đăng trong website: http://www.tinvasong.com/?articleId=373001, người viết có cắt xén để bài viết được gọn lại.

  BÀI THỨ HAI VỀ TẤM THẺ BÀI
"Tấm Thẻ Bài và Hành Trình Đi Tìm Xác Rơi", tác giả Bắc Đẩu Võ Ý



Phi vụ huấn luyện không hành Pleiku- Saigon- Nhatang- Pleiku trên phi cơ U17 Phi Đoàn 118 danh hiệu Black Cat A cất cánh Pleiku sáng ngày 15 tháng 6 năm 1971. Chuyến trở về Pleiku cất cánh từ Nha Trang lúc 4 giờ chiều cùng ngày, đã mất liên lạc 15 phút sau đó.
Ngày hôm sau, Phi Đoàn 118 Quan Sát và hai Phi Đoàn Trực Thăng 235, 229 thuộc Không Đoàn 72 Chiến Thuật đồn trú tại Căn Cứ Pleku đã nôn nóng bay tìm cứu chiếc phi cơ lâm nạn khắp các vùng được phân chia, dọc theo không trình Nhatrang-Pleiku.
Sau một tuần lễ bay tìm cứu không có kết quả, Phi hành đoàn Black Cat A được công bố là mất tích vì công vụ. Được biết Phi hành đoàn là Trung úy Văn Ngọc Của và Trung úy Võ Văn Đạt. Hành khách tháp tùng gồm có 6 người, đó là:

Thiếu úy Nguyễn Đăng Mừng*, Sĩ quan tùy viên của cố Đại tá Lê Quang Bình, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II,
Bà Tôn Nữ Thị Xuân*, vợ kế ông Bình
Cháu Lê Quang Nhựt*, 7 tuổi, con trai út của ông bà Bình,
Cháu Tôn Thất Kim Đinh*, 17 tuổi, gọi bà Xuân bằng cô.

Dù đã chấp nhận đau thương khi lấy chồng không quân, nhưng phi vụ Black Cat A mất tích vẫn có một cái gì khó tin đối với bà Văn Ngọc Của. Không thể như thế được và Bà đã ấp ủ niềm hy vọng sẽ có một ngày, người chồng thương quý của Bà sẽ trở về.
Bà đang ôm trong lòng bào thai mới 45 ngày và ẵm trong tay đứa trưởng nam mới hai tuổi, vượt thời gian và ảo vọng để quyết nuôi con chờ chồng...
Bà trường chay kể từ ngày nhận hung tin và dâng lời nguyện cầu mười phương Chư Phật độ trì cho chồng bà...

Sau 1975, Bà tưởng rằng người chồng thương quý sẽ về.
Nhưng người chiến sĩ vẫn không thấy về.
Rồi 1985, 1995
Rồi thiên niên kỷ mới 2000, 2005...
Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về,
Đá mòn, nhưng dạ chưa mòn ước mơ...(1)
Ước mơ trải dài cho đến ba thập niên sau, người trưởng nam Văn Ngọc Châu lúc đó 36 tuổi và Văn Ngọc Hoàng Chương, bào thai 45 ngày năm nào, đã 34 tuổi và cả hai người đều đã thành gia thất.
Thời gian không ước hẹn đến nỗi tóc của Bà đã nhuốm màu sương tuyết, nhưng lòng của Bà vẫn thi gan cùng tuế nguyệt, vẫn không mòn ước mơ, dù ước mơ ngày nay chỉ còn là nắm xương vô định của người chồng thương quý!

                             

Khoảng cuối năm 2003, qua bói toán và qua các nhà ngoại cảm, bà Văn Ngọc Của và hai người con trai ghi nhận nguồn tin như một cái phao sau 33 năm khắc khỏi trông tìm. Cháu Văn Ngọc Châu tâm sự với chú KQ Phạm Minh Mẩn, hiện sống ở Saigon: “cháu nguyện sẽ tìm cho bằng được ba cháu để hương khói sớm hôm”. Thế rồi, Văn Ngọc Châu và chú KQ Minh Mẩn ra tân Sông Ba, Tuy Hòa để phá rừng băng suối, cố tìm cho ra vết tích chiếc phi cơ lâm nạn trên đó có nắm xương của thân phụ mình. Nhưng chuyện đi tìm xác rơi không đơn giản như lời của thầy bói và của nhà ngoại cảm, và kết quả đã không như ước nguyện!
Dù đón nhận biết bao bất hạnh của cuộc sống, người thứ nam Văn Ngọc Hoàng Chương đột ngột giả từ cõi đời năm 2010, bà Văn Ngọc Của cắn răng chịu đựng và vẫn giữ một lòng trung trinh với bóng hình người xưa. Và người trưởng nam Văn Ngọc Châu gánh thêm trên vai, nghĩa vụ cưu mang đùm bọc một đứa cháu 12 tuổi gọi bằng bác.

Những năm tháng khó khăn vẫn thử thách hai mẹ con bà Văn Ngọc Của. Chúng tôi, những đồng đội ngày xưa, rất ngưỡng phục và hãnh diện về lòng thủy chung của bà và đạo hiếu của con bà. Rất tiếc từ dạo đó, chúng tôi không có tin tức về thân nhân của Trung úy KQ Võ Văn Đạt, cho đến một ngày...
Chúng tôi xin thắp nén tâm hương, nguyện cầu anh linh những đồng đội và đồng bào trên chiếc phi cơ U17, sống khôn thác thiêng, xin độ trì cho những người thân của mình, sớm tìm được nắm xương cho thỏa lòng trông tìm hơn bốn thập niên qua.

Thôi đứng đợi làm chi, thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ
Những người mang mệnh biệt ly.
Và một hy vọng mới vừa lóe lên vì thời gian đã đến trả đúng kỳ.

Vào tháng 12/2013, một tin nhắn từ Văn Phòng Liên Lạc Tìm Mộ, được tung lên mạng lưới toàn cầu về chiếc phi cơ U17 lâm nạn năm 1971, với những chi tiết rất quan trọng như sau:

Văn Phòng Liên Lạc Tìm Mộ có nhận được thông tin như sau:
Máy bay số 6722527 Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang .
1-) Người lái Trung úy Văn Ngọc Của, số quân 64/601584L, nhóm máu B .
2-) Người ngồi bên là Võ Văn Đạt
3-) và một người nam
4-) có thêm một phụ nữ.
Bị rớt ở núi. Ai là thân nhân liên lạc với anh Nam 0979104425

hoặc Hồng đt 0905190519 để nhân hài cốt 4 người trên

Kinh mong Quý cơ Quan truyền thông, quý Cô Chú trong Hội Không Quân VNCH.
Giúp chuyển tin nầy đến thân nhân những người quá cố

Kính,

Văn Phòng Liên Lạc Tìm Mộ Ðiện thoại: 559-273-1782
E-mail:lienlactimmo@att.net
                                                     

KQ Minh Mẩn và cháu Văn Ngọc Châu liên lạc ngay với các anh Nam và Hồng để xác định nguồn tin và hai người dự định ra Dục Mỹ để tận mắt nhìn di vật của chiếc phi cơ lâm nạn. Sau Tết Quý Ngọ, anh Nam, nhân vật chính lưu giữ di vật, bị tai nạn tử thuơng trên núi. Cũng may, còn anh Hồ Tân, cùng nghề tìm đá quý với anh Nam, cùng cư ngụ tại Dục Mỹ, còn giữ những di vật này.

Được biết, sau 04/1975, những cựu quân nhân VNCH, tìm đủ mọi cách để sinh nhai, trong đó có nghề lên núi tìm đá quý. Vào năm 1994, các anh Nam, Tân, Quốc..., đã tình cờ tìm thấy xác phi cơ U17 trên núi Mẹ Bồng Con, trong đó có xác của hai vị Sĩ quan Không quân, một Sĩ quan Bộ binh, và một phụ nữ với những di vật như nón bay, đồng hồ, thắt lưng, thẻ bài kim khí, căn cước dân sự, nhẩn hột xoàn....Những người thợ tốt bụng bèn vùi tất cả xương cốt vào một hốc đá để thờ và thu nhặt tất cả di vật để đợi một ngày...
Gần 10 năm sau kể từ ngày phát hiện xác chiếc phi cơ trên đỉnh Mẹ Bồng Con, vào tháng 11 năm 2013, các người thợ tốt bụng mới nhờ anh Hồng, một người biết xử dụng máy vi tính, tung lên mạng, tin tức chiếc phi cơ U17 lâm nạn từ năm 1971 qua mẩu tin trên.

Nhận được tin sốt dẻo, KQ Mẫn và cháu Châu ra Dục Mỹ ngay và được anh Tân trao tay tấm thẻ bài của cố KQ Trung úy Văn Ngọc Của. (còn thẻ căn cước thì đợi giao cho thân nhân Trung úy Võ Văn Đạt). Cháu Châu nhận tấm thẻ bài mà lòng vừa quặn thắt vừa hân hoan. Đây là di vật còn lại của thân phụ mình gần 50 vắng bóng. Đây mới chính là di vật tin cậy, di vật sống. Trong đầu cháu mường tượng một ngày không xa, cháu sẽ gặp thân phụ, đồng đội và đồng bào của người cha thân quý...

Để hổ trợ cho tin vui quan trong nầy, nhà báo Huy Phương đã tạo điều kiện cho chúng tôi, KQ Võ Ý lên Show truyền hình Huynh Đệ Chi Binh của Đài SBTN, trước là để kêu gọi những thân nhân của bà Tôn Nữ Thị Xuân, Thiếu úy Nguyễn Đăng Mừng, Trung úy KQ Võ Văn Đạt, nếu nhận được tin vui, hãy liên lạc ngay với chúng tôi hoặc cháu Văn Ngọc Châu, để bàn kế hoạch lên núi tìm hài cốt của thân nhân mình. Chúng tôi cũng kêu gọi các KQ thuộc Sư Đoàn 6 KQ và Phi Đoàn 118 Bắc Đẩu Pleiku, các chiến hữu thuộc Khóa 66 KQ, các đồng đội thuộc Quân Đoàn II, xin giúp một tay để đưa xương cốt của các đồng đội và đòng bào, từ trên đỉnh Mẹ Bồng Con, trở về với gia đình để tiện bề hương khói.

Chúng tôi cũng nhắn tin này qua Chương trình Người Yêu Của Lính trên đài SBTN, do ca sĩ Ngọc Minh phụ trách, và trên trang nhà Hội Quán Phi Dũng.

Như một sự nhiệm màu, cô Mỹ, từ thành phố Atlanta, bang Georgia, cháu gọi bà Xuân bằng cô và bà Kiều Thị Ngọc, hiện định cư tại San Francisco, bang Cali, vợ của cố Trung úy KQ Võ Văn Đạt trước kia, đã liên lạc với chúng tôi sau các show truyền hình nêu trên.

Cô Mỹ, cháu Võ Ngọc Quốc Huy, trưởng nam của OB Võ Văn Đạt (hiện sinh sống tại Ban Mê Thuột, được tin của mẹ báo), liền liên lạc với cháu Văn Ngọc Châu và họ cùng ấn định một ngày trọng đại: ngày lên đỉnh Mẹ Bồng Con.
                           

HÀNH TRÌNH ĐI TÌM HÀI CỐT

Ngày trọng đại được ấn định là ngày 10 tháng 3 năm 2014.. Lý do: chỉ thời gian nầy mới thuận tiện việc leo núi. Gia đình cố KQ Võ Văn Đạt gồm 6 người (trưởng nam Huy, em trai, em rể, hai cháu gọi bằng bác và một người thân). Gia đình KQ Văn Ngọc Của 2 người (trưởng nam Châu và KQ Minh Mẫn quay phim). Phía những thợ tìm đá quý ở Dục Mỹ gồm 01 dẫn đường, 01 phát quang, 04 người khiêng vác, 06 người tình nguyện giúp đở. Tất cả 20 người. Lương thực mang theo gồm: 100 kg gạo + 13 kí cá ngừ + 15 kí thịt heo + 40 gói mì ăn liền + 50 lít rượu trắng + một số gia vị.

Mỗi ngày đi bộ từ sáng sớm cho đến trưa thì nghỉ chân. Lội suối, trèo dốc cao, chui hang đá trong thời tiết lạnh buốt, đi như vậy suốt 5 ngày mới đến đỉnh núi, điểm lâm nạn của chiếc U17. Hai cháu Châu Huy và thân thuộc, vô cùng hân hoan, vô cùng súc động, vô cùng bùi ngùi khi thấy xác phi cơ. (Mẹ của Quốc Huy cho biết, sau ngày tang thương năm 1971, cháu Huy, ông nội và ông chú cũng lo lắng, dọ hỏi, nghe ngóng để đi tìm dấu tích của thân nhân mình).

Sau cùng, phái đoàn thu nhặt tất cả xương cốt cho vào một ba lô. Điều đáng ghi nhận là, trọng là trong số xương cốt, tìm thấy đủ 6 mảnh xương sọ.

Ngày 18 tháng 3, ba lô được đem về đèo Rù Rì (phía đông bắc Nha Trang) để hỏa táng.
Lúc xuống núi chỉ mất ba ngày. Hai anh trưởng nam thay phiên nhau mang ba lô hài cốt, chứ không muốn nhờ bất kỳ ai. Sáng ngày 19 tháng ba, hủ tro cốt được gởi vào Chùa Bửu Đà, Hòa Hưng, F13, Q.10 Saigon để thờ phượng, sau lễ cầu siêu và lễ phát tang.

Tóm lại, phi vụ Black Cat A, cất cánh ngày 15 tháng 6 năm 1971 trên chiếc phi cơ U17 của Phi Đoàn 118 Bắc Đẩu Pleiku, gồm 6 người, cuối cùng đã vượt bao thác ghềnh và trở về đáp an toàn tại chùa Bửu Đà Hòa Hưng, sau 43 năm bay trong hư vô. Họ đã chung một con tàu định mệnh trước kia thì nay, họ cùng an nghỉ trong câu kinh tiếng kệ của Phật A Di Đà.

Chúng tôi, những đồng đội của chư vị, xin dâng lời nguyện cầu hương linh chư vị sớm an nghỉ đời đời trong cõi vĩnh hằng....

Và chúng tôi, những người còn sống sau cuộc chiến, xin nghiêng mình trước tấm lòng thủy chung của các chinh phụ ngày nay, đã ôm con bồng mưa nắng, sắt son dũng cảm đến kỳ cùng, dù trải qua bao cơ cực lầm than cay đắng...

Và sau cùng, chúng tôi xin trân trọng và cảm kích tấm lòng hiếu đạo của thế hệ thứ hai, mà tiêu biểu là các cháu Văn Ngọc Châu và Võ Ngọc Quốc Huy, dù trải qua 4 thập niên xa vắng bóng dáng người cha, các Sĩ quan Không lực VNCH...

Để kết thúc câu chuyện về các tấm thẻ bài tôi xin mạn phép kể một câu chuyện thật khác về bạn tôi một cố trung úy HQ.                            

NHỚ VỀ BẠN TÔI....

Bạn tôi 26 tuổi đời - gần 6 tuổi lính; một môn sinh hoàng đai VoViNam, bạn tôi không may mắn đậu vào đại học nên bước vào trường Hải quân Nha Trang với cái tuổi mà con nguời đang buớc vào giai đoạn hưng phấn nhất; nhưng cũng là lúc bạn tôi từ gỉa đồng đội..cha mẹ và người yêu để ra đi! Cuối tháng 3.75 đạn pháo vô tình đã cuớp đi mạng sống của bạn tôi khi đang tuần tiểu trên sông trong vùng  rừng sát gần thành phố Sài Gòn... để lại bao thuơng tiếc cho nguời thân và bạn bè...

Tôi đã đến nhà quàn Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà để tiển đưa bạn tôi lần cuối, truớc khi gia đình mang về nguyên quán. Nhìn tấm thẻ bài lung linh qua ánh nến LHH 69A .....  loại máu OR+, tôi không sao cầm đuợc nuớc mắt ...Thế là hết, cánh cửa một đời nguời đã khép, bạn tôi đã vỉnh viển ra đi.... đã thật sự bay xa, đến một nơi không có chiến tranh, không có hận thù , bon chen và phiền muộn ...

Hành trang cuối cùng của bạn tôi là 1 cỗ áo quan, được thêm chữ "CỐ " với hàng chử "TỔ QUÔC GHI ƠN" và phủ lá cờ vàng 3 soc đỏ ... Cố HQ.Trung Úy LHH! Một ngưòi bạn thân thiết suốt quảng đường theo học bậc trung học tại trường Cao Thắng.

Một nén nhang cho những người đã nằm xuống vì tự do, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân miền nam trước năm 1975 trên khắp 4 vùng chiến thuật.
Hình ảnh và tài liệu được sưu tầm trên Internet

Trinh khánh Tuấn
29.7.2014