XIN BÀ NGÂN KHUYÊN ĐẢNG ĐỪNG RÚT KINH NGHIỆM NỬA !!
Phát biểu bế mạc phiên họp thứ 35 sáng 17/7/2019, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết sau 2,5 ngày làm việc, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã hoàn thành việc cho ý kiến về các nội dung quan trọng và quyết định một số nội dung theo thẩm quyền.
Sau khi tổng kết kỳ họp thứ 7, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh có một số vấn đề cần rút kinh nghiệm cho các kỳ họp sau.
Nhưng bà thẳng thắn rằng kỳ họp nào cũng rút kinh nghiệm, rồi “cứ rút hoài”. Trong số các vấn đề chưa tốt, có cái chuyển biến nhưng chưa hẳn giải quyết được.
“Nên sợi dây dài nhất là sợi dây kinh nghiệm, rút hoài không hết, ai cũng rút, năm nào cũng rút, kỳ họp nào cũng rút kinh nghiệm mà vẫn còn”

YÊU CẦU CỦA DÂN ĐEN:

Dân đen chúng tôi yêu cầu Hoàng hậu áo dài của BCT/ĐCSVN xin thôi "rút kinh nghiệm" trong đảng càng sớm càng tốt. Trong quá khứ Hồ chí Minh rút kinh nghiệm năm 1956 thì 75.000 dân vô tội đã bị đảng giết chết và gần 1 triệu người dân miền Bắc XHCN đã bỏ quê hương vào miền nam để sinh sống.

Đến năm 1968, sau trận Mậu Thân đảng tổng kết và rút kinh nghiêm thì  "111.306  bộ đội đã hy sinh và bị thương ở miền nam, hàng vạn dân vô tội miền nam đã chết trong lửa đạn chiến tranh do cs miền bắc gây ra"

Rồi năm 1975 sau khi tổng kết của cái gọi là bên thắng cuộc thì dân VN cả hai miền nam bắc đã mất đi 4 triêu người, và chủ tịch đảng csVN ông HCM được các nước trên thế giới vinh danh là một trong 13 tên đồ tể của thế kỷ 20. 
Xem nguồn:
1. https://oddstuffmagazine.com/13-bloody-dictators-of-the-20th-century.html
2.http://www.thedailybeast.com/galleries/2011/10/21/the-20th-century-s-deadliest-dictators-photos.html
3. http://list25.com/25-of-historys-deadliest-dictators/

Đến nay sau 44 năm thống nhất đất nước đảng cs của bà đã làm gì được cho dân tộc VN với con số nợ công  là 3,2 triệu tỷ đồng, bình quân mỗi người dân gánh hơn 32 triệu đồng nợ công ?? 

 Thưa bà,

Đảng của bà đã rút được gì? khi hàng chục ngàn công trình lớn nhỏ bị rút ruột?  hàng trăm ngàn tỷ bị bốc hơi vì tham quan,  hơn 400 loại thuế phí đã ra đời, vài sư đoàn dân oan xuất hiện...còn nhiều nửa mà chúng tôi không thể kể hết ra đây.

Vậy người dân đen chúng tôi hỏi bà Ngân: "Không biết chừng nào đảng của bà dừng rút "KN" để dân tôi được thanh thản và  nhẹ nhàng hơn trong sinh hoạt hàng ngày??

Bà thừa biết, đất nước mình từ lâu đã bị đàn anh TQ của bà thôn tính từng phần, từ  khi thủ tướng Phạm văn Đồng ký công hàm bán nước năm 1958. Xem nguồn: https://www.rfa.org/vietnamese/news/ReadersOpinions/legali-of-p-v-dong-note-07162014052556.html

Từ trận chiến biên giới Việt Trung xảy ra năm 1979 đến khi có cuộc đàm phán tại Thành Đô năm 1990 và đảng bà đã từng ký các hiệp định phân định đường ranh biên giới Việt Trung năm 1999 đã đưa đến việc nhượng một số đất,  biển, đảo, thêm cho TQ trong đó có núi Lão Sơn, 11.000 km2 vùng biển trong vịnh Bắc Bộ, Ải Nam Quan, 1/2 thác Bản Giốc, Địa danh Pắc Bó của csVN, Đảo Gạc Ma..và rất nhiều khu vực khác trên lãnh thổ biên giới mà tới nay đảng cs vẩn còn giấu kín.
Người dân đen chúng tôi chỉ mong mỏi:

1. Sau khi bà đi gặp Tập cân Bình từ 8 đến 12/7/2019 về, xin bà và tập thể  của bà trong BCH/TƯ/ĐCSVN ngừng "rút KN" không thì Bãi Tư Chính của tổ quốc VN lại chính thức lọt vào tay Bắc Kinh.
2. Dân đen tôi chỉ mong sao tập thể đảng ta "rút KN"càng nhanh càng tốt , vì nếu muốn rút thì cần nên rút những cái cần rút như: 
*cái hèn trong tư duy của 5 triệu đảng viên đảng csVN,
*Rút bớt các đảng viên tham nhũng ra khỏi đảng,
* cái bán nước ra khỏi đảng
*Cái độc tài độc đảng trên chính trường VN
Một thứ quan trọng khác nửa mà đảng của bà cần phải rút đó là rút ra khỏi quỉ đạo của TQ, tức thoát trung về mọi mặt. Để trả lại cho dân cuộc sống hạnh phúc và ấm no trong một chế độ hoàn toàn dân chủ tự do. Bà và đảng của bà nên rút hòn đá cản đường mà đảng của bà đã ngăn sông cấm chợ từ hơn 7 thập niên qua trên con đường thăng hoa để dân đen chúng tôi sớm hoà nhập được  vảo t cộng đồng văn minh, tiến bộ thế giới.

Được vậy dân đen chúng tôi sẽ rất cảm ơn àầ sẽ thiết kế thêm cho bà một số áo dài hot nửa. Xin mượn bài thơ của nữ thi sĩ Tố Ngọc Trần để kết thúc những mong mỏi của dân đen VN với đảng của bà Ngân.
Đọc xong lòng dạ bâng khuâng
RÚT KINH NGHIỆM mãi có cần lắm không???
SỬA SAI ƯU VIỆT đèo bòng
Bốn lăm năm vẫn lòng thòng
SỬA SAI!!!
Hãy dừng RÚT KINH NGHIỆM ngay
Để dân bớt khổ đoạ đày nợ công
Đất nước còn chút Biển Đông
BÃI TƯ CHÍNH được ở trong bản đồ!!!
Rút HÈN cam phận hán nô
Rút THAM NHŨNG để ấm no dân nghèo
Rút BUÔN ĐẤT NƯỚC ì xèo
Rút ĐỘC ĐẢNG mới trong veo đảng quyền!!!

Lòng dân là nước dâng thuyền
Ý dân đã quyế lật nghiêng đảng tà!!!
Hơn bảy mươi năm trôi qua
Việt Nam thống khổ XIN BÀ KIM NGÂN!!!
( thơ Trần tố Ngọc)

Hậu duệ VNCH Nguyễn thị Hồng 17.7.2019
PHÓ GIÁO SƯ_TIẾN SĨ LU PHAN THỤ HỒNG XUÂN
BỘ MẶT CỦA TRÍ THỨC ĐỎ THỜI ĐẠI HCM
Cơn bảo về cái "LU" tới nay đã 4 ngày rồi mà vẩn chưa giảm cường độ trên FB. Đây là một hiên tượng về văn hoá đần của một số trí thức đỏ trong bộ máy lãnh đạo các ban ngành trên 3 miền đất nước của thời đại HCM, đó là trường họp của bà Phan thị Hồng Xuân.

Tại kỳ họp thứ 15 HĐND TP. HCM khóa IX vào chiều ngày 12/7, Phó giáo sư - tiến sĩ Phan Thị Hồng Xuân - Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Đông Nam Á, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Dân tộc học - Nhân học TP.HCM - đã bất ngờ đưa ra lời đề nghi với UBND TP.HCM về sáng kiến trang bị lu nước để chống ngập khiến cả hội trường xôn xao. Cụ thể, tại phiên thảo luận về chống ngập, bà Xuân đề nghị sáng kiến: "nên trang bị lu nước cho người dân để phòng chống ngập cho TP.HCM"
Nữ PGS.TS này lý luận rằng, người dân ở nông thôn thường trang bị các lu nước rất to để mỗi lần mưa xuống là hứng nước mưa, vừa tích trữ được nước sinh hoạt vừa giảm lượng nước trôi ra ngoài gây ngập úng.

Được biết bà PGS.TS này là một nghị viên của Hội Đồng ND/TP.HCM, qua phát biểu của bà này người ta thấy được chân dung của bộ mặt trí thức đỏ nước CHXHCNVN. Đám trí đỏ này  thăng quan tiến chức không bằng thục tài mà bằng  hai đầu gối, nước bọt , quan hệ gia tộc  và với cây dù của đảng csVN.

 Bà Xuân là một thức trí thức núp dưới cái dù của đảng csVN, miệng ngậm vàng bước vào các cơ sở công quyền. Sau phát biểu gây bảo của bà dân cư mạng xúm nhau săn tìm lý lịch của bà, thì được biết mẹ bà này là chị của Bộ Trưởng Bộ GTVT Nguyễn văn Thể, bà này kêu ông Thẻ bằng cậu. Ông Bộ trưởng Thế từng vang danh với con đường sắt Cát Linh Hà Đông đã sắp tắt thở sau 8 năm thi công-một con đường sắt đọi vốn từ 8000 lên 18000 tỷ đồng, nhưng chũng không sao chào đời theo đúng qui trình của các lãnh cao cấp Bộ GTVT, thì đúng ra con đường sắt này phải ra khỏi bụng mẹ từ tháng 12/2018. Vừa qua Hộ Đồng Nhân Dân các ông bà cụ nghi TP hà Nội lại một lần nửa giơ tay lên để mượn thêm vốn nhà nước cứu con đường do nhà thầu TQ khởi công từ năm 2011 cho đến nay. Xem nguồn:https://cafeland.vn/tin-tuc/uong-sat-cat-linh-ha-ong-boi-tin-lan-thu-8-thach-thuc-du-luan-79696.html


Bà Phan Thị Hồng Xuân ngây ngô lý luận rằng, chỉ cần mỗi nhà có một cái lu đựng nước là thành phố giảm ngập, đây là kinh nghiệm dân gian Việt Nam và học tập kinh nghiệm từ Nhật. Kiến thức chuyên nghiệp của bà PGS/TS hoàn toàn rỗng tuếch,và chỉ làm trò cười cho người dân.

Thực tế người Việt ở nông thôn xưa kia chỉ dùng lu chứa nước mưa để uống chứ không phải chống ngập. Còn người Nhật chưa bao giờ dùng lu để chống ngập mà đó là một hệ thống, chứa, dẫn, điều tiết nước quy mô rất lớn.

Một điều đáng nói là sau khi phát biểu của bà Xuân được lan rộng trên mạng, một trận cuồng phong với lượng ném đá chưa từng thấy trên mạng FB đã nổi lên trên mạng xã hội, theo ước tính của người dân, thì số đá này có thể làm được  thêm con đường cao tốc Bắc Nam thứ hai.

Chuyện cái "lu" của bà Xuân được một số báo lề phải bênh vực cho sáng kiến này và các bồi bút thi nhau tính toán con số lu để cung cấp cho dân cư TP.HCM trong mừa mưa  2019 này, một bồi bút có tên là Vũ ngọc Bảo đã làm một phép tính về số lu chứa lượng nước mưa để chống ngập cho thành hồ, bài viết của bồi bút này được đăng trên báo Pháp Luật ngày 13.7.2019 như sau

PHÉP TÍNH NGU VỀ CÁI LU CỦA ĐÁM BỒI BÚT

Theo thông tin trên trang Wiki về TP.HCM thì dân số TP hiện là 8.637 triệu người trên diện tích đất là 2.061 km2. Trong đó có 7.087 triệu người sống trong 19 quận nội thành với diện tích tổng cộng là 494,33 km2. Do hiện tượng ngập lụt chỉ xảy ra trong nội thành, hơn nữa lượng mưa tại nội thành cao hơn nên chúng ta cân nhắc tính toán cho nội thành về tính khả thi của đề xuất.

Chúng ta giả sử TP trang bị cho mỗi hộ nội thành một cái lu, bình quân dân số một hộ là bốn người như vậy chúng ta cần 1.772 triệu cái lu. Còn nếu trang bị mội người một cái sẽ là 7.087 cái lu.

Như vậy, giả sử mỗi người trang bị một cái lu 1m3 khi tổng số nước có thể chứa là 7.087 triệu m3 còn mỗi nhà một cái lu sẽ chứa được 1.772 triệu m3.

Lượng mưa trung bình TP. HCM hàng năm khoảng 2.000mm/năm, trong khoảng 155 ngày có mưa. Ngày có mưa nhiều khoảng 200mm. Tạm tính là những ngày có thể gây ngập lụt là lượng mưa khoảng 100mm/ngày. Suy ra tổng lượng nước mưa vào quận nội thành ngày mưa 100mm (gọi là mưa nhiều). 41,8 triệu m3.

Nếu mỗi nhà một cái lu 1m3, thì lượng nước chứa 1,772 triệu m3 = 4,24 % tổng lượng nước mưa. 

Nếu mỗi người có một cái lu thì tổng lượng nước mưa chứa được khoảng 7.087 triệu m3 chứa bằng 17%  lượng nước mưa. Nguồnhttps://plo.vn/ban-doc/y-kien-ban-doc/lu-hoan-toan-co-kha-nang-chong-ngap-845766.html
Cái ngu của các thiên tài toán học gia nô không cách biệt quá xa với cái ngu của bà Xuân là bao nhiêu. Nhìn chúng làm tính để bênh vực cho cái ngu của bà PGS.TS Xuân, để thấy chúng là một bầy "đại ngu chỉ vì cái "LU", nếu bà Xuân không lên tiếng, lũ gia nô chung quanh bà Xuân không làm tính giùm cho bà Xuân thì không ai biết chúng ngu.

Chúng có thể rùm beng về cái "Lu" bà Xuân trên hàng chục tờ báo của hệ thống truyền thông gia nô đảng. Nhưng ngược lại về tình hình biển Đông ở Bãi Tư Chính, khi Tàu Cộng hoành hành ở ngoài bờ biển VN thì chúng im như chó cúm. Cái ngu và hèn của bọn này là thế đấy! Một thứ trí thức gia nô, trí thức đỏ khôn nhà dại chợ!! Với dân chúng có thể đem hàng trăm lực lượng CS cơ động, dân phòng và đũ các loại đển để đánh dân cưởng chế cướp nhà cướp đất...Nhưng khi giặc đem tàu vào hải phận của VN thì chúng tìm giải pháp sống chung hoà bình với giặc, đúng theo các công ước quốc tế về biển (?). Với Hải Tặc thì bọn này lịch sự dùng luật ra để nói chuyện với cướp, ngược lại với dân thì chúng dùng bầy đàn đi cướp nhà dân bằng luật cao bồi!! Đất nước chúng tôi vói một đảng hèn hơn 70 năm chục năm làm mưa gió trên chính trường VN. Mẹ VN phải thổn thức hàng giờ hàng phút vì đám con hoang Pắc Bó.

Trở lại vấn đề cái lu, chúng nó tính toán ra số lượng nước của một lần mưa là giãm được 17% của số nước mưa làm ngập thàng phố, nhưng chúng quên rằng 7.087 cái lu chỉ chứa được số nước mưa cho một lần trời đổ mưa, chứ không thể chứa lượng nước mưa liên tục trong vài trăm ngày của mùa mưa. Trình độ toán học của bọn gia nô chỉ ở một chừng mực giới hạn. Chúng quên rằng biết bao nhiêu cái lu để chứa lượng nước mưa của thành "hồ" nếu như mưa kéo dài liên tục trong nhiều ngày liên tiếp của suốt 5, 6 tháng của miền nam VN?

Mùa mưa khá rõ rệt ở miền Nam bắt đầu từ cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 5 cho đến hết tháng 10. Ngoài mưa và náng TP.HCM không có mùa nào khác. Thế nên khi người dân thấy mấy ông gia nô nịnh bà Xuân đã ló cái ngu tập thể của đám đảng viên cs ở thành hồ.
Chính vì đảng cs có quá nhiều đảng viên lớp 3 trường làng từ thượng tầng xuống tới hạ tầng cơ sở nên đất nước phải mang nợ ngập đầu cũng chỉ vì chử " NGU" tổ bố trên trán từng đảng viên. Chúng kéo bầu đàn thê tử ra làm quan để thoát nghèo, tên Bí thư tỉnh Hà Giang đã không ngần ngại trả lời như thế. Xem nguồn: http://vi.nnews.space/ca-nha-bi-thu-ha-giang-lam-quan-anh-em-toi-giup-nhau-thoat-ngheo-20190524.html
Sự bất hạnh của dân tộc VN hiên nay là vì trong cơ chế đảng có quá nhiều trí thức lớp ba trường làng. Các đầu lĩnh Ba Đình vì nghèo nên phải cố gắng bằng mọi giá để cướp cho được miền nam VN, để rồi bán từng phần đất nước cho Tàu Cộng - một phần trừ nợ chiến tranh, một phần chia chác nhau trong thượng tầng lãnh đạo. Nhìn đảng viên cs thi đua xây biệt phủ, đi xiêu xe, nhậu nhẹt hàng chục ngàn đô la cho một lần nhậu.... để thấy tư duy của đảng viên cộng sản chỉ là để làm lợi cho bản thân, gia đình, người thân của chúng và lợi ích nhóm, hàng trăm công trình đắp chiếu, làm ăn tới đâu lỗ tới đó...Chúng phá hoại đất nước đến mức không còn bút mực nào để viết hết ra tội trạng của chúng với dân tộc và đất nước VN. Một đất nước mà thành phần lãnh đạo đất nước không dám minh bạch tài sản của mình trước quốc dân khi được kêu gọi kê khai tài sản? Tham qua trên 3 miền đất nước như giòi bọ nhúc nhich đầy khắp nơi. Chỉ còn lại một số có chút ít lương tâm thì yên phận giương mắt nhìn bầy giòi bọ ngày càng phát triển mà không làm sao ngăn chận.
Tóm lại từ chuyện cái lu mớii thấy được cái ngu dốt lớp 3 trường làng trong hàng đảng viên cs đang lãnh đạo trong các ban ngành của bộ máy tà quyền csVN, con số thiệt không sao mà đếm hết!

Đám lớp 3 trường làng này rất khinh thường kiến thức của người dân nên chúng tha hồ mở miệng thúi ra để phát ngôn bất chấp hệ quả của câu nói sau đó!

Người viết xin được dẩn chứng một số các câu nói ngu của các lãnh đạo cs VN, đứng đầu là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, với cụm từ: Cờ, mờ, sờ, đờ", Ma dzê in VN. Xin mời xem clip video ghi lại hình ảnh và những câu nói "ngu"của đám quan chức csVN, dưới đây: https://www.youtube.com/watch?v=bxQZvj8Mdgk



Chuyên về cái lu chống ngập cho thành "hồ" của bà PGS.TS Phan thị Hồng Xuân  ngày hôm nay làm người dân nhớ lại sáng kiến của PGS.TS Bùi Hiền cách đây 2 năm khi ông này phát minh ra bộ chử cải cách sau 20 năm nghiên cứu (?). Bộ chử tiếng Việt cải tiến của y đã được  Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Tổng thư ký Hội ngôn ngữ học Việt Nam và đương kim Tổng chủ biên Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, bình luận như sau:
"Nếu cải tiến chữ Quốc ngữ theo đề xuất này thì các học giả sẽ trở thành người vừa đọc vừa đánh vần, viết sai chính tả, phải đi học lại từ đầu; tất cả các tài liệu khoa học sẽ thành văn bản cổ, chỉ các nhà nghiên cứu về chữ cổ mới có thể đọc được."
Câu chuyện cái lu lòi ra cái ngu của các đầu lĩnh Pắc Bó và trí thức đỏ thời đại  HCM là câu chuyện dài nhiều tập kể hoài không hết. Nhưng người viết đành phải ngưng vì phải đi mua mấy cái lu gấp để chóng ngập, không thì đám công an đến thu phí vì không làm theo lời cháu Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải Nguyễn văn Thế thì khổ đời dân nghèo vì phải trả đũ thứ phí nay lại thêm phí chống lời khuyên của cháu ông Bộ trưởng Bộ GTVT.

Biên khảo Hậu Duệ VNCH Lý Bích Thuỷ 16.7.2019
BÁO LỀ PHẢI ĐƯA TIN VỀ NHỮNG NỔ LỰC CỦA VNCH
 TRONG VIỆC KHAI THÁC CÁC GIẾNG DẦU
TTO (Nhiều kỳ từ 4/2018-7/2019) 
Chỉ với 6 mũi khoan đầu tiên mà đã tìm thấy hai giếng dầu có khả năng thương mại, một giếng có dấu vết là sự thành công rất lớn. Tỉ lệ thành công này cao hơn cả tỉ lệ trung bình của ngành dầu khí thế giới.

Ngay sau khi trúng thầu, các trùm dầu hỏa thế giới Pecten, Mobil, Esso, Sunningdale, Marathon lập tức bắt tay khảo sát địa vật lý. Họ cho tàu khảo sát tổng cộng 46.960km tuyến trong các lô đã trúng thầu trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam trước 1975. 

Khi Sài Gòn đẩy mạnh nỗ lực khai thác dầu hỏa, Trung Quốc tấn công Hoàng Sa vào đầu tháng 1-1974. Lo ngại hải quân Trung Quốc tiếp tục tiến xuống Trường Sa, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã cử các tàu chiến mạnh nhất của mình về phòng thủ Trường Sa. 

Và ngay sau lớp chiến hạm phòng vệ này là các công ty dầu hỏa quốc tế đang tìm kiếm dầu khí.
Những mũi khoan đầu tiên

Nửa cuối năm 1974, Pecten tiến hành khoan 4 giếng Hồng-1X, Dừa-1X, Dừa-2X, Mía-1X bằng giàn khoan Ocean Prospecter nửa chìm (semi - submersible). Do dông bão trên Biển Đông, giữa tháng 8-1974, ống khoan mới bắt đầu được hạ xuống biển. 

Báo chí Sài Gòn bám sát sự kiện này, viết nhầm giếng Hồng-1X, lô 08, thành Hồng 9 do suy diễn từ chữ số La Mã, trong khi chính xác thì 1 là số thứ tự giếng thứ nhất, còn X viết tắt từ Exploration có nghĩa thăm dò.

Cái tên Hồng 9 báo chí đặt vừa đẹp vừa may mắn, nhưng ở độ sâu 1.609m, mũi khoan của Pecten chỉ thu được ít dầu tàn dư, không đạt trữ lượng khai thác thương mại. Pecten sau đó cho biết đây là giếng khô, không có dầu công nghiệp, giàn khoan sẽ chuyển sang vị trí khác.

Riêng giếng Dừa-1X sang ngày 2-9-1974 mới được Pecten bắt đầu khoan với kế hoạch độ sâu cuối cùng khoảng 4.500m. Công việc ban đầu khá thuận lợi. Sau 3 ngày, tức ngày 5-9, mũi khoan xuống độ sâu 1.200m, ngày 19-9 xuống 3.000m. Đến ngày 10-10, mũi khoan xuống sâu tới 4.000m, chỉ còn cách đích 500m. Pecten thử vỉa thu được kết quả 2.200 thùng dầu thô/ngày và 480.000m3 khí. 

Trong khi Pecten tạm trám giếng này lại, chờ tính toán khai thác, báo chí Sài Gòn giật tin nóng: Giếng Dừa 9 (thật ra là Dừa-1X) tìm thấy mỏ dầu có trữ lượng 1 tỉ thùng đủ để khai thác hơn 30 năm. Ngày 6-11-1974, giàn khoan của Pecten đến giếng Mía-1X ở lô 06. Mũi khoan đã đạt độ sâu 3.600m và tìm thấy dấu vết dầu, nhưng Pecten đã trám lại mà không thử vỉa...

Mũi khoan thứ 4 và cũng là mũi khoan cuối cùng của Pecten được thực hiện tại giếng Dừa-2X, vị trí chỉ cách giếng Dừa-1X gần 2 km - nơi đã tìm thấy 2.200 thùng dầu một ngày. Kế hoạch chi tiết của Pecten gửi về Ủy ban Quốc gia dầu hỏa VNCH khá lạc quan: sẽ khoan đến độ sâu 4.300m để thẩm lượng, chuẩn bị khai thác dầu thương mại. 
Tuy nhiên, đến giữa tháng 4-1975, mũi khoan vẫn chưa hoàn thành thì Pecten phải nhổ neo di dời giàn khoan trước tình hình chiến sự ngày càng áp sát Sài Gòn. Chính phủ VNCH sụp đổ cũng có nghĩa là hợp đồng ký kết với Pecten không còn hiệu lực nữa.

Trong khi đó, ngày 20-1-1975, mũi khoan của Mobil xuống đến độ sâu 2.000m của giếng Bạch Hổ-1X trong lô 04, bể Mekong. Ngày 11-2-1975, Mobil thử vỉa ở độ sâu 3.000m, thu được 430 thùng dầu một ngày và 5.600m3 khí đồng hành. Bảy ngày sau, họ lại thử vỉa lần thứ hai và tiếp tục thu được 2.400 thùng dầu và 25.000m3 khí đồng hành. 

Kết quả này được liên doanh Mobil - Kaiyo đánh giá rất triển vọng. Họ chuẩn bị các tiến trình để đi đến giai đoạn khai thác dầu khí thương mại, như khoan thêm mũi thử nghiệm kích thước mỏ, trữ lượng. Mobil dự kiến chỉ cần ba năm, tức khoảng năm 1977, họ sẽ khai thác được dầu thương mại tại mỏ này.
Niềm vui dở dang

Tin vui được gửi nhanh về Sài Gòn. Việt Tấn Xã tường thuật: "Hôm nay, 15 giờ, thứ hai, ngày 24-2-1975, tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã rời Sài Gòn đi quan sát giếng dầu Bạch Hổ-1X khoan cách Sài Gòn chừng 200 cây số về hướng đông nam trên thềm lục địa Việt Nam... 

Cùng tham dự với tổng thống hôm nay có thủ tướng chính phủ Trần Thiện Khiêm, ông tổng trưởng kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng, ông tổng cuộc trưởng Dầu hỏa và khoáng sản Trần Văn Khởi và ông tổng giám đốc Mobil Vietnam Peter Gelpke".

Sau kết quả thăm dò tốt đẹp ở giếng Bạch Hổ-1X, Mobil cho dời tàu khoan Glomar IV đến khoan giếng Đại Hùng-1X ở lô số 03. Kế hoạch của Mobil thông báo với Sài Gòn là sẽ khoan đến độ sâu gần 4.000m, thời gian khoan dự kiến tối đa 2,5 tháng. Tuy nhiên, cũng như mũi khoan ở giếng Dừa-2X phải dừng giữa chừng vì hồi kết chiến cuộc, mũi khoan ở Đại Hùng-1X này chỉ xuống được độ sâu 1.819m thì dở dang. 

Mobil phải đình chỉ tất cả công việc trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam giữa tình hình nóng bỏng một tuần trước ngày 30-4-1975. Glomar nhổ neo, thu ống khoan, di chuyển về cảng Singapore. Các công ty khác như Esso, Sunningdale chưa kịp khoan giếng nào và đỡ chịu thiệt hại hơn Mobil và Pecten quá nhanh chân đi trước.
Bước ngoặt lịch sử đã làm sụp đổ chính phủ VNCH ở miền Nam Việt Nam, kết thúc "giấc mơ dầu hỏa sẽ thay đồng tiền viện trợ Mỹ, để bảo vệ và phát triển miền Nam". Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn ngủi, ngành dầu hỏa Sài Gòn cũng làm được rất nhiều việc. Đặc biệt là chỉ nửa năm trước ngày 30-4-1975, sáu giếng khoan đã được thực hiện để thăm dò dầu hỏa trên thềm lục địa miền Nam. 

Trong đó, giếng Bạch Hổ-1X đã tìm thấy dòng dầu thương mại và được chuẩn bị kế hoạch khai thác quy mô công nghiệp vào năm 1977. Giếng Dừa-1X cũng phát hiện dòng dầu có khả năng thương mại. Giếng Hồng-1X thì có dấu vết dầu.

Bạch Hổ, mỏ dầu chủ lực quyết định thành - bại của ngành dầu khí Việt Nam, được tìm thấy từ trước 30-4-1975.

Khi chiến tranh Việt Nam gần đến hồi kết, các công ty dầu quốc tế rút lui. Bạch Hổ nằm yên dưới đáy biển suốt hơn một thập niên cho đến ngày được bùng lên để khai thác.

Đạo luật dầu hỏa tham khảo Iran

Thập niên 1960, nhiều quốc gia trong khu vực đã khai thác được dầu thương mại để làm giàu. Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu rất hiểu điều này.

Kinh tế VNCH thời chiến chưa có gì ngoài một nền nông nghiệp lỗ chỗ lỗ bom, pháo và nông dân luôn nhấp nhỏm chạy nạn chiến sự.

Nhưng nhìn ra Biển Đông, Việt Nam có thềm lục địa rộng lớn, nhiều người biết chắc chắn nơi ấy có tài nguyên dầu khí...

Đạo luật 011

Tuy nhiên, để khởi động được nền công nghiệp dầu khí dù chỉ là bước đầu thăm dò, phải có cơ sở pháp lý. Một đạo luật dầu hỏa là không thể thiếu. Có nó mới có thể đàm phán được với các công ty dầu quốc tế, nhất là các công ty Mỹ.

Đặc biệt, đạo luật này vô cùng cần thiết để VNCH bảo vệ được quyền lợi của mình và xây dựng nền hạ tầng nhân - vật lực phục vụ cho ngành dầu khí.

Một số đạo luật dầu hỏa của các nước được nghiên cứu, nhưng cuối cùng chính quyền Sài Gòn chọn đạo luật của Iran để tham khảo xây dựng đạo luật cho riêng mình. Bởi Iran có nền công nghiệp dầu hỏa rất lớn, nhưng lại khởi đầu phụ thuộc vào phương Tây với nhiều kinh nghiệm mà miền Nam Việt Nam có thể học hỏi.

Các chuyên gia Hồ Mạnh Trung, Võ Anh Tuấn thuộc Nha Tài nguyên thiên nhiên, Bộ Kinh tế VNCH, được giao chủ trì soạn thảo bộ luật mới mẻ này. Nền tảng đạo luật là hợp đồng đặc nhượng.

Một nguyên tắc cơ bản mà những nước có tiềm năng dầu hỏa phải áp dụng khi phụ thuộc vào các công ty quốc tế có tiềm năng tài chính, khoa học và kỹ thuật để khai thác được.

Nguyên tắc hợp đồng đặc nhượng đó là các công ty dầu khí quốc tế phải trả cho VNCH hai khoản thuế chính: nhượng tô 12,5% (tiền thuê đất) và thuế lợi tức 45-55% số lượng dầu sản xuất.

Đạo luật cho phép thời gian các công ty tìm kiếm dầu khí là 5 năm, có thể gia hạn thêm 5 năm; riêng thời gian sản xuất là 30 năm, có thể gia hạn thêm 10 năm...

Lần đầu tiên soạn thảo và chưa từng có trải nghiệm để chỉnh sửa nhưng đạo luật dầu hỏa VNCH được giới chuyên môn đánh giá khá chặt chẽ, chú trọng quyền lợi quốc gia. Toàn bộ đạo luật gồm 6 chương với 66 điều.

Nội dung là những quy định cụ thể, chi tiết về việc thăm dò, khai thác dầu hỏa trên thềm lục địa và trên lãnh thổ VNCH từ vĩ tuyến 17 trở vào. Quyền đặc nhượng cho các công ty dầu hỏa do thủ tướng Chính phủ VNCH quyết định.

Theo đó, các công ty quốc tế xin được cấp quyền đặc nhượng bắt buộc phải đóng trước 500 USD (hoặc 137.000 đồng tiền Sài Gòn). Số tiền nhỏ ban đầu này được gọi là tiền đăng ký chữ ký.

Sau khi hợp đồng đặc nhượng được ký kết và tiến hành thăm dò, khai thác, họ còn phải đóng thêm các khoản tiền lớn bất khả hoàn cho Chính phủ VNCH.

Đạo luật quy định cụ thể diện tích đặc nhượng tìm kiếm dầu hỏa được chia thành từng nhượng địa, mà sau này thường gọi là lô. Mỗi nhượng địa không quá 20.000km2. Mỗi công ty không được cấp quá 5 nhượng địa, tức không quá 100.000km2.

Quy định này để có nhiều công ty tham gia, cạnh tranh với nhau cũng như tránh dẫn đến tình trạng chính phủ và ngành dầu hỏa quốc gia phải phụ thuộc quá nhiều vào sự độc quyền của một công ty quốc tế.

Thời hạn quyền đặc nhượng tìm kiếm có thể biến động tùy theo từng trường hợp đàm phán hợp đồng, nhưng kéo dài trong khoảng 5-15 năm.

Đặc biệt, riêng quyền đặc nhượng khai thác dầu hỏa Chính phủ VNCH xét cấp cho mỗi nhượng địa không quá 5.000km2 trong thời hạn không dài hơn 40 năm.

Thành lập Ủy ban quốc gia dầu hỏa

Sau một thời gian dài nghiên cứu, soạn thảo và lấy ý kiến, ngày 1-12-1970, ông Thiệu ký ban hành đạo luật dầu hỏa VNCH số 011/70.

Tháng 6-1971, tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc công bố sẽ cấp quyền đặc nhượng tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu mỏ tại thềm lục địa với thể thức đấu thầu.

Toàn bộ vùng này nằm trong thềm lục địa miền Nam Việt Nam, được chia thành 61 nhượng địa, tức 61 lô. Trong đó 60 nhượng địa có diện tích tương đối bằng nhau, riêng nhượng địa thứ 61 rộng hơn với tổng diện tích khoảng 300.000km2.

Chính phủ VNCH sử dụng kết quả đo đạc địa vật lý lần thứ hai, năm 1970, của Công ty Ray Geophycical Madrel trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam để làm cơ sở cho các công ty đấu thầu...

Tính từ thời điểm soạn thảo đạo luật dầu hỏa, chiến tranh ngày càng leo thang khốc liệt, nhưng các bước tiến nỗ lực thăm dò, khai thác dầu hỏa của VNCH được đánh giá là rất nhanh chóng. Ngay khi đạo luật dầu hỏa có hiệu lực, Ủy ban quốc gia dầu hỏa VNCH cũng được thành lập.

Ngày 7-1-1971, chỉ một tháng sau khi đạo luật được phê chuẩn, thủ tướng Trần Thiện Khiêm ký sắc lệnh số 003-SL/KT thành lập Ủy ban quốc gia dầu hỏa. Chủ tịch ủy ban này cũng chính là tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc.

Đến tháng 6-1974, Chính phủ VNCH tiếp tục thành lập Tổng cuộc Dầu hỏa và khoáng sản để đẩy nhanh tiến độ khai thác, thăm dò dầu hỏa. Trụ trở tổng cuộc đặt tại số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, nơi là văn phòng cũ của Nha Tài nguyên thiên nhiên.

Tổng cuộc có năm phòng trực thuộc để làm việc, gồm Cuộc dầu hỏa, Nha kế hoạch huấn luyện, Cuộc khoáng sản, Trung tâm nghiên cứu địa chất, Nha hành chánh và kế toán. Trong đó, kỹ sư địa chất Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách Cuộc dầu hỏa, kỹ sư phụ dầu khí Phí Lê Sơn đảm nhiệm Nha kế hoạch huấn luyện.

Từ năm 1967, Cơ quan Hải dương học Mỹ khảo sát toàn bộ thềm lục địa Việt Nam. Tiếp đó, Alping Geophysical Corporation cũng triển khai nghiên cứu...

Khảo sát dưới đáy biển

Năm 1968. Vài chiếc máy bay của không quân Mỹ lặng lẽ làm nhiệm vụ bí mật. Chúng không mang bom và bay ngược ra Biển Đông. Phi hành đoàn cũng khá đặc biệt. Họ mặc đồ dân sự, mang theo các máy chụp ảnh và thiết bị chuyên dụng để đo từ hàng không.

Đó là phi đội "địa vật lý" hàng không (Airborne Geophysics). Đây là nhiệm vụ bí mật. Chính quyền Sài Gòn không công bố. Thi thoảng họ mới hé chút thông tin cho báo chí để phục vụ mục đích chính trị.
Cùng trong năm 1968, bên cạnh không quân Mỹ, các công ty khảo sát hải dương của Anh cũng tham gia khảo sát biển Nam Việt Nam. Sang năm 1969, Naval Oceanographic Office đã thực hiện khảo sát vùng vịnh Thái Lan và Biển Đông với chiều dài hơn 16.000km mạng lưới tuyến. 

Ray Geophysical Mandrel cũng gấp rút đo địa vật lý hơn 3.480km tuyến ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam.

Đặc biệt, sang năm 1970, lúc đạo luật dầu hỏa VNCH chuẩn bị được ban hành, Mandrel lại tiếp tục thực hiện đợt khảo sát lần thứ hai với quy mô lớn hơn trước. Bản đồ khảo sát dọc theo bờ biển miền Nam Việt Nam và phía Nam Biển Đông.

Lần này Mandrel áp dụng các kỹ thuật khảo sát địa vật lý hiện đại nhất lúc bấy giờ là địa chấn, từ và trọng lực. Hơn 8.400km tuyến đã được khảo sát. 

Đợt này ngân khố Chính phủ Sài Gòn không phải tốn đồng nào. Một nhóm công ty dầu hỏa của Mỹ, Anh đã bỏ tiền thuê Mandrel khảo sát. 

Lý do chính để những nhà tài phiệt dầu hỏa chịu chi là do họ tiếp cận được các kết quả khảo sát sơ bộ từ năm 1968 của không quân Mỹ và các công ty hải dương Anh.

Khảo sát đã dẫn đến kết quả đánh giá sơ bộ có một tầng trầm tích dày 3-4km với kiến tạo khá thuận lợi cho khả năng chứa dầu.

Sau đợt khảo sát thứ hai vào năm 1970 của Mandrel và một số công ty khác, kết luận về tầng trầm tích dày hơn 2km dưới thềm lục địa Nam Việt Nam gần như là chắc chắn. 

Các số liệu khảo sát địa vật lý đã chỉ dẫn ba bồn trầm tích có thể chứa dầu là Sài Gòn - Brunei (sau này gọi là bể Nam Côn Sơn), Mekong (bể Cửu Long), vịnh Thái Lan (bể Malay - Thổ Chu).

Đến thời điểm này, chính quyền Sài Gòn đã nhìn thấy rõ ràng dấu hiệu lạc quan của ngành dầu hỏa mà mình vừa khởi động chưa được bao lâu.

Họ hi vọng nếu tiến hành khai thác sớm, nền kinh tế miền Nam Việt Nam sẽ rẽ sang một bước ngoặt mới và chắc chắn không còn phải quá phụ thuộc vào túi tiền viện trợ Mỹ.

Mỏ dầu Bạch Hổ: Tìm bể dầu dưới thềm lục địa - Ảnh 2.
Bản đồ các bể trầm tích có thể chứa dầu ở Biển Đông - Ảnh: TĐDKVN

Những cuộc "đi đêm" của Conoco

Từ năm 1970, các số liệu khảo sát bắt đầu được công khai. Chính quyền Sài Gòn muốn cho cả thế giới thấy "tiềm năng giàu có" của VNCH và mời gọi các công ty quốc tế vào đầu tư thăm dò, khai thác. 

Conoco, công ty dầu hỏa của Mỹ, nhanh chóng đến sớm. Họ có những buổi làm việc con thoi với các quan chức chính quyền Sài Gòn.

Conoco muốn được giao những lô đặc nhượng lớn ngoài thềm lục địa miền Nam Việt Nam để có thể thăm dò, khai thác tối ưu trong lâu dài. 

Đồng thời, họ cũng "cảnh báo" Sài Gòn không nên tin tưởng và giao nhượng địa cho các trùm dầu hỏa thế giới như Shell, Esso. Các công ty khổng lồ này đang bận rộn với các quốc gia Trung Đông và nhiều khu vực khác. Họ có thể chỉ "xí chỗ" để đó. Sài Gòn sẽ chỉ dài cổ đợi mà chẳng được gì. 

Đặc biệt, họ cũng "khuyên" Sài Gòn không nên quá quan tâm đến khoản tiền "hoa hồng chữ ký" khi mời thầu, mà phải buộc các nhà thầu nhanh chóng thăm dò, khai thác.

Cuối cùng, Conoco nói rõ là muốn được giao một lô lớn từ 10.000km2 hoặc hơn nữa. Việc này chỉ nên thương lượng riêng giữa Conoco và Chính phủ Sài Gòn, không cần qua đấu thầu cạnh tranh với các công ty khác.

Các nhà lãnh đạo chính quyền Sài Gòn hoãn binh, không vội lắc hay gật trước đề nghị của Conoco. Trong khi đó, họ đẩy nhanh tiến độ thực hiện một cuộc chào thầu lớn ra công ty dầu hỏa quốc tế. Các thể thức hợp tác khai thác quốc tế trong OPEC được nghiên cứu kỹ.

Trong đó có thể thức hợp đồng phân chia sản phẩm như Iran, Indonesia đã thực thi; hợp đồng dịch vụ Iran, Venezuela; hợp đồng điều hành như Algeria. 

Trong các hợp đồng phân chia sản phẩm và dịch vụ, công ty dầu hỏa quốc tế có trách nhiệm khai thác dầu và được chia tỉ lệ dầu sản xuất với nước chủ nhà như 40/60, 25/75.

Nhưng điều mà chính quyền Sài Gòn lưu tâm là kinh nghiệm một số quốc gia khởi đầu ngành công nghiệp dầu hỏa khi hợp tác với công ty quốc tế. Họ học hỏi đủ kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật để tự lập việc thăm dò, khai thác dầu của riêng mình.

Sài Gòn nhìn xa đến tương lai này. Họ không muốn bị các ông trùm dầu hỏa o ép và tài nguyên quốc gia chảy vào túi tiền nhà tài phiệt. 

Mặc dù đạo luật dầu hỏa của VNCH không quy định phải đấu thầu, nhưng các chuyên gia tư vấn người Anh đã khuyên nên đấu thầu công khai để đảm bảo được quyền lợi quốc gia một cách tốt nhất.

HOA HỒNG BAN ĐẦU TRONG VIỆC KHAI THÁC DẦU TRONG THỀM LỊC ĐỊA VNCH

Mùa hè năm 1971 rất nóng. Nhiệt độ ở Sài Gòn hơn 35 độ C. Tiến độ gọi thầu thăm dò, khai thác dầu hỏa được yêu cầu phải đẩy nhanh.

Tháng 2-1974, VNCH công bố đợt gọi thầu khai thác dầu khí thứ hai trên thềm lục địa. Lần này có 33 lô với diện tích mỗi lô khoảng 4.000km2
Ông Nguyễn Văn Vĩnh, giám đốc Cuộc Dầu hỏa thuộc Tổng cuộc Dầu hỏa và khoáng sản Sài Gòn, kể: "Cả sáu người của văn phòng cùng nhau chia sẻ mọi công việc cần phải làm, dịch bản hợp đồng đặc nhượng gốc tiếng Anh sang tiếng Việt. 

Để kịp trình Ủy ban Quốc gia dầu hỏa cứu xét cho việc chuẩn bị đấu thầu, cả nhóm cùng nhau thức hôm thức khuya, nhất là trong giai đoạn thực hiện in roneo hai bản hợp đồng đặc nhượng mẫu bằng tiếng Anh và tiếng Việt...".

Cuộc gọi thầu đầu tiên

Chứng nhân tìm dầu hỏa thời ấy kể tiếp: "Chúng tôi đánh máy, chữa lỗi từng trang stencil đến mờ mắt, quay roneo trên giấy trắng cỡ 21x33cm, in bìa, đục lỗ, đóng thành tập.

Các hợp đồng đặc nhượng mẫu này cùng các văn kiện khác sẽ được trao cho các công ty tham khảo trước khi dự thầu. Toàn bộ các văn bản này đã được văn phòng hoàn tất trong sáu tháng và được Ủy ban Quốc gia dầu hỏa chấp nhận".

Ngày 15-8-1971, 18 công ty dầu hỏa nộp bản trả lời, với ba công ty trong nước và 15 công ty quốc tế.

Ủy ban Quốc gia dầu hỏa trực tiếp xét duyệt tất cả hồ sơ. Cả ba công ty quốc nội đều không đạt yêu cầu. Các công ty nước ngoài được cẩn thận xem xét từng yếu tố như kinh nghiệm, chuyên môn, tình hình tài chính...

Ngày 24-3-1973, Bộ Kinh tế một lần nữa thông báo cấp quyền đặc nhượng tìm kiếm và khai thác dầu. Tổng cộng 19 hồ sơ công ty quốc tế lại gửi tới, như vậy tính chung cả hai đợt đã có 37 hồ sơ.

Tuy nhiên, 10 hồ sơ đã bị Ủy ban Quốc gia dầu hỏa loại vì không đạt yêu cầu. Các công ty dầu hỏa của 27 hồ sơ còn lại được Bộ Kinh tế VNCH mời tham dự một phiên họp giải đáp thắc mắc ở Sài Gòn vào tháng 5-1973.

Ủy ban Quốc gia dầu hỏa cũng thông báo hạn chót nhận hồ sơ dự thầu chính thức là ngày 2-7-1973.

Ngày lịch sử khó quên được ông Nguyễn Văn Vĩnh nhớ lại: "Chờ mãi rồi ngày 2-7-1973 cũng đến. Mọi người vui vẻ chờ đón các công ty dầu quốc tế nhưng suốt buổi sáng không một ai đến nộp hồ sơ.

Buổi chiều cũng vậy. Không biết họ có thay đổi ý định không? Có sự kiện chính trị, quân sự gì quan trọng đang xảy ra không?".

Thế rồi vào lúc 4h chiều, một chiếc ôtô lạ chạy vào cổng. Vị luật sư đại diện của Esso bước ra.

Sau vài lời chào hỏi xã giao, ông ta trao cho ông Khởi, giám đốc tổng cuộc, một phong bì dán kín, dày cộm. Ông Khởi ký ngay trên lằn dán phía sau bao thư rồi mời ông ấy cùng ký.

Ngay sau đó tôi niêm phong, đảm bảo rằng hồ sơ của họ được tuyệt đối giữ kín cho đến khi mở ra cùng một lúc trước sự hiện diện của tất cả công ty và đại diện của họ vào sáng ngày mai...".

Esso, công ty dầu hỏa lớn hàng đầu thế giới, tham gia ngay đợt đấu thầu khai thác dầu khí ở miền Nam Việt Nam - Ảnh tư liệu

Sự tham gia của các ông trùm dầu hỏa

Sáng 3-7-1973 tại phòng khánh tiết Bộ Kinh tế, Ủy ban Quốc gia dầu hỏa mở niêm phong 18 bao thư...
Theo tiêu chí thắng thầu đã đề ra từ đầu, Esso thắng một lô với hoa hồng chữ ký 5 triệu USD. Mobil Oil với 2,5 triệu USD trúng hai lô gần Vũng Tàu và Phan Thiết. Shell Oil với 9 triệu USD trúng ba lô.

Sunningdale (Canada) gặp may chọn hai lô phía nam Mũi Cà Mau không ai cạnh tranh và thắng thầu dù số hoa hồng chữ ký thấp hơn rất nhiều so với các công ty kia. Tổng cộng tám lô này đã mang lại số hoa hồng chữ ký 16,6 triệu USD.

Số tiền này sẽ được các công ty chuyển cho VNCH trong vòng 30 ngày sau khi chính thức hợp đồng và nhận được sắc lệnh cấp quyền đặc nhượng.

Hơn một tháng sau đó, ngày 21-8-1973, buổi lễ ký hợp đồng đầu tiên được Chính phủ VNCH tổ chức ký kết với ba công ty dầu hỏa Esso, Mobil Oil và Sunningdale.

Ông Phạm Kim Ngọc, tổng trưởng Bộ Kinh tế kiêm chủ tịch Ủy ban Quốc gia dầu hỏa, đại diện cho chính phủ, ký kết với ba công ty. Khoảng một tuần sau, Shell cũng chính thức ký hợp đồng.

Lý do hoãn lại của Shell vì cần thời gian đàm phán liên doanh Công ty Cities Cervice để tăng tiềm lực tài chính. Liên doanh này có tên mới là Pecten Vietnam. Hợp đồng ký kết khá chặt chẽ và VNCH bảo đảm được các quyền lợi của mình.

Theo đó, công ty ký hợp đồng phải nộp cho Chính phủ VNCH một tín dụng thư bất khả hoàn của một ngân hàng quốc tế lớn với số tiền cam kết sử dụng thăm dò, khoan dầu. Tín dụng thư của Pecten là 20 triệu USD, Mobil 15 triệu USD, Esso 12 triệu USD.
Tháng 2-1974, VNCH công bố đợt gọi thầu khai thác dầu khí thứ hai trên thềm lục địa. Lần này có 33 lô với diện tích mỗi lô khoảng 4.000km2.

Chính phủ Sài Gòn gửi 50 hồ sơ mời thầu đến các công ty dầu hỏa. Điều kiện hợp đồng khắt khe hơn lần trước.

Nước chủ nhà giữ quyền chủ động hoàn toàn như có quyền điều chỉnh các mức thuế suất, quyền thay đổi các điều khoản hợp đồng, quyền thay đổi mức tham gia hợp tác đầu tư của Việt Nam.

Sau đó, 34 công ty được xác nhận đủ điều kiện đấu thầu. Nhiều nhất là Mỹ với 22 công ty, kế đến Canada năm công ty...

Các công ty lớn đã liên kết lại với nhau thành 10 liên doanh và chín liên doanh đã trúng thầu đợt thứ hai. Trong đó, liên doanh Pecten và Broken Hill trúng một lô, Mobil và Kaiyo Oil (Nhật) trúng hai lô...

Liên doanh trúng nhiều số lô nhất là Canadian Oil and Gas và Conzinc Rio Tinto (Úc) với bốn lô gồm 16.000km2 nhưng sau đã bỏ cuộc.

Tổng số tiền hoa hồng chữ ký mà Chính phủ VNCH nhận được trong đợt này là 29,1 triệu USD.

Nguồn từ Tuổi trẻ Online đưđ đăng nhiều kỳ:
1.https://tuoitre.vn/mo-dau-bach-ho-tim-be-dau-duoi-them-luc-dia-20180428104352142.htm
2.https://tuoitre.vn/mo-dau-bach-ho-nhung-mui-khoan-gap-dau-20180430112144479.htm?fbclid=IwAR3_SkhXoEk9-bjaPohPKmxiH8jaUcOaVgZmif55Sw86qH9CTCqnXxWoWOc
3.https://tuoitre.vn/mo-dau-bach-ho-nhung-goi-thau-trieu-do-20180429120245208.htm