CHUYỆN BUỒN THIÊN ĐƯỜNG XHCNVN!!
MỘT LŨ NGƯỜI VÔ DỤNG !

Theo Nhà báo Bạch Hoàn: "Một lũ người vô dụng, tiêu xài 155 tỷ / năm mà không biết làm gì"!Đó chính là những nhân vật trong cái gọi là "Hội phụ nữ Việt Nam"

Tôi đọc đi đọc lại lá đơn xin từ bỏ Tự Do của chị L., người phụ nữ bị hiếp dâm ở Long An trong tình huống kẻ ác cầm dao doạ giết hai con chị, nhưng cơ quan điều tra lại không khởi tố vụ án hình sự với kẻ hiếp dâm vì cho rằng không có hành vi phạm tội.

“Tôi không còn muốn làm một công dân bình thường do các ông quản lý nữa. Tôi muốn trút bỏ… Bây giờ các ông đã dồn tôi vào bước đường cùng, đã ngay từ đầu áp bức tôi từ một nạn nhân trở thành một con tội phạm điên loạn, nguy hiểm”.

Mỗi lần đọc những câu chữ ấy, tôi đều tự hỏi, có phải vì phận là phụ nữ, sinh ra đã luôn phải nhận phần thiệt thòi, đã luôn phải chịu khổ đau, bất hạnh về mình?

Mỗi lần đọc những đắng cay đến tận cùng kia, tôi tự hỏi, lẽ nào, dưới gầm trời này, sống là một con người lại khó đến như vậy hay sao?
Mỗi lần đọc lá đơn xin từ bỏ tự do vì thấy ngang trái và bế tắc của người phụ nữ khốn khổ kia, tôi đều tự hỏi, Hội phụ nữ Việt Nam, với 5 người lãnh đạo hội đều là phụ nữ, họ đã ở đâu, đã làm cái gì trong suốt những ngày qua?

Hội phụ nữ Việt Nam, chức năng của họ là đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ (lẽ ra họ chỉ nên dùng từ phụ nữ, không phân biệt tầng lớp). Nhiệm vụ của họ được nêu rất rõ là phản biện xã hội, là giảm sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ.

Vậy nhưng, trước một thân phận phụ nữ đang khẳng định mình bị oan khiên và tủi nhục gây ồn ào, gây phẫn nộ trong dư luận nhiều ngày qua, Hội phụ nữ Việt Nam đã làm gì cho người phụ nữ ấy? Các chị lãnh đạo cái hội này đã thăm hỏi, đã động viên, đã đứng ra xem xét vụ việc chưa? Nếu có oan khiến thực sự, thì họ đã lên tiếng bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người phụ nữ ấy chưa?

Họ như mù khi tỏ ra như không nhìn thấy lá đơn xin trút bỏ tự do – một lá đơn thể hiện sự tột cùng của nỗi bất lực.

Họ đang tỏ ra như điếc khi không nghe thấy tiếng kêu đầy đau đớn của một phận người và sự phẫn nộ đến mức cạn kiệt niềm tin vào lẽ công bình của dư luận những ngày qua.

Họ như câm khi chẳng hé miệng nói lấy một lời đồng cảm của những người phụ nữ với nhau, của lương tri con người với nhau, chứ chưa nói đến chức phận là lãnh đạo của một hội đại diện cho quyền lợi phụ nữ ở đất nước này.

Tôi tìm kiếm trên Google bằng cụm từ khoá “Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Chủ tịch Hội phụ nữ Việt Nam”. Kết quả bằng hình ảnh chỉ là một bà Thu Hà với những trang phục lúc nào cũng rực rỡ, với mái tóc lúc nào cũng mượt mà, gương mặt lúc nào cũng trang điểm tỉ mỉ. Đó là một Thu Hà trong nhung lụa, trong một thế giới sáng rực đèn hoa, đối lập với những cuộc đời xám xịt của quá nhiều phận phụ nữ ngoài kia.

Hội phụ nữ Việt Nam, mỗi năm tiêu xài hết 155 tỉ đồng tiền ngân sách. Từng đồng, từng cắc đều là mồ hôi của nhân dân, là xương máu của nhân dân, mà ở đó có những giọt nước mắt mặn đắng của người phụ nữ. Tiêu xài những đồng tiền ấy mà lại vô cảm như vậy sao? Không, nói đúng hơn là vô dụng đến vậy hay sao?

Nguồn:https://thoibao.today/paper/nha-bao-bach-hoan-mot-lu-nguoi-vo-dung-tieu-xai-155-ty-nam-ma-khong-biet-lam-gi-2487160
SỰ LỪA BỊP LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG CS VỀ NGÀY 20.10.1930
VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ DƯỚi CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN


Theo tuyên truyền của Ban Tuyên Giáo, đảng Cộng sản Đông Dương thành lập ngày 3/2/1930. Trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng có ghi: “Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.
Năm 1930, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (XVNT) lên cao. Có tới gần 13 ngàn phụ nữ tham gia cùng nhân dân đấu tranh, thành lập chính quyền. Chính vì thế, chỉ một thời gian ngắn sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, ngày 20-10-1930, Hội Phụ nữ phản đế Việt Nam cũng được thành lập. Đảng Cộng sản cũng coi đây là ngày tôn vinh chị em phụ nữ.
Đây chỉ là sự lừa bịp của đảng CS về phong trào XVNT!!!
Hồ chí minh và đảng cộng sản VN đã đánh tráo lịch sử cũng như chôm Crédit từ những đảng phái quốc gia hoặc những phong trào yêu nước kháng Pháp trong lúc đảng mới thành lập năm 1930. Mục đích tâng bốc công trạng khống với trùm đệ tam quốc tế Stalin để tỏ bản chất trung thành của mình với tên đồ tể số 1 thế giới này, trong lúc HCM đang đi tìm kiếm một thế đứng và sự hậu thuận của đệ tam quốc tế cộng sản.
Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) ban đầu là cuộc nổi dậy của nông dân, không có sự tham gia, chứ đừng nói là lãnh đạo, từ đảng cộng sản
Xô Viết Nghệ Tĩnh là sự lừa đảo đầu tiên ĐCSVN thực hiện . Theo ĐCSVN, "ngay sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân trong cả nước đứng lên đấu tranh, đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm (1930-1931)" (ĐCSVN 2012). ĐCSVN tuyên bố rằng "Xô-viết Việt-nam đầu tiên trong lịch sử Đảng ta - là sự phát triển tất yếu cho cao trào đấu tranh cách mạng của công nhân và nông dân cả nước ta trong những năm 1930-1931" (ĐCSVN 1976, 205). Cũng nên biết rằng năm 1930 Hồ chí minh hoàn toàn không có một Crédit nào trong ngân hàng "chống pháp cứu nước", lục lượng còn quá yếu kém và bị lu mờ trước thành quả của Việt Nam Quốc Dân Đảng, và không ai biết đến Hồ chí minh, đảng cộng sản Đông Dương và các nhân vật như Nguyễn thị Minh Khai, người dân lại không biết gì về cái gọi là Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh mà đảng cs từng viết vào lịch sử đảng. Người dân miền bắc nói riêng và cả nước nói chung, họ chỉ biết đến Nguyễn Thái Học, Cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh...và các phong trào kháng Pháp như Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, Phong Trào Đông Du , Phong Trào Duy Tân, Việt Nam Quốc Dân Đảng ....Còn cái gọi là Hội Phụ Nữ Phản Đế của đảng cs Đông Dương thì không một ai được biết, vì Hội Phụ Nữ chỉ là tác phẩm có trong trí tưởng tượng của các sử nô cộng sản.
Thực ra, cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh ban đầu là một cuộc nổi dậy của nông dân, không có sự tham gia, chứ đừng nói là lãnh đạo, từ Đảng cộng sản Đông dương (ĐCSĐD), tiền thân của ĐCSVN (Duiker 1973, 198; Bernal 1981, 159; McLane 1966, 147-157). Cũng không có gì tương tự như chính quyền địa phương "Xô-viết."
Nguyên nhân chính của phong trào là "nông dân bất mãn về điều kiện kinh tế" (Duiker 1973, 192). Đặc biệt, ở Nghệ An, "mùa lúa gạo tháng mười năm 1929 và tháng năm 1930 đều tệ" (Bernal 1981, 157). ĐCSVN (hoặc ĐCSĐD - lúc ấy) có thể miễn cưỡng tham gia chỉ sau khi cuộc nổi dậy trở nên thịnh hành bởi vì "đảng không chuẩn bị vào năm 1930 về tổ chức và về mặt lý thuyết cho một cuộc đối đầu quan trọng với chính quyền Pháp và... ban lãnh đạo đã nhận thức rõ rằng một cuộc nổi dậy là quá sớm" (Duiker 1973, 197) Do đó, Đảng "bị ép buộc vào vị trí hỗ trợ một cuộc nổi dậy mà họ không thực sự muốn" .
Nông dân thậm chí không biết lá cờ đỏ búa và liềm tượng trưng cho cái gì. Nhiều người nghĩ rằng lá cờ này là cờ chính phủ . "Bằng chứng dường như cho thấy lãnh đạo ĐCSĐD không khởi động các Xô viết, cũng không chấp thuận khi chúng xuất hiện, nhưng một khi phong trào được tiến hành, họ đành phải hỗ trợ chúng cho đến cùng" . "Không có tài liệu ghi chép nào về chỉ thị đặc biệt gửi đến miền Trung, chứ đừng nói là Nghệ Tĩnh" (Bernal 1981, 159). "Tuyệt đối không có dấu hiệu cho thấy các lãnh tụ cảm thấy thời cơ đã đến . Sự tham gia cộng sản trong cuộc nổi dậy, do đó, chỉ đơn thuần là một phản ứng với một việc đã rồi (Duiker 1973, 197)
Nhãn hiệu "Xô viết" được dùng để chỉ cuộc nổi dậy của nông dân? Đó là vì Hồ (Nguyễn Ái Quốc vào lúc đó) láu táu báo cáo với Quốc tế Cộng sản vào tháng 11 năm 1930, "Hiện nay ở một số làng đỏ, Xô-viết nông dân đã được thành lập" (trích dẫn trong Nguyễn 2001, 75). Trên thực tế, không có chính quyền địa phương Xô viết như vậy tại các làng Nghệ Tĩnh. Có những hội nông dân mới được thành lập, nắm quyền, và "thường tự xưng là xã bộ nông, cái danh xưng được giữ trong suốt phong trào" (Bernal 1981, 152).
Tuy nhiên, các lãnh tụ Đảng cộng sản "lập tức gọi các tổ chức đó là ‘Xô viết’". Các sử gia Đảng cs Việt Nam thừa nhận rằng "về chủ trương thành lập chính quyền Xô-viết thì hồi đó không đồng chí nào nhận được chỉ thị hoặc nghe phổ biến" (trích dẫn trong Nguyễn 2001, 75). Nếu vậy, tại sao Hồ gọi cuộc nổi dậy nông dân là một phong trào Xô Viết? Có thể có hai lý do: Hồ muốn làm hài lòng các cấp trên của mình trong Quốc tế Cộng sản, và Quốc tế Cộng sản gợi ý cho Hồ ý muốn của họ thúc đẩy cộng sản ở các nước ngoài thực hiện theo các thí dụ thiết lập bởi cộng sản Việt Nam (Nguyễn 2001, 76).
Bất kể chuyện gì đã khiến Hồ gọi cuộc nổi dậy là Xô viết, nhãn hiệu Xô viết và sự mô tả các cuộc nổi dậy nông dân là phong trào tiền phong cách mạng Đảng là mẩu chuyện PHỊA thuần túy. ĐCSVN chỉ giành công cho cuộc nổi dậy của nông dân,"chính yếu là dưới dạng các bài viết bởi kẻ tuyên truyền tài ba Trần Huy Liệu" (Dommen 2002, 44).
Thực ra, cái gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh được gây ra bởi phong trào quốc gia bắt đầu bằng cuộc khởi nghĩa Yên Bái (McLane 1966, 147-157, gọi cuộc khởi nghĩa Yên Báy là binh biến "Enbay"). Cuộc khởi nghĩa Yên Báy ngày 19.2.1930 và các cuộc nổi dậy tiếp theo bởi Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) bị Pháp dập tắt nhanh chóng. Nhiều thành viên của VNQDĐ, kể cả vị lãnh tụ nổi tiếng Nguyễn Thái Học, bị bắt giữ, xử, và hành quyết. Các hoạt động cách mạng quốc gia được hoan nghênh bởi cộng sản Liên Xô. Động lực của cuộc khởi nghĩa Yên Báy lan tràn sang các phần khác ở Việt Nam và dẫn đến các cuộc đình công ở Sài Gòn và các thành phố khác và các cuộc nổi dậy nông dân ở phần phía bắc miền Trung Việt Nam, đặc biệt là vùng Nghệ Tĩnh.
Xô Viết Nghệ Tĩnh là một gian lận nghiêm trọng bởi vì, không những cộng sản Việt Nam giựt công cho chuyện mà họ không xứng đáng, mà họ còn bỏ qua sự đóng góp và hy sinh đáng kể của nông dân Nghệ Tĩnh và VNQDĐ.
Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh mà đảng CSVN thường rêu rao cũng như sự nổi dậy của phụ nữ trong tháng 2/1930 chỉ là một đánh tráo tài khoản của Việt Nam Quốc Dân Đảng với đảng CSVN, là một sự gian lận nghiêm trọng bởi vì không những cộng sản Việt Nam giựt công cho chuyện mà họ không xứng đáng, mà họ còn bỏ qua sự đóng góp và hy sinh đáng kể của nông dân Nghệ Tĩnh và Việt Nam Quốc Đảng.
Đừng bao giờ tin những gì cộng sản sản nói, chỉ toàn là lừa dối và bịp bợm. Ngày phụ nử 20.10.1930 chỉ là một trò chơi bài lận của đảng bán nước CSVN. Đồng bào hãy sáng suốt nhìn lại những gì đảng nói và những gì đảng từng làm cho người phụ nữ VN trong 7 thập niên qua, để biết bộ mặt thật của bác và đảng trong các vấn đề phụ nữ:
1. Tội ác của HCM và ĐCSVN với bà Cát Hạnh Long, một người từng chứa chấp và nuôi dưởng HCM và các tên lãnh đạo của BCT đầu tiên. Bà CTL tức Nguyễn thị Năm đã gom vàng của mình để giúp HCM trong tuần lễ vàng, để HCM đút lót tướng Lư Hán năm 1945, khi quân Tưởng Giới Thạch vào VN giải giới quân Nhật. Bà Cát hạnh Long là nạn nhân đầu tiên của chiến dịch CCRĐ bị xử bắn, đến nay xác chưa cho thân nhân nhận về.

2. Các bà vợ của HCM như Tăng Tuyết Minh, Nông Thị Xuân Nguyễn thị Lạc, Nguyễn Thi Minh Khai, Nông Thị Vàng (em gái Nông Thị Xuân).....là những nạn nhân trong cuộc đời gian dâm của HCM. http://www.vietnamdaily.com/?c=article&p=99505
3. Người phụ nữ VN trong chế độ cộng sản chỉ là những con vật mà bác và đảng dùng để kiếm đô la nuôi đảng. Đảng đã đem phụ nữ đi rao bán khắp nơi với giá 6000 đô la, xuất khẩu phụ nữ đi lao động ra nước ngoài , buôn bán phụ nữ cho  Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan để làm vợ đàn ông các nước này...ngoài ra còn xuất cảng đỉ điếm ra nước ngoài để kiếm ngoại tệ nuôi đảng. Người phụ nữ VN chưa bao giờ bị xúc phạm nhân phảm đến mức khôn nạn như trong thời đại HCM.
4. Thảm thương nhất là những người phụ nữ tham gia biểu tình chống Trung Cộng xâm lược, những dân oan khiếu kiện bị đảng cướp mất đất đai đều đã được công an chăm sóc đến thương tích. Ngay những phụ nữ bị nhốt trong tù cũng bị tra tấn đến thương tích cùng mình...

Hơn bao giờ hết người phụ nữ VN cần sáng suốt và nhận định rõ được thực chất của những ngày Phụ Nữ như ngày 8.3 hay 20.10 chỉ nói lên được sự giả dối của bác và đảng, không mang ý nghĩa là vinh danh người phụ nữ như đảng từng rêu rao trong nhiều thập niên qua. Trên thế giới không có nước nào có nhiều ngày phụ nữ giả tạo như XHCHVN. Một tuồng hát nhằm xoa dịu nổi căm hờn của người phụ nữ VN sống trong chế độ bạo ngược, coi rẽ thân phận và nhân phẩm của người phụ nữ. Nhìn về quá khứ thân phận người phụ nữ VN trong thời Pháp Thuộc cũng chưa bao giờ bị đối xử tàn tệ như trong chế độ buôn dân bán nước CHXHCNVN.

Hãy nhìn thật rõ bản chất và việc làm của chế độ đối với chị em phụ nữ để đừng bị đảng csVN gạt gẫm thêm thân xác và sức lao động, nhằm vỗ béo cho các đảng viên và chế độ bạo ngược do người cộng sản cầm quyền.
Trong chế độ VNCH trước đây , ngày để vinh danh người phụ nữ là ngày giỗ của hai ba Trưng mồng sáu tháng hai Âm Lịch. Mặc dù chế độ VNCH không tồn tại lâu, nhưng trong chế độ đó chưa bao giờ nhân phẫm của người phụ nữ bị chà đạp, không bao giờ nhà nước cho đàn bà con gái trần truồng cho người ngoại quốc ngắm nghía để chọn vợ, lại càng, không bao giờ lạm dụng sức lao động của người phụ nữ, như xuất khẩu lao động để các nước khác bóc lột sức lao động của người phụ nữ. Và trong chế độ mà người cộng sản từng mạ lỵ là ngụy quyền, nhưng chưa bao giờ nhân dân thấy được cảnh phụ nữ đi bán dâm khắp nơi trên thế giới và tại các nươc láng giềng như trong chế độ XHCN ngày hôm nay.
Biên Khảo lịch sử
SỰ KHÁC BIỆT VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ
CỦA NGƯỜI SÀI GÒN VÀ HÀ NỘI


Thời Pháp thuộc, Sài Gòn là một cảng hàng đầu Đông Nam Á lại là đất thuộc địa nên sự phát triển thương mại đã diễn ra rất mạnh mẽ so với các tỉnh thành Việt Nam khác. Ngay từ những năm 30 của thế kỷ trước Sài Gòn đã là một đô thị đúng nghĩa với văn hóa dịch vụ thương mại phát triển, sự tiếp xúc với Tây Phương và khác nước khác đã làm người Sài Gòn thanh lịch tao nhã hơn so với người Hà Nội. Người miền Nam sống đơn giản nên mọi thứ đều thoáng và dễ chịu. Còn đối với người miền Bắc, họ sống phức tạp nên đã trở thành lối sống giả truyền thống từ khi văn hóa Marx do bác và đảng du nhập vào VN. Cuộc sống nghèo khổ vì không có quyền tư hữu, khí hậu thì khắc nghiệt từ đó đã hun đúc ra một lớp người trở nên nóng nảy, ngoan cố, ích kỷ, hẹp hòi, khoa trương vô lối (nổ)... thành ra văn hóa ứng xử của người miền bắc thua kém xa người miền Nam, càng không thể so sánh với người Sài Gòn.
Một nhà phê bình, ông Hoài Thanh, tác giả của cuốn sách bất hủ"Thi nhân Việt Nam" trong thời gian sống tại miền Nam đã chẹp miệng mà nói:"Người miền Nam, ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi rối rít. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào". Ngay trong cách nói này của ông cũng cho thấy rằng, văn hóa giao tiếp, ứng xử của người miền Nam... ăn đứt người miền Bắc.
Mặc dù Hà Nội là trung tâm, là cái nôi văn hóa nhưng nếu ai đó đã đến Hà Nội rồi thăm Sài Còn, họ đều có chung một nhận định văn hóa ứng xử của người Sài Gòn hơn hẳn người miền Bắc hàng trăm lần. Ở Sài Gòn, khi bạn bước vào siêu thị, cửa hàng... thấy những cô nhân viên cúi gập người chào là điều hết
sức bình thường. Thế nhưng ở Hà Nội, bạn sẽ xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó cúi gập người và nói lời cảm ơn - đó là chuyện hiếm thấy trên cả miền Bắc. Trong cách ứng xử và giao tiếp hàng ngày của người miền Bắc, họ có thể trước mặt người khác rất lễ phép, lịch sự nhưng ngay sau lưng họ lại chửi tục hoặc châm biếm hay rủa thầm, họ là những diển viên kịch rất hay trong sinh hoạt hàng ngày.
Văn hóa ứng xử giao tiếp của Sài Gòn và cả miền Nam trước 1975 là tương kính, dân chủ, bình đẳng, hào hiệp và sòng phẳng. Đó chính là nền tảng vững chắc của phong cách văn hóa giao tiếp và ứng xử của người Sài Gòn. Một lối ứng xử xuất phát từ nền tảng giáo dục nhân bản của VNCH đã thấm sâu vào tim óc của người Sài Gòn và miền nam VN từ vĩ tuyến 17 trở vào.
Từ sau ngày 30.4.1975, người Sài Gòn phải đối diện và va chạm với một loại người rất kém văn hóa, đó là đoàn quân với ngụy từ là " Quân giải phóng".
Trước những thách thức và thay đổi quá lớn về văn hóa ứng xử giao tiếp giửa con người với nhau trong sinh hoạt, người Sài Gòn xưa vẩn cố giử và truyền thụ phong cách văn hóa đó trong phạm vi gia đình. Ngày nay trong thành Hồ, muốn tìm lại cái văn hóa ứng xử đẹp của người Sài Gòn xưa như: tử tế , nhân bản, tương kính, lịch sự, hào hiệp, thì chúng ta nên tìm đến những nơi dạy học cho trẻ em, thùng trà đá, bánh mì, vá xe đạp, hớt tóc, thùng thuốc miển phí trên khắp các nẻo đường thuộc địa phận Sài Gòn. Đây là nét văn hóa thể hiện được cách sống của người Sài Gòn, đó là sống cho mình và cho người. Những nét văn hóa này rất khó có thể tìm thấy ở miền bắc. Ngày nay, cũng có những người Hà Nội đã bắt đầu học hỏi nét đẹp văn hóa đó của người Sài Gòn, họ cũng đã bắt đầu với những quán cơm rẽ tiền 3000 đồng /1 phần ăn, để giúp người nghèo. 

Theo sự nghiên cứu của chúng tôi, thì việc làm này trước đây ở Hà Nội chưa bao giờ có. Chủ nhân của quán cơm từ thiện ở Hà Nội đã từng cho biết là họ đã học cái phong cách này của người Sài Gòn và đem mô hình đó về Hà Nội để áp dụng.
Ra khỏi quán cơm từ thiện, trên khắp các đường phố của Sài Gòn và các vùng lân cận, người ta thường bắt gặp những đội bắt cướp của thanh niên Sài Gòn sùng sục ngày đêm để kịp thời ra tay ngăn chặn tội ác hình sự mà bọn cướp giật đường phố gây ra nhiều sự thiệt hại cho đồng bào của mình, họ không ngại nguy hiểm khi dấn thân trên con đường trượng nghĩa theo truyền thống của người Sài Gòn xưa.
Nét văn hóa ứng xử đậm chất SG luôn làm cho Sài Gòn giử được nguyên vẹn bản sắc truyền thống của người Sài Gòn xưa. Không như cái nôi văn hóa Hà Nội mang vào Sài Gòn, là bản chất côn đồ, gian trá, lưu manh của một tập đoàn cướp ngày trên khắp nẻo đường quê hương VN, một đám người hèn với giặc ác với dân có tên là đảng csVN.

SÀI GÒN VỚI NHỮNG QUÁN CƠM TỪ THIỆN,TÌNH THƯƠNG
Quán cơm từ thiện, quán cơm tình thương. Dù là với giá 2000d,3000đ hay 5000đ nhưng chúng ta đều biết mức giá này thì không thể có lãi, thậm chí lỗ rất nhiều. Vì một suất cơm rẻ nhất có thể mua cũng 10,000, 12,000. Còn ở Hà Nội với sài Gòn thì rẻ lắm cũng 20,000đ đến 30,000đ. Họ làm với tính cách giúp đời giúp người chứ không cần lãi , họ tích phước cho gia đình cho con cháu, hoàn toàn là bù lổ chứ không hề kiếm được một đồng lời nào từ việc mua bán này..
Ban đầu, quán cơm 2000đ chỉ có ở Sài Gòn vì ý nghĩa thực sự của nó là giúp đỡ, hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn có được một bữa cơm đàng hoàng, sau này khi mọi người bắt đầu hiểu được ý nghĩa và chung tay xây dựng thì các quán cơm 2000đ, 3000đ được mở thêm ở Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng... tạo điều kiện giúp đỡ thêm được rất nhiều người nghèo trong xã hội. Từ cụ già, em nhỏ phải đi bán vé số, hay những học sinh, sinh viên nghèo đã có được bữa ăn đàng hoàng, no đủ để có thể đi tiếp chặng đường còn dang dở, để họ có thể nuôi hy vọng thêm vào cuộc đời vốn dĩ còn khó khăn trước mắt.
Với những người nghèo khốn này, các quán cơm từ thiện 2000 đồng là cứu tinh của họ, là bàn tay nhân ái nâng họ lên một chút trong cõi đời khắc nghiệt này. Ăn thế, may ra họ sống qua ngày mà lao động tiếp nuôi thân, nuôi gia đình. Ăn thế, may ra họ còn dư ra chút đỉnh mà mua sách báo đọc thêm cho mở mang kiến thức. Ăn thế, may ra còn dành dụm chút đỉnh để mua vé xe tàu về quê thăm gia đình quê hương ngày lễ Tết. Ăn thế, may ra họ giữ được phẩm giá để khỏi sa vào các tệ nạn bán thân nuôi miệng hay trộm cắp cướp giật. Ăn thế, may ra họ còn đủ sức để chờ một ngày mai tươi sáng hơn.
1/Quán cơm từ thiện tại Sài Gòn (TP Hồ Chí Minh)
Quán Cơm Nụ Cười Mới 1 (Từ Số 6 Hồ Xuân Hương chuyển về đầy) Số 6 Đường Cống Quỳnh, Quận 1, TP HCM. Hàng ngày 2,000đ (Phở 1,000đ được bán 1 lần / tháng vào thứ 5).

Quán cơm 2000đ (Số 88/13 Bình Trưng, P. Bình Trưng Đông (Q2, TP.HCM). 18/6/2015. Thứ 3, 5, 7 300 suất miễn Phí, 100 suất 2,000đ

Bếp ăn từ thiện Bảo Hòa (220 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1, TP HCM)) Hàng ngày 2,000đ

Quán Ăn Chay Từ Tâm (33 Trần Nhân Tôn, Phường 2, Quận 10, TP HCM) - Đối diện cổng sau cao đẳng kinh tế thành phố T2, T4, T6 5,000đ
Quán Cơm Nhà Thờ Hầm (Đường số 3, cư xá Lữ Gia, Quận 11). Quán nằm trên đường Nguyễn Thị Nhỏ T2, T4, T6 2,000đ
Quán Cơm Thiện Tâm (174/30A đường Chu Văn An, phường 12, quận Bình Thạnh) Từ 10h30 - Tất cả các ngày 2,000đ
Chùa Vạn Thiện (Hẻm 360 đường Trần Phú, Phường 4, Quận 5 - TPHCM). Nằm gần ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Sư phạm, ĐH Sài Gòn, Cao đẳng Phát thanh Truyền hình 2 Ngày 30, 1, 14, 15 (âm lịch) hàng tháng Miễn Phí
Cơm Chay Xã Hội (Số 53 Vũ Tùng, Phường 1, Quận Bình Thạnh, TP HCM).Tất cả các ngày. (Ngày 2 bữa) 2,000đ
Quán cơm chay 5k (Đường Chương Dương gần Chợ Thủ Đức, từ ngã 4 Thử Đức quẹo xuống hướng chợ Thủ Đức khoảng 1,5Km, quẹo phải khoảng 400m, bên tay phải) Chờ đóng góp của bạn 5,000đ
Bếp ăn từ thiện Bảo Hòa (220 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1, TP HCM) Từ T2 đến T6. Miễn Phí 
Quán Thiện Tâm ăn cơm chay (Quán nằm cạnh Ngôi chùa Cao Đài ở đường Chu Văn An, gần Ngã Năm Nơ Trang Long - Lê Quang Định) Chờ đóng góp của bạn Miễn Phí
Quán cơm chay từ thiện tương trợ Nụ Cười 2 (Số 46/22 Nguyễn Ngọc Nhựt, phường Tân Quý, quận Tân Phú, TP.HCM) T2, T4, T6 2,000đ
Quán cơm từ thiện quận Tân Bình (2/5 Chấn Hưng, Phường 6, Quận Tân Bình, TP HCM) T3, T5 5,000đ
Quán cơm từ thiện Chùa Long Sơn (Số 77/7777 Nguyễn Oanh , Phường 6, Gò Vấp, TP HCM) Ngày 14 , 15 , 30 , 1 (âm lịch) hàng tháng Chờ đóng góp từ bạn
Quán Cơm Diệu Tâm (Ngã 4 Nguyễn Văn Lượng và Lê Đức Thọ, , quận Gò vấp, Tp. HCM) Chờ đóng góp của bạn 8,000đ
Cơm chay Vợ Thằng Đậu (Số 40, Đặng Văn Bi , Quận Thủ Đức, Tp. HCM)
Hàng ngày: 10 giờ 30 - 11 giờ 30 trưa Miễn Phí
Quán cơm chay từ thiện Bình Thạnh (Số 53 Vũ Tùng Phường 1, Quận Bình Thạnh, TP HCM) Hàng ngày Miễn Phí
Quán cơm xã hội Trẻ Em Nghèo (156X, Bến Chương Dương , F. Cầu Ông Lãnh, Quận 1, Tp. HCM ) Chờ đóng góp của bạn 2,000đ
Nụ Cười Mới 2 (371 Tân Sơn Nhì , P.Tân Thành, Q.Tân Phú) Từ 10:30 Các ngày T2 đến T7 2,000đ
Nụ Cười Mới 3 (1276 Huỳnh Tấn Phát , P. Phú Mỹ , Q7) Từ 10:30 các ngày t2,4,6 2,000đ
Nụ Cười Mới 4 (132 Bến Vân Đồn, Q4) Từ 10:30 các ngày T3, T5, T7
2,000đ
Nhà hàng Tano central (Ngã tư Lý Tự Trọng - Hai Bà Trưng) 16h00 từ Thứ 2 đến Thứ 6 hàng tuần Miễn phí

2/Quán cơm từ thiện tại TP Hà Nội
Phở Gà Ta Khương Trung Mới (219 Khương Trung Mới, Quận Thanh Xuân, Hà Nội) Chủ nhật hàng tuần Miễn Phí
Quán cơm sinh viên trên Phố Nguyễn Quý Đức (Thanh Xuân - Hà Nội). Người khó khăn được giảm 50% Hàng ngày 8,000đ đến 18,000đ

Cơm Chay Miễn Phí Đại Ngàn. (Phố Ngụy Như Kon Tum, Q.Thanh Xuân, HN). Quán nằm ở Đầu Phố, khai trương 6/3/2015. Hàng Ngày Miễn Phí

Quán cơm 5000đ Hà Nội (Cổng bệnh viện Nhi Trung ương - 18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội) Trưa thứ 7 hàng tuần 5,000đ
Quán cơm từ thiện 1.000đ cho người nghèo (ngõ 120 Trần Bình, phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, HN) Trưa thứ 2 hàng tuần 1,000đ
Quán cơm chay tùy tâm ăn tùy ý trả tiền tùy tâm( cổng bệnh viện K3 Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội) Hàng ngày 2 bữa trưa tối Trả tiền tùy tâm


3/Quán cơm từ thiện tại TP Đà Nẵng
Quán cơm 1.000đ (gồm đầy đủ cơm, rau, món mặn, canh), đặc biệt toàn bộ số tiền bán được từ quán cơm sẽ dành để gây quỹ ủng hộ cho các nạn nhân chất độc màu da cam. Bán từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần. Địa chỉ: đường Đỗ Ngọc Du, quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng
Quán cơm 2000đ - Sharing The Life. Bán vào ngày 15 và 30 hàng tháng. Địa chỉ: Số 15 và 17 Lê Duẩn, Tp. Đà Nẵng
4/Quán cơm từ thiện tại TP Cần Thơ
Quán cơm 2,000đ . Bán vào ngày T2, T4, T6 hàng tuần. Địa chỉ: Số 8A3, hẻm 3T2, đường 30-4, Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, Cần Thơ.
Quán cơm Ân Phúc. Phục vụ từ 10h đến 13h30 các ngày T4, T7 hàng tuần. Địa chỉ: Số 15/38 Hoàng Văn Thụ, P.An Hội, Q.Ninh Kiều, TP Cần Thơ.
5/Long Thành, Đồng Nai.
Quán cơm 3,000đ của vợ chồng anh Trương Văn Giáp. Phục vụ từ 6h đến 21h hàng ngày (khoảng 200 suất) Ngụ ấp 3, xã An Phước, huyện Long Thành, Đồng Nai.
6/Phan Thiết
Quán cơm 2000đ tại Phan Thiết.Dành cho người nghèo, học sinh, sinh viên
Bán 11h trưa Chủ Nhật hàng tuần

Địa chỉ : 128 Trần Hưng Đạo - Phan Thiết


TÓM LẠI:
Nhìn phong cách của người Sài Gòn để thấy nét đẹp văn hóa mà người cộng sản cho là "đồi truy" ở miền nam, đã giúp được rất nhiều người nghèo ỏ Sài Gòn tiếp tục sống và trưởng thành trong XH đầy bất công và tham nhũng hiện nay. Văn hóa ứng xử của người Sài Gòn là như thế đó, nếu như các bạn có tấm lòng với tha nhân, đừng chờ đợi đến khi bạn giàu có, bạn mới có thể giúp đỡ những người khác trong xã hội. Chỉ cần các bạn share rộng bài viết này hay đưa những địa chỉ phía trên tới những người nghèo, người gặp khó khăn để họ thấy rằng trong cái xã hội thiên đường chó ngáp ngày nay còn có những tấm lòng nghĩa hiệp của người Sài Gòn luôn sống vì người, họ không hẹp hòi ích kỷ như người miền bắc. Thật ra những việc làm này phải do nhà nước vì dân đứng ra đãm trách như thời VNCH trước đây. Nhưng chính chúng ta cũng chịu một phần trách nhiệm vì đã vô tình với VNCH trước 1975 và đã đánh mất miền nam chính vì thế chúng ta nên đóng góp một chút công sức của mình để dựng cái tình Sài Gòn cho dân nghèo Sài Gòn, rất mong được những ai còn yêu mến người Sài Gòn yêu cái nét văn hóa ứng xử đep của người Sài Gòn, nên tiếp tay phổ biến rộng đến dân nghèo của thành phố Sài Gòn hầu giúp họ tồn tại trong thiên đường XHCN phi nhân ngày hôm nay, để chờ một tương lai tươi sáng của ngày mai sẽ đến với dân tộc chúng ta.Người Sài Gòn luôn trân quý sự giúp đở trượng nghĩa của các bạn.
Nguyễn thị Hồng 19.10.2017
NHỚ NGÀY QUỐC KHÁNH XƯA CỦA VNCH ĐỆ NHẤT
Ngày quốc khánh 26.10.1956 là ngày lễ quan trọng của nền đệ nhất VNCH Nó đánh dấu một sự kiện lịch sử, đó là ngày công bố hiến pháp của nền đệ nhất cộng hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo vùng lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 tới mũi Cà Mau với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

LỊCH SỬ NGÀY QUỐC KHÁNH VNCH

Quốc gia Việt Nam thành lập năm 1947, cũng từng dùng lá cờ hoàng kỳ làm quốc kỳ, thế nhưng trong một thời gian dài không có Hiến pháp lẫn Quốc hội. Chính vì thế Quốc trưởng Ngô Đình Diệm xúc tiến việc tổ chức bầu Quốc hội Lập hiến. Quốc hội này được bầu ra vào ngày 4 tháng 3 và khai mạc ngày 17 tháng 4 năm 1956 gồm 123 dân biểu để giúp soạn hiến pháp mới. Chủ tịch Quốc hội là Nguyễn Phương Thiệp. Tỷ số cử tri đầu phiếu là khoảng 80% với 405 ứng cử viên tham gia. 
Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa (1955-1963) được thành lập sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 ở miền Nam Việt Nam. Thủ tướng Ngô Đình Diệm được toàn dân miền nam tín nhiệm thay thế Bảo Đại làm Quốc trưởng. Sau đó Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tổ chức bầu Quốc hội Lập hiến cho Quốc gia Việt Nam. Quốc hội này ban hành Hiến pháp đổi tên Quốc gia Việt Nam thành nước Việt Nam Cộng Hòa. Người đứng đầu Việt Nam Cộng Hòa là tổng thống Ngô Đình Diệm với lập trường chống cộng sản. 

DIỂN TIẾN THÀNH LẬP NƯỚC VNCH

Ngày 8.10.1955 Bộ nội vụ sẽ tổ chức Trưng cầu dân ý vào ngày 23.10.1955, Ngày 18.10.1955 Quốc Trường Bảo Đại chấm dứt nhiệm vụ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.
23.10.1955 đã tổ chức ngày trưng cầu dân ý theo Bộ Nội Vụ thông báo với số người tham gia bầu cử là:5.838.907. Số phiếu truất phế Bảo Đại là: 5.721.735.
Ngày 26.10.1955 tuyên bố Hiến ước tạm thời tại Dinh Độc Lập trước hàng ngày dân chúng. VN là một nước Cộng Hòa, Quốc Trưởng sẽ được thay thế bằng Tổng Thống. Một Ủy ban soan thảo Hiến Pháp được thành lập, song song một Quốc Dân đại hội dân cử sẽ có thẫm quyền xét định về Hiến Pháp. Các luật lệ hiện hành được giouw3 nguyên. Chính phủ cũ được lưu lại để xử lý thương vụ. Và Ngày 26.10. 1955 trở thành ngày quốc khánh của nền đệ nhất VNCH.
Ngày 29.10 thành lập chính phủ VNCH cũng là những người đã được lưu nhiệm, chỉ đổi danh từ Tổng Trưởng thành Bộ Trưởng. 
Thành phần chính phủ gồm có

-Ngô Đình Diệm, Thủ Tướng kiêm Nội Vụ và Quốc Phòng,
-Trần Văn Chương, Quốc Vụ Khanh,
-Trần Văn Đỗ, Tổng Trưởng Ngoại Giao,
-Trần Văn Của, Tổng Trưởng Tài Chánh và Kinh Tế,
-Nguyễn Tăng Nguyên, Tổng Trưởng Lao Động và Thanh Niên,
-Trần văn Bạch, Tổng Trưởng Công Chính,
-Phạm Hữu Chương, Tổng Trưởng Y Tế và Xã Hội,
-Phan Khắc Sửu, Tổng Trưởng Canh Nông,
-Nguyễn Dương Đôn, Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục,
-Trần Chánh Thành, Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng,
-Lê Quang Luật, Thông Tin,
-Phạm Duy Khiêm, Công vụ Phủ Thủ Tướng,
-Nguyễn Ngọc Thơ, Nội Vụ,
-Lê Ngọc Chấn, Quốc Phòng,
-Hồ Thông Minh, Thứ Trưởng Quốc Phòng,
-Bùi Văn Thinh, Tư Pháp,
-Nguyễn Văn Thoại, Kinh Tế,
-Trần Hữu Phương, Tài Chánh.

VNCH tuyên bố không gia hạn thêm hiệp định thương mại vớei Pháp sắp hết hạn vào ngày 31.12.1955. Hối xuất chính thức của đồng bạc VNCH vào ngày 17.12.1955 theo dụ số 15 là:

10 quan Pháp=1 đồng VNCH
1 bản Anh= 98 đồng VNCH
1 Mỹ kim = 35 đồng VNCN
Ngày 28-4-1956, Bộ Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương giải tán, tất cả các Cơ sở và Căn cứ trước đây do Pháp xây dựng chiếm đóng, đều trao hết cho Chính phủ và Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Dinh Norodom tọa lạc tại trung tâm Thủ đô Sài Gòn trước kia dành cho Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, nay là trụ sở của Chính phủ VNCH đổi tên thành Dinh Độc Lập. Camp Chanson to lớn bên cạnh phi trường Tân Sơn Nhất trước kia là nơi làm việc của Bộ Tư lệnh quân viễn chinh pháp tại Đông Dương, nay thuộc quyền sử dụng của Bộ Tổng Tham Mưu (Bộ TTM) Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) và đổi tên là Trại Trần Hưng Đạo. Hospital Rocques rộng lớn của đoàn quân Viễn chinh Pháp xây dựng tại Gò Vấp sát bên Bộ TTM và phi trường Tân Sơn Nhất, nay thuộc quyền QĐQGVN và đổi tên là Tổng Y Viện Cộng Hòa. 

Ngày 19.10.1956 Quốc Hội VNCH tuyên bố không chọn được một lá quốc kỳ nào khác ngoài lá hoàng kỳ với sọc đỏ trong số 350 mẩu cờ dự thi và cũng không chọn được bài ca nào trong  50 bài nhạc dự thi để làm quốc ca cho VNCH. 


Ngày 26-10-1956, lễ ban hành Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa (theo khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, do Quốc Hội Lập Hiến được bầu ra vào ngày 4 tháng 3 năm 1956 biên soạn và biểu quyết chuẩn thuận) được tổ chức rất trang trọng tại Đại lộ Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Buổi lễ này cũng đồng thời là Lễ Tuyên Thệ chính thức nhậm chức Tổng Thống nước Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên tại miền Nam Việt Nam của ông Ngô Đình Diệm, trước toàn dân và Ngoại giao đoàn quốc tế đã có mặt tại Sài Gòn từ thời Quốc gia Việt Nam còn thuộc quyền lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại. 
Ngày 26.10.1956 Tuyên bố hiến pháp VNCH. Dân chúng được phép đốt pháo trong ngày 26, 27 và 28.10.1956 và các chợ trên toàn quốc được miển thuế trong ngày 26.10.1956.

Một câu nói để đời của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm:

“Nếu bọn Việt Cộng thắng, thì quốc-gia Việt-Nam cũng sẽ bị tiêu-diệt và sẽ biến thành một tỉnh nhỏ của Trung-hoa Cộng-sản. Hơn nữa toàn-dân sẽ phải sống mãi mãi dưới ách độc tài của một bọn vong bản vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo." Ngô Đình Diệm  (Đồng Cam, Tuy-Hòa 17-9-1955)

Tổng Thống Ngô Đình Diệm dưới cái nhìn phân tích của các lãnh tụ Hoa Kỳ, Đông Nam Á, và các quan sát viên quốc tế:

1.Ngày 16 tháng 11-1964, Đại Sứ Hoa Kỳ, Frederick E. Nolting đã viết một bức thơ cho tờ New York Times như sau:
“Tôi không thể chần chừ cho tháng ngày qua đi . mà không nói lên sự kính trọng của tôi khi tưởng nhớ đến một con người can đảm phi thường đã gục chết vì quê hương của ông một năm trước đây, người đó chính là Ngô Đình Diệm, cựu TT VNCH.

2.Chủ Tịch Quốc Hội Hoa Kỳ là John MacComick và Dân Biểu Edna Kelly đã nói với  TT Kennedy rằng:
“Gần như không có ai ưu tư tới một điểm là, Ông Diệm và chính quyền MN đang phải đối đầu với rất nhiều trở ngại khó khăn, xứ sở quê hương của ông đang đổ vỡ tan hoang mọi bề, với sự tràn ngập của CS, băng đảng, và các giáo phái võ trang xung đột khắp nơi, TT Diệm không chỉ làm sao sống còn tồn tại được trong 9 năm, và đưa đến nhiều tiến bộ tốt đẹp trong việc tái lập lại trật tự quốc gia, bảo vệ quyền tự do cho dân, thi hành công lý xã hội để làm đời sống toàn dân tốt đẹp hơn.
Thế mà tại sao không thấy ai để tâm tới điểm là, không có ông Diệm không làm sao ổn định được Việt Nam và cả Đông Dương đang trong những cơn lốc và hỗn loạn tơi bời, rồi sau đó chỗ đứng của Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu sẽ gãy đổ suy vong”.

3. Tướng Thomas Lane đưa ra nhận định:lịch sử cho thấy rằng TT Diệm đúng là một người quá nhân đạo và đầy lòng bác ái (humane and cheritable man) để sống còn trong bầu không khí của quyền lực vào 1963. Ông đã không có đủ tàn nhẫn và độc ác để bắt giam và xét xử những quân nhân tạo phản, và thay thế bằng những người trung thành của ông. Ông cố gắng quá nhiều và quá lâu để hòa hoãn với Phật giáo là những người không thề nào chịu hòa hoãn được (impossible conciliation). Ngay cả việc trục xuất những nhà báo Mỹ đã vo tròn bóp méo sự thật chính là kẻ thù quá cay đắng của ông.
Thay vì làm như thế, ông đã cố gắng hòa giải và giải tỏa những dị biệt mà không có những hành động cần thiết cho sự sống còn của chính quyền MN, chính sự khoan hòa đã khuyến khích sự nổi loạn… khi 1 viên không quân nổi dậy ném bom Dinh Độc Lập đã xô đẩy tình thế vào cơn hỗn loạn thêm. Lẽ ra người phi công sẽ bị kết án và bị hành quyết. TT Diệm đã không bao giờ đem người phi công ra xét xử trước tòa án. Ông khước từ đòi mạng sống con người vì những lý do chính trị, dù đó là một cuộc nổi loạn.”

4.Theo nhận xét của Philippe Deviller, một sử gia lỗi lạc đương thời, nhìn TT Diệm như sau:
“bước vào một hoàn cảnh cực kỳ đen tối, đó là một người Sĩ Phu, can đảm phi thường, và là con người của nguyên tắc vào tuổi 53. Ông là một người Quốc Gia được kính trọng nhất (the most respected man) và là người có ảnh hưởng lớn lao nhất và là một người sống trọn vẹn cho đức tin Công giáo… sự can đảm hiếm thấy nơi các lãnh tụ chính trị, rất coi trọng đạo đức gia đình, tính chịu đựng bền bỉ, đó là người không bao giờ thiếu sự chính trực liêm chính. Ông không bao giờ không cư xử công bình với mọi người, kể cả cho kẻ thù của ông một cơ hội. Ông đã không bao giờ ra lệnh xử tử những người đã cố gắng giết ông”. Deviller nói thêm “Tất cả đối thủ lúc ban đầu của ông đều đánh giá ông rất thấp”.

5.Bernard Fall nhìn thấy nơi ông Diệm:

“Một con người đã nắm giữ một vai trò để giải quyết mọi vấn đề trước một tình thế quá đen tối, đó là TT Ngô Đình Diệm, một người theo tinh thần Kito giáo rất uyển chuyển, có một đức tin tôn giáo thật sâu xa, gánh trên đôi vai gánh nặng để dìu dắt che chở và nuôi sống 10.5 triệu con người tại MNVN, thêm vào đó phải lo cho gần 1 triệu người di cư từ Miền Bắc vào lánh nạn CS, bảo vệ nền độc lập và lo an toàn cho đất nước. Ngoài ông không có người nào tại Á Châu gặp nhiều khó khăn trở ngại như thế, phải gánh chịu một gánh nặng quá gian nan trên đường tiến tới Trật Tự Và Công Lý cho dân cho nước.”

6. Phó Tổng Thống Lyndon Johnson đến MNVN để điều tra và duyệt xét lại tình hình VN trong giai đoạn tăm tối nhất, ông nhận thấy TT Diệm đúng là đã tạo được một phép lạ chính trị tại MNVN. Gần 1 triệu dân di cư Miền Bắc lánh nạn CS đã được giải quyết vô cùng tốt đẹp, đường xá phát triển khắp nơi. Đặc biệt về canh nông đã thành công lớn. PTT Johnson kết luận: “Ngô Đình Diệm Là Winston Churchill Của Á Châu”.
TÓM LẠI:

Suốt 9 năm dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một quốc gia tự do dân chủ chuẩn mực được thành lập sau khi chế độ Quân Chủ Lập Hiến của Bảo Đại cáo chung. Dân chúng miền nam được sống trong cảnh an ninh và thanh bình tuyệt đối. Trong cùng thời gian đó thì tại miền Bắc , người dân bị đói khổ, đày đọa trong trong gọng kềm của búa liềm cộng sản. 

Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thật sự  đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho miền nam VN. Đây cũng chính là mô hình phát triển sau này của Nam Hàn dưới thời Tổng thống Phác Chính Hy. Xây dựng và phát triển trong hòa bình đã đưa Miền Nam tới chỗ vươn lên - kinh tế học gọi là điểm cất cánh (take-offĐ để trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á.
Buổi bình minh của Nền Cộng Hòa ("The First Day") thật là huy hoàng rực rỡ. Nhiều quan sát viên ngoại quốc cho rằng đây chính là "một cuộc cách mạng đã bị mất đi" (the lost revolution) của Miền Nam Việt Nam.

Biên khảo chính trị
Hậu duệ VNCH Nguyễn Thị Hồng 
17.10.2017