Powered By Blogger
HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA: VẤN ĐỀ KẾ THỪA


Nếu không làm các thủ tục cần thiết để kế thừa di sản Việt Nam Cộng Hòa, Hoàng Sa đã mất vào 18-1-1974, sẽ mất đi vĩnh viễn. Trường Sa, trên danh nghĩa, đã mất từ 30-4-1975, cùng lúc với sự giải thể của VNCH.

Kế thừa là một thủ tục pháp lý cần thiết. Nó có thể trễ, nhưng không thể không thực hiện để kế thừa danh nghĩa chủ quyền về lãnh thổ.

1/ Tư cách pháp nhân của Mặt Trận Giải Phóng miền Nam.

MT khai sinh ngày 20-12-1960 theo nghị quyết của của Đại hội đảng toàn quốc lần thứ ba của đảng CSVN (lúc đó có tên là đảng Lao Động), được đặt dưới sự lãnh đạo của bộ Chính trị đảng CSVN và Trung ương cục miền Nam.

Mục tiêu của MT :

« đoàn kết các tầng lớp nhân dân, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo và nhân sĩ yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, để thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập tiến tới hòa bình thống nhứt tổ quốc. »

MT là một « thực thể chính trị » trực thuộc đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay), do cán bộ đảng CSVN lãnh đạo.

MT quan niệm chế độ VNCH là « ngụy, tay sai của đế quốc Mỹ ». Người Mỹ hiện diện ở miền Nam là « đế quốc », là « quân cướp nước ».

Cuộc chiến được gọi là cuộc chiến tranh « giải phóng ».

Thực thể chính trị MTGPMN được thế giới biết đến qua biến cố « tổng tấn công tết Mậu Thân 1968 ». Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN được thành lập ngày 8-6-1969. Thực thể này được VNDCCH cùng các nước trong khối cộng sản công nhận.

Ngày 30-4-1975 chính quyền VNCH sụp đổ. Trước các định chế quốc tế (mà chính quyền VNCH là đại diện cho một nước Việt Nam duy nhất), tên gọi Việt Nam Cộng Hòa đổi tên thành Cộng hòa miền Nam Việt Nam qua một số thủ tục đơn giản[i].

Việc « kế thừa » VNCH của CPCMLT tại các định chế quốc tế chỉ là việc « đổi tên nước ».

Điều cần ghi nhận, đại diện của Việt Nam Cộng Hòa tại các định chế quốc tế là đại diện cho một nước Việt Nam duy nhất và thống nhất, gồm ba miền Bắc, Trung, Nam. Trong khi CPCMLT chỉ đại diện cho miền Nam, tính từ vĩ tuyến 17.

Điều ghi nhận khác, sau 30-4-1975, VNDCCH cũng xin gia nhập vào các định chế quốc tế thuộc LHQ[ii].

Lập trường một quốc gia Việt Nam duy nhất, xác định theo Hiệp định Genève 1954 và Hiệp định Paris 1972, có hiệu lực từ 1954 đến 1975, được hai bên CPCMLT và VNDCCH đồng thuận hủy bỏ.

Tức là trong giai đoạn 30-4-1975 đến 2-7-1976, có hai nước VN : Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.

Việc thống nhứt đất nước 2-7-1976 như thế là thống nhứt giữa hai quốc gia.

2/  Sự kế thừa và liên tục quốc gia theo Luật quốc tế.

Điều 1 của Nghị quyết của LHQ về các vấn đề « kế thừa và sự liên tục quốc gia » qui định :

« Sự kế thừa của quốc gia là sự thay thế quốc gia đó trong trách nhiệm về những quan hệ quốc tế liên quan đến lãnh thổ. »

Điều 2 của Nghị quyết :

« Sự kế thừa của quốc gia bao gồm những tình huống : a/ quốc gia giải thể (gián đoạn, không có kế thừa), b/ chuyển nhượng, tức chuyển giao vùng lãnh thổ của quốc gia này cho một quốc gia khác (có sự liên tục của hai quốc gia, từ quốc gia chuyển nhượng sang quốc gia kế thừa), c/ ly khai, tức một lãnh thổ tách rời tự thành lập một quốc gia khác (liên tục quốc gia tiền nhiệm với sự thành lập một quốc gia mới), d/ những trường hợp thống nhất của hai hay nhiều quốc gia (sự liên tục của quốc gia với sự kết hợp của quốc gia này vào một quốc gia kia hay tính gián đoạn của hai hay nhiều quốc gia với sự thành lập một quốc gia mới). »

Nước CHXHCNVN được thành lập do việc thống nhứt hai quốc gia VNDCCH và CHMNVN. Vấn đề kế thừa lãnh thổ, theo hướng đẫn của Nghị quyết LHQ, vì vậy phải tuân thủ.

Động thái này nhằm tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết ước, hay các tuyên bố của nhà nước (hay quốc gia) tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác.

Bà Monique Chemilier-Gendreau, trong tập La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys [iii] viết :

« Như vậy, chính quyền Sài Gòn, và chỉ chính quyền này mới được phát biểu về vấn đề các đảo HS và TS. Họ đã làm các việc đó. Họ đã làm việc đó với tư cách là người thừa kế các quyền của nước Việt Nam trong giai đoạn tiền thuộc địa. »

Điều 3 của Nghị quyết của LHQ về các vấn đề « kế thừa và sự liên tục quốc gia » :

« Sự liên tục của quốc gia có nghĩa là tính cách pháp nhân của quốc gia trong luật pháp quốc tế vẫn tồn tại bất chấp những thay đổi về lãnh thổ, dân số, hệ thống chính trị - pháp lý và quốc hiệu. »

Cho thấy tư cách pháp nhân của quốc gia Việt Nam không thay đổi từ nhà nước phong kiến sang nhà nước bảo hộ cho đến nhà nước VNCH. Chủ quyền của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa được thể hiện liên tục, từ các nhà nước phong kiến, chuyển sang nhà nước thuộc địa Pháp, sau đó là VNCH.

Nhà nước VNCH đã kế thừa và thể hiện các quyền của quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau 30-4-1975, Nhà nước CPCMLT đã có các động thái nào nhằm thay thế chính quyền VNCH về các vấn đề lãnh thổ, đặc biệt tại Hoàng Sa và Trường Sa ?

Tương tự, sau năm 1976, nhà nước CHXHCNVN đã thể hiện các hình thức kế thừa nào, trước quốc tế, để khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS ?

Quốc tế cần phải biết thái độ của các chính phủ mới về chủ quyền của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này cần thiết. Ở Trường Sa, một số nước đã chiếm đảo của VN một cách trái phép. Trong khi ở Hoàng Sa thì TQ đã xâm lăng quần đảo này bằng vũ lực tháng 2 năm 1974.

Việc lên tiếng không chỉ là cần thiết mà còn là bắt buộc, nếu các nhà nước VN, sau 30-4-1975, muốn khẳng định chủ quyền ở hai quần đảo này.

Tháng giêng 1974, nhân việc Trung Quốc đem quân xâm lược chiếm quần đảo Hoàng Sa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam có tuyên bố  lập trường của mình. Theo đó nhìn nhận có việc tranh chấp đồng thời cho rằng « chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc ». Tờ Le Monde số ngày 27 loan tin « đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị La Cell St-Cloud đã bác bỏ đề nghị của Sài Gòn ra một nghị quyết chung lên án việc Trung Quốc dung vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa ».

Thái độ của CPCMLT sẽ không thuyết phục, nếu cho rằng chính phủ này đã khẳng định chủ quyền của VN tại Hoàng Sa.

« Lãnh thổ là thiêng liêng » thì không thể chỉ đơn thuần « bảo vệ » lãnh thổ bằng lời nói hay bằng thái độ của kẻ ngoại cuộc.

Trong khi nhà nước VNDCCH thì hoàn toàn im lặng trước hành vi xâm lăng của Trung Quốc. Bộ Ngoại giao Liên Xô thì lên án mạnh mẽ hành vi này.

Theo tập quán quốc tế, người ta xem thái độ giữ im lặng của một quốc gia trước động thái của một quốc gia khác là sự mặc nhiên đồng thuận về động thái đó. Thái độ im lặng của chính phủ VNDCCH trước việc TQ xâm lăng HS có ý nghĩa pháp lý là thái độ mặc nhiên đồng thuận về việc TQ « giải phóng HS ».

Phía VNCH, dĩ nhiên, chính phủ này đã phản kháng mạnh mẽ, bằng vũ lực tự vệ và bằng mọi nỗ lực ngoại giao, đúng như thủ tục cần thiết theo qui định của quốc tế trong vấn đề bảo vệ lãnh thổ.

Từ đó, cho đến khi thống nhất đất nước, các chính phủ CMLT và VNDCCH không có động thái nào khác nhằm khẳng định chủ quyền của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Trên nguyên tắc, sau khi VNCH giải thể, không có nhà nước kế thừa, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trở thành vô chủ.
Điều nên biết, lập trường của Hoa Kỳ, VNCH là một quốc gia bị giải thể[iv] :

The Republic of Viet Nam, both of a state and government, had ceased to exist in law or fact and the United States had not recognized any government as the sovereigh authority in the territory formerly known as South Viet Nam
Tạm dịch: Việt Nam cộng hòa, quốc gia và chính quyền, đã ngừng hiện hữu trên phương diện pháp lý và thực tế. Hoa Kỳ không công nhận bất kỳ nhà nước nào trên vùng lãnh thổ trước kia mang tên Nam Việt Nam.

3/ Quốc gia Cộng hòa Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam có kế thừa HS và TS từ VNCH ?

Ngày 2-7-1976 hai nước VNDCCH và CHMNVN hiệp thương thống nhứt đất nước. Với tư cách một quốc gia khác, sau khi thống nhứt đất nước, CHXHCNVN có kế thừa VNCH hay không ?

VNDCCH luôn quan niệm VNCH là một chính quyền « tay sai của ngoại bang », là « ngụy » cần phải lật đổ. Trên lý thuyết không thể hiện hữu vấn đề kế thừa.

Bà Joële Nguyên Duy-Tân[v] có đặt vấn đề :

« La R.D.V.N. avait toujours nié théoriquement l'existence d'un Etat au Sud, en particulier celui de la R.V.N. La R.S.V.N. peut-elle succéder à une entité inexistante pour elle?
Tạm dịch : VNDCCH luôn cương quyết phủ nhận sự hiện hữu của một quốc gia ở miền Nam, tức VNCH. CHXHCNVN có thể kế thừa một thực thể mà họ đã quan niệm là không hiện hữu ?

Tài liệu thuộc Bộ Ngoại giao Pháp, ngày 9-9-1978, cho thấy CHXHCNVN từ chối kế thừa di sản của thực dân Pháp (chuyển sang VNCH) :

A la suite de la disparition de la République du Sud VN, le nouveau gouvernement de VN n’a pas fait la déclaration indiquant qu’il entendait succéder aux traités des 16 Septembre 1954 et 16 Aout 1955, conclus entre la République française et l’ancien gouvernement Sud Vietnam. Il en résulte, conformément au principes du droit international actuel en matière de question du succestion d’Etat, que ces traités n’engagent plus le gouvernement actuel de VN et qu’il sont devenus caduc.[vi]

Tạm dịch : Tiếp theo sự biến mất của Cộng hòa miền Nam, chính phủ VN mới đã không ra tuyên bố cho biết họ kế thừa các hiệp ước 16-9-1954 và 16-8-1955, ký kết giữa Cộng hòa Pháp và chính phủ miền Nam VN cũ. Vì vậy, chiếu theo các nguyên tắc của luật quốc tế hiện thời về vấn đề kế thừa quốc gia, các hiệp ước này không còn ràng buộc chính phủ VN hiện thời và chúng trở thành vô giá trị. 

Một loạt các hành động khác, như CHXHCNVN ký kết vào hiệp ước « Không phổ biến vũ khí nguyên tử » với tư cách một quốc gia mới, từ chối kế thừa VNCH[vii]. 

Tuyên bố CHXHCNVN gởi chính phủ Thụy Sỹ, dẫn từ Conrad G. Buhler, nhìn nhận CHXHCNVN “liên tục” với quốc gia tiền nhiệm VNDCCH :

The S.R.V will continue the participation of the DRV and the RSV in the four “Geneva convention of 1949” concerning the protection of war civil victims with the same observations as those set forth by the DRV and the SRV.

Ta thấy trong văn bản trên, VN đã sử dụng chữ “sẽ tiếp tục” thay vì “kế thừa” VNDCCH.

Tính liên tục quốc gia đã được thể hiện : di sản của VNDCCH được chuyển sang CHXHCNVN. Việc này càng rõ rệt hơn khi ta nhận thấy đảng lãnh đạo nhà nước VNDCCH trước kia và đảng lãnh đạo nhà nước CHXHCNVN hôm nay là một : đảng CSVN.

Vấn đề kế thừa chính phủ CMLT cũng không đặt ra. Những người lãnh đạo chính phủ này cũng là nhân sự của đảng CSVN.

Tóm lại, nhà nước CHXHCNVN là nhà nước tiếp nối nhà nước VNDCCH.

4/ Muốn giữ Biển Đông là phải kế thừa di sản VNCH.

Năm 1988, Trung Quốc chiếm một số đảo Trường Sa bằng vũ lực. Phía VN đã không đưa vấn đề ra Hội đồng Bảo An LHQ cũng như kiện TQ ra trước Tòa án Công lý quốc tế. Thời điểm này, CHXCNVN đã gia nhập LHQ, có đủ tư cách pháp nhân (mà phía VNCH trước kia không có) để kiện (hay thách thức kiện) TQ.

Đầu thập niên 90, TQ đã cho phép công ty dầu khí của Hoa Kỳ khai thác tại vùng Tứ Chính – Vũng Mây (Vạn An Bắc, gọi theo TQ). VN có nhờ tổ hợp Luật sư Hoa Kỳ thiết lập hồ sơ, có lẽ có ý định « kiện » công ty dầu khí Crestone, chứ không nhằm kiện TQ.

Vấn đề đặt ra, tại sao nhà nước CHXHCNVN, vừa có tư cách pháp nhân cũng như đầy đủ lý lẽ để kiện TQ, nhưng nhà nước này lại im lặng ?

Bởi vì, nhà nước này không thể kiện TQ.

Nhà nước CHXHCNVN có nghĩa vụ tôn trọng những kết ước, những tuyên bố về một vấn đề quốc tế... của nhà nước tiền nhiệm VNDCCH. Trong đó có việc nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS.

Trong thập niên 90, nhân có các vụ xung đột tại TS, nhiều học giả, chuyên gia về luật quốc tế đã viết những tác phẩm về tranh chấp giữa hai nước Việt Nam và TQ về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phần lớn các học giả này nhìn nhận rằng VN đã phạm « Estoppel ». Theo họ, VN đã nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS trong một thời gian dài, đã hưởng lợi từ Trung Quốc, thì bây giờ không thể nói ngược lại.

Điều này đã thể hiện qua thái độ của nhà nước CHXHCNVN. Mặc dầu bị phía TQ lấn lướt (đến mức không thể chịu đựng) nhưng họ luôn chịu nhịn, không đưa vấn đề ra tòa án quốc tế.

Thái độ này dầu vậy hợp lý. Bởi vì, việc kiện tụng, nếu xảy ra, phía VN có rất ít hy vọng thắng. Nhưng nếu thua thì mất hết.

Mất Hoàng Sa và Trường Sa, vùng biển kinh tế độc quyền của VN sẽ bị thu hẹp, nếu không nói là mất cả Biển Đông. TQ có đủ lý do để đặt các luật lệ cấm đánh cá, hay mở rộng vùng Nhận diện Phòng không trên khu vực các đảo này, tức bao trọn biển Đông. VN sẽ bị cô lập.

Nhưng nếu không làm gì hết, TQ cũng sẽ lần hồi thâu tóm các đảo TS, chiếm trọn Biển Đông.

Lối thoát cuối cùng cho VN là kế thừa di sản VNCH, thông qua phương pháp hòa giải quốc gia và dân chủ hóa chế độ.

Hòa giải quốc gia để kế thừa danh nghĩa VNCH. Dân chủ hóa chế độ để đoạn tuyệt với di sản VNDCCH. Từ đó VN mới có danh nghĩa để mà đưa vấn đề tranh chấp ra trước một trọng tài quốc tế.

Một khi đã kế thừa di sản VNCH, nhà nước VN mới sẽ xúc tiến việc kiện tụng. Nhưng không bắt đầu bằng kiện TQ (vì nước này không chấp nhận mọi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quốc tế). VN nên kiện Phi trước, vì nước này chiếm trái phép của VN các đảo Trường Sa. Kết quả vụ kiện này, nếu VN thắng (phần chắc) thì sẽ thắng lý ở Hoàng Sa. Dựa vào đó, VN làm « vốn » thương lượng với TQ nhằm phân định vùng biển và thềm lục địa chung quanh các đảo Hoàng Sa.

Trong khi việc dân chủ hóa chế độ còn phù hợp với ý định « thay đổi thể chế » của một vị lãnh đạo. Vấn đề là mọi người đặt quyền lợi đảng phái lên trên hay quyền lợi của đất nước lên trên ?

NGUỒN: Blog Truong Nhân Tuấn " Những Vấn Đề VN" https://nhantuantruong.blogspot.com/2014/01/hoang-sa-va-truong-sa-van-e-ke-thua.html

[i] Nguyen Duy Tan Joële. La représentation du Viet-Nam dans les institutions spécialisées. In: Annuaire français de droit international, volume 22, 1976. pp. 405-419. doi : 10.3406/afdi.1976.1996 http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1976_num_22_1_1996
[ii] Nguyen Duy Tan Joële, đã dẫn.
[iii] Monique Chemillier-Gendreau – La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys – NXB Harmattan 1996, page
[iv] Conrad G. Buhler, in State Succession and Membership in International Organisations – Legal Theories versus Political Pragmatism, tr94-103…sdd, tr 107.
[v]  Nguyen Duy Tan Joële, đã dẫn.
[vi] Conrad G. Buhler, State Succession and Membership in International Organisations – Legal Theories versus Political Pragmatism, tr 107.
[vii] Conrad G. Buhler, sdd, tr. 87.
LÀM GÌ ĐỂ ĐỒNG QUI TÂM VỚI SÁNG TỔ
 NGUYỄN LỘC TRONG MÙA GIỖ THỨ 60


Mùa giỗ của sáng tổ năm nay lại về, tất cả võ đường VoViNam khắp nơi trên thế giới và ở VN,  đang sửa soạn chuẩn bị cho mùa giỗ lần thứ 60, nhằm tưởng nhớ đến nhà khai sáng môn phái Vovinam, ông luôn cổ võ tinh thần yêu nước và truyền thống đấu tranh vương đạo trong làng võ Việt, lấy "Cách mạng tâm thân "làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của môn phái. 

Tới đây, người trẻ chúng tôi, là hậu bối trong môn phái xin mạn phép được đặt một câu hỏi nhỏ nơi quí đồng môn: " Quí đồng môn từng nghiêm lễ trước bàn thờ tổ, nhưng có bao giở thử tự vấn lương tâm mình là đã làm đúng những gì mà sáng tổ của chúng ta từng kỳ vọng??". 


Thưa quí đồng môn,

Sáng tổ của chúng ta thấm nhuần hệ tư tưởng "CÁCH MẠNG TÂM THÂN", ông đã hoà mình vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc bằng một chiến lược lâu dài, mới mẽ - với ước mơ đem dân tộc thoát khỏi sự cai trị của bạo quyền thực dân, lẩn cộng sản, đó là chính là hướng đi của sáng tổ vào lòng dân tộc. Sáng tổ là một phần tử của cộnđồng dân tộc VN, Ông không phải là cánh tay trái hay mặt của một chế độ chính trị. Đứng ngoài các thế lực chính trị, đó là ý nghĩa của cụm từ " Môn phái Vovinam không làm chính trị". 
Từ lâu câu nói đó đã bị khai thác sai lệch, chúng tôi là những hậu bối, nhưng biết được việc này, là do tâm tình với một vài môn sinh Vovinam từng sinh hoạt với môn phái vào thời điểm 1966. Các cựu môn sinh này đã cho biết, phần lớn một số võ sư trong môn phái đã hiểu lầm câu nói  "VVN không làm chính trị" ghi trong qui lệ của MP năm 1964. Và cụm từ này, sau khi VVN đã bị quốc doanh, thì càng được đảng csVN khai thác triệt để trong sinh hoạt của các võ đường trực thuộc Liên Đoàn VVN Việt Nam và Quốc Tế qua trung gian của cái bình phong "Hội Đồng Chưởng Quản Môn Phái" - một thứ con rối của đảng bộ VoViNam.




"Không làm chính trị", tức là tầng cao nhất của việc làm chính trị. Không làm chính trị không có nghĩa là vô cảm với đất nước và dân tộc, mặc cho bạo quyền dày xéo dân tộc, đưa đt nước đi vào quỉ đạo nô lệ Trung Cộng, để rồi những người môn sinh chúng ta đều phải chia nhau trọng tội bán nước ngang với đảng csVN, đồng loả  dâng đất tổ, biển đảo cho giặc Tàu. 

Là môn sinh VVN chân chính chúng ta cần phải hiểu: "Không làm chính trị tức là không tham gia vào sinh hoạt của đảng cầm quyền", nhưng dứt khoát không được vô cảm trước sự an nguy của tổ quốc, khi mà đảng cầm quyền không có khả năng bảo vệ sự toàn vẹn đất nước,  Hoàng Sa, 1/3 Trường Sa và một phần lãnh thổ VN đang nằm trong tay giặc Tàu. Nếu chúng ta cứ tiếp tục im lặng để đất nước lần lượt rơi vào tay giặc xâm lược Bắc Kinh, thử hỏi, chúng ta có còn xứng đáng là những di sản của sáng tổ Nguyễn Lộc??

Là một Việt Võ Sĩ, chúng ta nhất quyết không thể tiếp tay cho một chế đ đã không làm tròn trách nhiệm trong việc mang hạnh phúc cho quốc dân đồng bào và bảo v sự toàn vẹn của lãnh thổ của cha ông đã để lại. 45 năm sau ngày cướp được miền nam VN. Đảng csVN đã hiện nguyên hình là một chế độ bạo quyền, không phải là một chính quyền "vì dân". Việt Võ Sĩ, chúng ta phải hiểu ngày nay Ải Nam Quan, núi Lão Sơn, 1/2 Thác Bản Giốc, hang Pắc Bó, 11.000km2 trong vùng Vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa và một số đảo trong  khu vực Trường Sa, tại sao bị mất vào tay giặc Tàu? Khi chúng ta chưa ý thức được tình yêu quê hương và dân tộc, thi xin đừng nên xa vời v hướng tiến tới NHÂN VÕ ĐẠO. Nói như thế để quí đồng môn soi rọi lại khả năng của bản thân mình, ai là người có thể đạt tới được tầng cao nhất là NHÂN VÕ ĐẠO trong suốt chiều  dài hành đạo để phát triển MP VoViNam-Việt Võ Đạo?? Hay cũng chỉ là những giấc mơ nơi người môn sinh VVN - một con đường đi không bao giờ tới đích.
Hôm nay trong dịp giỗ lần thứ 60, nếu còn được dịp đứng trước chân dung của sáng tổ, mổi người trong chúng ta phải tự hứa là nên dành hết thời giờ còn lại để hoàn thành các ước vọng của sáng tổ về cuộc cách mạng dân tộc được  bắt đầu bằng cuộc "cách mạng tâm thân" do sáng tổ chủ trương - Một sự đồng qui cao nhất trong tình yêu dân tộc và tổ quốc.

ĐÂU LÀ HƯỚNG NHẬN ĐỊNH ĐÚNG CỦA MỘT VIỆT VÕ SĨ

Sáng tổ chúng ta tự biết "Dân vạn đại, quan nhất thời" nên người đã chọn con đường phục vụ dân tộc, không bám vào quyền lực chính trị của từng giai đoạn nhất thời của lịch sử. Tư duy của võ sư Nguyễn Lộc - môn phái Vovinam phải thật vững vàng trong lòng dân tộc, không đứng dưới cây dù của bạo quyền. 

Nhìn sinh hoạt Vovinam trong nước để nhận ra được chân dung những võ sư đang sống dưới cây dù của đảng csVN,  họ đã và đang đi ngược với con đường của sáng tổ đã đi. Sáng tổ Nguyễn Lộc khi còn sống đã lèo lái con thuyền Vovinam vượt hai ngọn sóng dử, thực dân Pháp cướp nước và Việt Minh (tiền phong của đảng csVN). Cần nói thêm về Việt Minh (VM), là một lực lương do ông hồ chí minh lãnh đạo, một thế lực chính trị bất chấp thủ đoạn để cướp chính quyền,  dùng vũ lực để triệt hạ  trấn áp các giai cấp khác và làm tay sai cho cộng sản đệ tam quốc tế. Trong việc cướp chính quyền, VM từng ra tay sát hại nhiều tổ chức chính trị của người yêu nước và các đảng phái quốc gia trong những năm từ 1940 kéo dài đến 1956, sau đó còn phát động việc Cải Cách Ruộng Đất giết hại 175.000  dân vô tội ở miền Bắc, sau khi đã nắm chính quyền thật sự ở miền Bắc vào ngày 2.9.1945 - đó cũng là nguyên nhân đã làm một triệu người đã bỏ miền bắc, nơi chôn nhau cắt rún để di cư lánh nạn vào nam năm 1954, trong đó có sáng tổ và những môn đệ tâm huyết của người.

Vào thập niên 1940, sáng tổ chúng ta đã từng từ chối cộng tác với Việt Minh, một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản, núp dưới CHIÊU BÀI YÊU NƯỚC giải phóng VN trong tay thực dân Pháp, nên đã lường gạt lòng yêu nước của nhiều giai cấp trong xã hội bấy giờ, trong đó có sáng tổ của chúng ta. Nhưng, sau một thời gian, sự việc bại lộ, bộ mặt đích thật của VM chỉ là thứ  tay sai quốc tế, từ đó những người yêu nước chân chính đã rời bỏ tổ chức này vì nhận ra được, là mình đã lầm khi đi theo VM một tổ chức của đệ tam quốc tế  cộng sản, là con rối của Stalin và Mao Trạch Đông trong việc nhuộm đỏ Đông Dương.
Thấy được bộ mặt dã man tàn ác của bạo quyền cộng sản, sáng tổ đã chấm dứt việc tiếp tay với Việt Minh vì lầm đó là tổ chức kháng Pháp đứng đắn. Sau đó, khi đất nước bị chia đôi vào năm 1954. Võ sư sáng tổ chúng ta đã di cư vào nam với toàn bộ gia đình. Việc sáng tổ di cư vào nam,  đã báo cho chúng ta biết chế độ do người cs cầm quyền là một: "bạo quyền không thể cộng tác được. " Sáng tổ cũng đã thầm nói với chúng ta về lập trường nhất quán của người trong việc từ chối cộng tác với bạo quyền csVN ở miền bắc. Tới năm 1975, một lần nửa gia đình sáng tổ lần thứ hai di tản ra hải ngoại, đó cũng là lần thứ hai gia đình sáng tổ xác quyết lập trường không sống chung, không cộng tác với bạo quyền csVN. Chúng ta cần phải biết, nếu như  sáng tổ và gia đình sáng tổ có ý định cộng tác với cộng sản, sao người cộng sản đến đâu là gia đình sáng tổ phải chạy bỏ lại quê hương đến đó?? Quí đồng môn trong nước cũng nên tự đặt câu hỏi như thế để tìm ra một giải đáp đứng đắn, có như thế mới biết được, mình đang ở hướng nghịch hay thuận với sáng tổ và môn phái VVN chính thống?
Những môn sinh chân chính của Vovinam-Việt Võ Đạo muốn đứng vững trong lòng dân tộc thì phải biết đồng qui Tâm và THÂN để cùng với toàn dân xây dựng một xã hội công bằng, nhân bản hạnh phúc trong một không khí dân chủ tự do, hầu đưa đất nước VN bắt kịp với nếp sống văn minh tiến bộ của cộng đồng đi lên trong thế giới tự do. Sáng tổ Nguyễn Lộc với chủ thuyết "Tâm thân cách mạng", ông đã cố gắng đào tạo một lớp người mới toàn vẹn bằng cách luyện tập VVN để có thân cường tráng, một sức khoẻ dẻo dai, bền bỉ phong phú - để có thể bám  trụ và hoàn thành  các mục tiêu cuối cùng của cuộc "cách mạng tâm thân". 

Tóm lại, điều chúng tôi muốn tâm sự với quí đồng môn trong mùa giỗ thứ 60 lần này, chính là những môn sinh chúng ta phải cố gắng làm đúng những ý nguyện của sáng tổ trong cuộc cách mạng dân tộc bằng " chủ thuyết cách mạng tâm thân". Để có thể lấy lại được những gì đã mất vào trong tay Trung Cộng như các vùng lãnh thổ: Hoàng Sa , Trường Sa, núi Lảo sơn, 1/2 Thác Bản Giốc, 11.000 km2 của vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ ...và một số đất đai dọc biên giới Trung -Việt  mà bạo  quyền csVN đã dâng bán cho TQ. Là Việt Võ Sĩ chúng ta hãy làm theo những gì sáng tổ đã từng làm trong quá khứ với giặc Pháp và giặc cộng trên vào những thập niên 40-50 của thế kỷ 20. Mượn bài thơ của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh để chúng ta cùng soi rọi lại tinh thần Việt Võ Sĩ của một môn sinh VoViNam chính thống.

Sống mà vô dụng, sống làm chi
Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?
Sống trái đạo người, người thêm tủi
Sống quên ơn nước, nước càng khi.
Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn
Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ
Sống sao nên phải, cho nên sống

Sống để muôn đời, sử tạc ghi.
( Nguyễn An Ninh)



Nghiêm lễ!
Hậu bối , Lý Bích Thuỷ, 22.04.20202.